Bốn nhóm chính sách xã hội: Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động; thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tử, kỷ cương trong mọi lĩnh vự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN HỮU KỶ TỴ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Môn: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (MSMH: SP1039)
Nhóm/Lớp: L05 Tên nhóm: 27 HK221 Năm học 2022.
Đề tài:
GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 2015108 Liễu Minh Vương Phần mở đầu, kết luận, Tổng hợp vàchỉnh sửa word 25%
Họ và tên nhóm trưởng: Liễu Minh Vương Số ĐT: 0397538114 Email: Vuong.lieu080519@hcmut.edu.vn
Trang 3ThS Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ
Trang 4MỤC LỤ
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục tiêu nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
1 Quan điểm và chủ trương của Đảng về giải quyết vấn đề việc làm hiện nay 6
1.1 Quan điểm 6
1.2 Chủ trương của Đảng 8
2 Vận dụng 12
2.1 Đánh giá thực trạng 12
2.2 Giải pháp 17
PHẦN KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một đất nước đông dân số, với cơ cấu dân số trẻ, Việt Nam sở hữu một lựclượng lao động đông đảo, thị trường lao động cũng phát triển mạnh mẽ Bên cạnh đóthì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm cũng ngày càng tăng Điều này ảnh hưởngtrực tiếp tiếp đến đời sống của người lao động mà còn tác động rất lớn đến quá trìnhphát triển kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia Vì thế vấn đề lao động và việc làm đã
là một trong những vấn đề luôn được toàn xã hội đặc biệt quan tâm, được Đảng vàNhà nước tập trung giải quyết ngay từ những năm đầu trong thời kỳ đổi mới năm1986
Với quy mô dân số lớn, lực lượng lao động tăng nhanh qua từng năm đã làm phátsinh ra nhiều vấn đề về an sinh xã hội, lao động và việc làm, thất nghiệp, tại đây.Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc ứng dụng những tiến bộcủa khoa học, công nghệ trong nhiều lĩnh vực và quá trình hội nhập kinh tế thế giới đãtạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, nhưng cũng gây ra nhiều tác động đến vấn đề laođộng và việc làm Đặc biệt trong những năm gần đây, kể từ tháng 1 năm 2020 khi đạidịch Covid-19 diễn ra tại nước ta đã gây ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các lĩnh vựckinh tế-xã hội, đặc biệt là vấn đề lao động và việc làm Nó tác động trực tiếp đến tìnhhình lao động việc làm trong tất cả các ngành và trên tất cả các tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương Việc cách ly xã hội trong thời gian dài làm cho nhiều cửa hàng,công ty, xí nghiệp không thể hoạt động, người dân không thể ra đường đã dẫn đến hậuquả là nhiều người bị mất việc làm, vì thế số lượng người dân lao động bị thất nghiệpgia tăng một cách nhanh chóng Hiện nay mặc dù đại dịch đã qua, cuộc sống dần trởlại bình thường, nhưng những hậu quả mà nó để lại là vô cùng nghiêm trọng Để khắcphục và khôi phục lại nền kinh tế, các vấn đề việc làm càng phải được quan tâm và ưutiên giải quyết hàng đầu
Xuất phát từ những tình hình thực tế trên, nhóm chọn đề tài “Giải pháp giải quyết các vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu.
Trang 62 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, quan điểm và chủ trương của Đảng về giải quyết vấn đề việc làm hiệnnay
Thứ hai, thực trạng và giải pháp giải quyết các vấn đề việc làm tại nước ta hiệnnay
3 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: từ những năm đổi mới 1986 đến nay
Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề việc làm ở nước ta hiệnnay
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ những chủ trương của Đảng về giải quyết vấn đềviệc làm trong các giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Thứ hai, nêu rõ những thực trạng, tình hình lao động việc làm đồng thời chỉ ranhững thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm
ở nước ta hiện nay
Thứ ba, từ việc phân tích tình hình thực tế, vận dụng những chủ trương của Đảng
để đưa ra những giải pháp thiết thực trong việc giải quyết các vấn đề việc làm
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu nhất làcác phương pháp: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp;phương pháp lịch sử - logic;…
Trang 7“chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, cần có chính sách cơ
bản, lâu dài, xác định được những nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên Bốn nhóm chính sách xã hội: Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động; thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tử, kỷ cương trong mọi lĩnh vực xã hội; chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hóa, bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân; xây dựng chính sách bảo trợ xã hội” 1 Từ những khẳng định trên, ta có thể thấy được Đại hội VI đã nhận
thức rõ vị trí, vài trò của Nhân dân và các đoàn thể uần chúng đối với việc quản lý vàthực hiện chính sách xã hội, điều nãy đã thể hiện một bước phát triển mới so với quanđiểm trước đây về chủ thể quản lý phát triển xã hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục khẳng địnhtầm quan trọng của phát triển xã hội, vị trí, vai trò của chính sách xã hội và nhấn mạnhmục tiêu của chính sách xã hội trong mối quan hệ với chính sách kinh tế, Đảng đã nêu
ra quan điểm: “Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thuwjch iện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa,
có kỷ cương, xóa bỏ áp lực, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người,
do con người, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhận, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
1 Bộ giáo dục và Đào tạo Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr 263
Trang 8ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu thập hợp pháp”2 Qua những quan điểmcủa Đảng được nêu ra ở Đại hội VII, ta có thể nhận thấy Đảng đã nhận thấy được mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội được Đảng xác định một cách rõ ràng.
Từ giai đoạn 1996 cho đến nay, Đảng ta vẫn không ngừng tiếp tục đổi mới và đềcao tầm quan trọng của yếu tố xã hội trong con đường phát triển Trong giai đoạn này,điểm đặc trưng là Đảng ta đã cho thấy được tầm quan trọng của nền văn hóa Việt Namvới yếu tố xã hội, đặc trưng là ở Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã ban hành Nghịquyết số 03-NQ/TƯ ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với quan điểm: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nên văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi
là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên” 3Qua những quan điểm trên, ta có thể thấy được nhữngbước tiến trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển xã hội và quản lý phát triển xãhội đã đem lại những thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,trong đó có những thành tựu vượt bậc về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
1.2 Chủ trương của Đảng
1.2.1 Giai đoạn 1986 – 1991
Đại hội Đảng lần thứ VI (12 - 1986) xác định quyết tâm: “Đảng phải đổi mới về
nhiều mặt… đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nhân dân… đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống
2 Bộ giáo dục và Đào tạo Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam NSB Chính trị quốc gia Sự thật, tr 276
3 Bộ giáo dục và Đào tạo Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr 294
Trang 9còn”4 Trên cơ sở khẳng định quan điểm ấy, việc phục vụ con người là mục đích caonhất trong mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, lần đầu tiên văn kiện Đại hội VI đưa
ra khái niệm chính sách xã hội, thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng Nội hàm củachính sách xã hội được xác định là: Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sốngcon người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đinh,quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc …
Về mối quan hệ giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế, Đảng xác định:trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưngnhững mục tiêu xã hội lại là mục đích của hoạt động kinh tế ngày trong khuôn khổcủa hoạt động kinh tế, chính sách xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm, là một nhân tố quan trọng để phát triển sản xuất Do đó,cần có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định được những nhiệm vụ, mục tiêuphù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên Đồng thời Đảng cũngcũng đưa ra chủ trường tiến tới xóa bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội vàđấu tranh kiên quyết chống những hiện tượng tiêu cực làm cho những nguyên tắc côngbằng xã hội và lối sống lành mạnh được khẳng định trong cuộc sống hằng ngày của xãhội
Từ những quan điểm nêu trên, Đại hội VI đã đề ra chủ trương về giải quyết cácvấn đề xã hội như: Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số, coi đầy là một điều kiện quangtrọng để tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người, để thực hiện các mục tiêu kinh
tế - xã hội; Đảm bảo việc làm cho người lao động là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàngđầu Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tạo raviệc làm bằng cách khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, khai thác mọi tiềm năngcủa các thành phần kinh tế khác, kể cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân Ban hành vàthực hiện Luật lao động; Đảm bảo cho người lao động có thu nhập thỏa đáng phụthuộc trực tiếp vào kết quả lao động, có tác dụng khuyến khích nhiệt tình lao động;Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân Đồng thời đó, Đảng cũng chủtrương nâng cao chất lượng của các hoạt động y tế và đã đạt được những tiến bộ rõ rệt
4 Tulieuvankien.dangcongsan.vn (24/2/2017) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Truy cập từ: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vi/nghi- quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vi-cua-dang-1493
Trang 10trong việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân thông qua các chính sách bảo trợ xã hộiđối với nhân dân, theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Như vậy, chủ trường của Đại hội VI về lĩnh vực xã hội, tập trung vào các vấn đề:lao động và việc làm, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện kế hoạch hóagia đình, chăm lo người có công với cách mạng, phòng chống các tệ nạn xã hội, …trong đó, tư duy mới của Đảng thể hiện thông qua các chủ trương: giải quyết chínhsách xã hội là nhiệm vụ gắn bó hữu cơ với đổi mới kinh tế, vấn đề lao động, việc làmđược giải quyết gắn với phát triển nhiều thành phần kinh tế, vấn đề lao động, việc làmđược giải quyết gắn với phát triển nhiều thành phần kinh tế, nâng cao đời sống củanhân dân gắn với thực hiện ba chương trình kinh tế lớn
1.2.2 Giai đoạn 1991 – 1996
Đại hội Đảng lần thứ VII (6 - 1991) và Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ khóa VII (1-1994) chủ trương: “tăng cường xây dựng các luật nhằm bảo vệ lợi ích
hợp pháp của người lao động, vừa khuyến khích đầu tư phát triển, vừa hạn chế bất công xã hội Từng bước nhận thức rõ hơn về nhiều hình thức phân phối, bên cạnh phân phối theo lao động, còn có chính thức phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh Đẩy mạnh đào tạo tay nghề, mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn lao động, có chính sách ưu đãi hợp lý hơn về nhiều mặt để tạo điều kiện cho người nghèo vươn lên làm đủ sống và trời thành khà giả Khuyến khích làm giàu chính đáng đi đổi với tích cực xóa đói giảm nghèo Có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, thuế, đào tạo nghề để tạo điều kiện cho người nghèo có thể tự mình vươn lên”5
Thực tế cho thấy, chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội được đề ra ở Đại hộiVII và các hội nghị Trung ương Đảng khóa VII tiếp tục khẳng định múc tiêu của chínhsách xã hội là thống nhất với mục tiêu phát triện kinh tế và đều phục vụ mục tiêu pháttriển con người, phát triển xã hội; coi phát triển kinh tế là cơ sở để thực hiện các chínhsách xã hội và việc thực hiện tốt các chính sách xã hội chính là động lực phát triểnkinh tế, đó là những nhân tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững, Mặt khác, thể hiện
sự đổi mới tư duy của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh từ
5 Tulieuvankien.dangcongsan.vn (15/4/2018) Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (20 – 25/1/1994) Truy cập từ: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/ lan-thu-vii/hoi-nghi-dai-bieu-toan-quoc-giua-nhiem-ky-khoa-vii-20-2511994-15
Trang 11việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế mới như: xác lập nguyên tác chi trả tiềnlương, tiền công theo kết quả lao động là chủ yếu; xây dựng quỹ bảo hiểm xã hộichung của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế; xác định giải quyết việc làm
là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi thành phần kinh tế …
1.2.3 Giai đoạn 1996 – 2001
Từ thực tế triển khai thực hiện chính sách xã hội, Đại hội VIII của Đảng (6 1996) đã tổng kết thành các quan điểm định hướng xây dựng và phát triển xã hội như:
-“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước
và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình; Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo; Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Các vấn đề xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, … cũng tham giai giải quyết những vấn đề xã hội”6
Từ các quan điểm đó, ta có thể thay được Đảng đã cơ bản định hình được mộtcách tổng thể tư duy lý luận về giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới nóvừa thích ứng với nhu cầu tạo động lực cho sự phát triển bền vững, vừa hướng tới giátrị công bằng và tiến bộ xã hội Qua đại hội Đảng lần thứ VIII, ta có thể thấy được cácchính sách xã hội đã có sự thay đổi Chính sách lao động và việc làm đã gắn kết vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, phát triển sản xuất Chính sách xóa đói giảmnghèo được đưa lên hàng đầu Ưu đãi người có công được luật hóa bằng Pháp lệch doQuốc hội ban lệnh với những chế độ trợ cấp ưu đãi đặc biệt Bảo vệ và chăm sóc sứckhỏe cho nhân dân được đảm bảo bằng mở rộng mạng lưới y tế đến cộng đồng dân cư,thực hiện chế độ bảo hiểm y tế
6Tulieuvankien.dangcongsan.vn (16/4/2018) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Truy cập từ:
bieu-toan-quoc-lan-thu-viii-cua-dang-13
Trang 12https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-viii/dai-hoi-dai-1.2.4 Giai đoạn từ 2001 đến nay
Đại hội Đảng lần thứ IX (4 - 2001) và các hội nghị Trung ương khóa IX đã cụ thểhóa và bổ sung các quan điểm về chính sách xã hội của Đại hội VIII, với những nội
dung cơ bản: “giải quyết chính sách xã hội phải gắn liền với quá trình xây dựng thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Coi trọng công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ xã hội, đặc biệt là công bằng trong thụ hưởng dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế, với việc tạo cơ hội cho những đối tượng, những vùng còn khó khăn có
cơ hội được chăm sóc tốt hơn; Xã hội hóa việc giải quyết các vấn đề xã hội, động viên toàn xã hội tham gia giải quyết các vấn đề xã hội; Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội”7
Nhìn tổng thể, kể từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam vềgiải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: từ chỗ không đặt đúngtầm quan trọng của chính sách xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính sách kinh
tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội Từ chỗ Nhà nước baocấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơchế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm
Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu – nghèo đã đi đến khuyến khích mọingười làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo
2 Vận dụng
2.1 Đánh giá thực trạng
2.1.1 Thành tựu, nguyên nhân
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp và chính sách đồng
bộ nhằm phát triển thị trường lao động và giải quyết việc làm Các văn bản pháp luậtkhác như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, đã khuyến khích các thành phần kinh tếtrong và ngoài nước đầu tư, phát triển kinh tế, tạo việc làm Nhận thức về việc làm vàtạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản Nếu như trước đây quan niệm phổ biến làNhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay
đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã
7Tuyên giáo (21/1/2021) Tháng 4-2001: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Truy cập từ:
https://tuyengiao.vn/ban-can-biet/thang-4-2001-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-ix-cua-dang-131761