Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.” Đã thỏa đúng các khoản trên tại điều 630 thì p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÌNH SỰ
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ BUỔI 6: QUY ĐỊNH VỀ DI CHÚC
GVHD: ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
THÀNH VIÊN THỰC HIỆN
Lâm Thảo Hiền – 2153801013089 Phạm Thị Mai – 2153801013147Hiao Hiêng – 2153801013091 Trần Minh Trúc Mai – 2153801013148Nguyễn Hoàng Huy – 2153801013097 Đoàn Hoàng Thảo Minh – 2153801013149
Võ Quang Huy – 2153801013098 Lê Tuấn Minh – 2153801013150Chu Thị Ngọc Huyền – 2153801013099 Trần Công Minh – 2153801013153Phạm Ánh Thu Huyền – 2153801013104 Trần Viết Lâm – 1953801015101
LỚP: HS46A2 – NHÓM 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 4 NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 1
Tóm tắt Bản án số 83/2009/DSPT ngày 28/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên 1Tóm tắt Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 2Câu 1: Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 2Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời 4Câu 3: Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao? 4Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức
di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết tay 5Câu 5: Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào? 6Câu 6: Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời? 6Câu 7: Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật? 6Câu 8: Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu? 7Câu 9: Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu? 8Câu 10: Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao? 8Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúccủa người không biết chữ 9
VẤN ĐỀ 2: TÀI SẢN ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT THEO DI CHÚC 10
Tóm tắt Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 10Tóm tắt Quyết định số 58/2018/DS-GĐT ngày 27-9-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Hà Nội 11
Trang 3Câu 1: Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời? 11Câu 2: Đoạn nào của Quyết định số 359 cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc
là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương? 11Câu 3: Tòa án đã công nhận phần nào của di chúc? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời? 11Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 12Câu 5: Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của di chúc có giá trị pháp lý? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời 13Câu 6: Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý không? Vì sao? 13Câu 7: Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy quyền sử dụng đất của cụ C và cụ D đã bị thu hồi trước khi hai cụ chết? 14Câu 8: Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm xác định di sản của cụ
C và cụ D là quyền sử dụng đất? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định vừa nêu của Tòagiám đốc thẩm? 14Câu 9: Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm theo hướng cụ C và cụ
D được định đoạt theo di chúc giá trị quyền sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi? Suy nghĩ của anh/chị về hướng vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm 14
VẤN ĐỀ 3: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 15
Tóm tắt Bản án 14/2017/DSST ngày 28/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện C tỉnh Phú Thọ về việc tranh chấp thừa kế theo di chúc 15Câu 1: Đoạn nào của bản án số cho thấy di chúc có tranh chấp là di chúc chung của vợ chồng? 16Câu 2: Theo Tòa án, di chúc chung của vợ chồng có giá trị pháp lý khi áp dụng BLDS
2015 không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời 16Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về di chúc chung của vợ chồng trong mối quan hệ với BLDS 2015 16
VẤN ĐỀ 4: DI SẢN DÙNG TRONG VIỆC THỜ CÚNG 17
Tóm tắt Bản án số 211/2009/DSPT ngày 16/9/2009 của Tòa án nhân dân Huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 17
Trang 4Câu 1: Trong điều kiện nào di sản dùng vào việc thờ cúng có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 18Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy di sản có tranh chấp được di chúc dùng vào việc thờ cúng? 18Câu 3: Các điều kiện để di sản dùng vào việc thờ cúng một cách hợp pháp có được thỏa mãn trong vụ việc đang nghiên cứu không? 19Câu 4: Ai đồng ý và ai không đồng ý chia di sản dùng vào việc thờ cúng trong vụ tranh chấp này? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 19Câu 5: Cuối cùng Tòa án có chấp nhận chia di sản đã được di chúc dùng vào việc thờ cúngkhông? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 19Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về chế định di sản dùng vào việc thờ cúng trong BLDS và giảipháp của Tòa án trong vụ việc đang được nghiên cứu 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 PGS.TS.Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (Tái
bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, 2021
2 Đỗ Văn Đại, Luật Thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức,
2019
3 Bộ luật Dân sự năm 2015
4 Bộ luật Hôn nhân và Gia đình 2014
5 Luật đất đai 2013 (sửa đổi bổ sung 2018)
Trang 5VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC
Tóm tắt Bản án số 83/2009/DSPT ngày 28/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;
Nguyên đơn là ông Nguyễn Thành Hiếu, Bị đơn là bà Đặng Thị Trọng và các bên có liên
quan (bà Sinh, anh Việt, anh Toản, anh Trung, chị Rơi, chị Sương, vợ chồng ông NguyễnChia, bà Nguyễn Thị Phước; ủy quyền cho ông Nguyễn Thành)
Ngày 19/12/2007 ông Này (cha của ông Hiếu) có lập di chúc cho ông Hiếu toànquyền thừa kế sử dụng lô đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG67735, diện tích225m2, thuộc tờ bản đồ số 08, thửa số 83 được UBND huyện Sông Hinh cấp ngày02/5/2007, đứng tên ông Này bà Trọng Sau khi ông Này chết, bà Trọng yêu cầu đưa sổ đỏcủa 2 vợ chồng nhưng Hiếu có thái độ hỗn láo nên bà đuổi 03 anh em Trung, Hiếu, Việt rakhỏi nhà không cho hành nghề và bà Trọng tự nguyện đưa cho Hiếu 80.000.000 đồng vìnghĩa tình, nhưng Hiếu không chịu, yêu cầu bà Trọng đưa 120.000.000 đồng Bà Trọng đềnghị bác bỏ di chúc vì không hợp pháp, chia di sản theo pháp luật, xin nhận nhà đất và cótrách nhiệm thối lại chênh lệch cho các thừa kế Chị Sinh, chị Sương, chị Rơi và anh Toản
có nguyện vọng nếu Hiếu được chia thì cũng xin được hưởng phần Anh Trung, anh Việtkhông yêu cầu hưởng tài sản Ông Chìa (cha ông Này), em gái và em trai ông Này là ngườilàm chứng ông Này đã lập di chúc để nhà đất lại cho ông Hiếu, ngoài ra vợ chồng ông Chìakhông yêu cầu hưởng di sản Sau khi xét thấy mối quan hệ của bà Trọng và ông Này là hônnhân hợp pháp nên việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của 2 vợ chồng phải có sự thỏathuận của 2 bên
Vì giấy thừa kế của ông Này viết không được chính quyền địa phương công chứng,chứng thực nhưng được lập trong lúc ông Này còn minh mẫn, sáng suốt không bị lừa dối, đedọa, cưỡng ép và có nhiều người làm chứng nên được coi là di chúc hợp pháp Nhưng vì làtài sản chung của 2 vợ chồng ông Này, bà Trọng nên ông Này chỉ có thể giao quyền thừa kế
½ căn nhà cho ông Hiếu, ½ còn lại là phần của bà Trọng, vì chia hiện vật không bảo đảmđiều kiện sinh hoạt nên đã chia bằng giá trị, căn nhà, toàn bộ tài sản và quyền sử dụng đấtđược giao cho bà Trọng
Trang 6Tóm tắt Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn là ông Đỗ Văn Quang yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế tàisản với bị đơn là bà Hoàng Thị Ngâm Ông Quang cho rằng di chúc của cụ Đỗ Thị Hựu lậpnăm 1998 mà bà Ngâm xuất trình với nội dung để lại di sản là 03 thửa đất ở huyện ĐôngAnh, Hà Nội cho bà Ngâm và bà Lựu là không hợp pháp; đồng thời ông yêu cầu Tòa hủybản di chúc này, chia di sản của cụ Hựu theo pháp luật, bao gồm cả phần tài sản trong khối
di sản mà bà Ngâm đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn Xanh ngày 24/9/2006
Theo bà Ngâm, 03 thửa đất tranh chấp là của dòng họ Đỗ Năm 2004, 2005 bà đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với 03 thửa đất này Do đó, bà không đồng ý vớiyêu cầu của ông Quang, nếu phải chia thừa kế, bà yêu cầu Tòa phải công nhận di chúc của
cụ Hựu và tính cho bà các công tôn tạo, quản lý khối di sản; công chăm sóc cho cụ Hựu khi
cụ còn sống cũng như lo mai táng cho cụ Hựu khi cụ qua đời
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm đồng ý với một phần yêu cầu của bà Ngâm và nhậnđịnh về khối di sản là của dòng họ Đỗ để lại cho đời sau, không đồng ý với yêu cầu côngnhận bản di chúc, đồng thời xác định Tòa phúc thẩm, Tòa sơ thẩm công nhận bản di chúc làhợp pháp là chưa đủ căn cứ
Câu 1: Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời.
Một di chúc tự viết tay có giá trị và hợp pháp là khi đáp ứng đúng các khoản sau trong điều
630, BLDS 2015:
“1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
Trang 7b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có
đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.”
Đã thỏa đúng các khoản trên tại điều 630 thì phần nội dung trong bản di chúc tự viết taycũng cần phải thỏa đủ điều kiện tại điều 631 của cùng bộ luật:
“1 Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2 Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng
di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”
Xét thêm trường hợp bản di chúc tự viết tay không có người làm chứng thì còn cần phải dựavào điều 633 cùng bộ luật để tiến hành viết:
“Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều
631 của Bộ luật này.”
Tóm lại, tổng thể 1 bản di chúc viết tay sẽ có giá trị và hợp pháp khi thỏa và đáp ứng đúngvới các khoản, điều luật nêu trên
Trang 8Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người
đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Những người làm chứng hợp pháp phải được quy định tại điều 632, BLDS 2015:
“Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”
Dựa vào nội dung trong Bản án số 83/2009/DSPT, di chúc của ông Này được cha, em gái,
em trai chỉ điểm và ký tên làm chứng Nhưng căn cứ theo khoản 1, điều 651, BLDS 2015
“người thừa kế theo pháp luật” thì cha của ông Này thuộc hàng thừa kế thứ 1 và em trai, em
gái của ông Này thuộc hàng thừa kế thứ 2 theo pháp luật Vì họ thuộc vào nhóm nhữngngười thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc được quy định tại khoản 1, điều 632 vừanêu trên nên nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì cha, em gái,
em trai của ông Này không là người làm chứng hợp pháp dựa theo quy định của pháp luật
Câu 3: Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao?
Di chúc của ông Này là do ông Này tự viết tay Vì:
Trong phần nhận thấy có đề cập: “Để tránh tranh chấp về sau nên ông Này viết giấy này đểnhà và đất đai cho cháu Hiếu thừa hưởng sau này ông Này có mất thì cháu Hiếu có chỗ ở vàthờ cúng cho ông Này.”
Lại có ở phần xét thấy có đoạn: “Xét thấy, giấy thừa kế do ông Nguyễn Này viết không đượcchính quyền địa phương công chứng, chứng thực nhưng được lập lúc ông Này còn minhmẫn”
Trang 9Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết tay.
Em đồng ý với hướng giải quyết của Tòa án về việc công nhận giấy thừa kế do ông Này viết
là di chúc hợp pháp Tuy nhiên, ông Này giao toàn nhà đất là tài sản chung của hai vợ chồngông Này bà Trọng cho ông Hiếu khi chưa có thoả thuận của bà Trọng là không đúng nêngiấy thừa kế chỉ có hiệu lực một phần
Căn cứ theo khoản 4 Điều 630 BLDS 2015:
“Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có
đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”
Khoản 1 Điều 630 BLDS 2015 quy định:
“Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật”.
Ông Này lập di chúc trong lúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa,cưỡng ép Di chúc bằng văn bản là do ông Này viết tay không có công chứng, chứng thựcvẫn được coi là di chúc hợp pháp
Điều 632 BLDS 2015 quy định:
“Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1.Những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
Trang 103 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Giấy thừa kế do ông Này viết đã được cha, em gái, em trai ông điểm chỉ và ký tên làmchứng không trái với quy định tại Điều 632 BLDS nên là di chúc hợp pháp là đúng
Câu 5: Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?
Theo lời khai của Bà Ngâm, Bà Lựu và ông Vũ khai: di chúc được lập ngày 25/11/1998bằng cách cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, sau đó cụ Hựu điểm chỉ Có ông Vũ và cụ Quý kýtên làm chứng Ngày 4/1/1999 bà Lựu đem di chúc đến cho ông Thưởng ( trưởng thôn) vàUBND xã xác nhận
( Căn cứ phần xét thấy quyết định 874/2011/DS-GĐT )
Câu 6: Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời?
Cụ Hựu là người không biết chữ
Đoạn của quyết định 874 trên :
” Di chúc do Cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ”
“ Ông Quang xác định cụ Hựu là người không biết chữ.”
Câu 7: Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật?
Di chúc có công chứng hoặc chứng thực
Di chúc được lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND cấp xã
Có 2 cách để người không biết chữ lập di chúc hợp pháp
1. Đọc rồi cùng người làm chứng với mình đi công chứng tại văn phòng công chứng
2. Tới trực tiếp tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND cấp xã để lập di
Đối với BLDS 2015 di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn điều kiện được quyđịnh tại khoản 3 điều 630 BLDS 2015 (điều 652 BLDS 2005) về di chúc hợp pháp
Trang 111 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Vậy điều kiện để người không biết chữ lập di chóc đó là minh mẫn sáng suốt, không bị lừadối, đe dọa, cần có người làm chứng hợp pháp lập thành văn bản sau đó công chứng hoặcchứng thực hợp pháp bản di chúc đó
Câu 8: Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu?
Theo quyết định 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
cao, di chúc của cụ Hựu đã đáp ứng được điều kiện “phải được người làm chứng lập thành văn bản” đối với di chúc của người không biết chữ theo như quy định tại điều 652 BLDS
2005 và đồng thời cũng đã đáp ứng điều kiện “có ít nhất là hai người làm chứng Người lập
di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.”
đối với người không tự mình viết bản di chúc đã được quy định tại điều 656 Bộ luật này
Trang 12Cụ thể Tòa án đã xác định “Đối với di chúc đề ngày 25/11/1998 của cụ Hựu do bà Ngâm xuất trình, … cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, ông Vũ và cụ Đỗ Thị Quý (là
mẹ của ông Vũ) ký tên làm chứng”
Câu 9: Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của cụ Hựu?
Theo quyết định 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
cao, di chúc của cụ Hựu đã không đáp ứng được điều kiện “có công chứng hoặc chứng thực” đối với di chúc của người không biết chữ được quy định tại khoản 3 điều 652 BLDS
2005
Cụ thể Tòa án đã nhận định Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ ký của ôngThưởng (trưởng thôn) trên di chúc chứ không xác nhận nội dung di chúc và ông Thưởngcũng không chứng kiến việc cụ Hựu lập di chúc trước đó; mặt khác, việc giám định dấu vân
tay của cụ Hựu cũng đã có kết luận “không đủ yếu tố giám định” nên Tòa án không đồng ý
tính hợp pháp của bản di chúc này
Câu 10: Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao?
Di chúc trên không thỏa mãn về mặt hình thức Mặc dù di chúc đ ã được lập thành văn bản
và có người làm chứng nhưng về yêu cầu công chứng, chứng thực do cụ Hựu không biết chữchưa thỏa mãn yêu cầu của Luật
Vì theo Khoản 1 Điều 636 BLDS 2015: “ Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc
trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc”
Trang 13Nhưng ở đây, cụ Hựu chỉ đọc cho ông Vũ viết và bà Lựu mang di chúc đến cho ông HoàngVăn Thưởng (là Trưởng thôn) và Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận Điều đó là khôngphù hợp với Luật
Mặt khác, theo nhận thấy của Tòa, dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc bị mờ, không thểhiện rõ các biểu hiện riêng nên chưa đủ yếu tố giám định Do đó chưa đủ căn cứ xác định dichúc thể hiện đúng ý chí của cụ Hựu
Ngoài ra, ta cần phân biệt trường hợp di chúc viết hộ và di chúc lập bởi người không thể tự
lập di chúc do khiếm khuyết hoặc mù chữ “ Trường hợp này cần đặc biệt lưu ý, vì sẽ có người nhầm tưởng quy định này cũng được áp dụng với mọi cá nhân không thể tự mình viết
di chúc (bao gồm cả người bị khiếm khuyết thể chất và người mù chữ) Bởi lẽ, khi người để lại di sản không thể tự mình viết di chúc (do người bị khiếm khuyết thể chất và người mù chữ) thì pháp luật quy định người này phải lập di chúc bằng văn bản theo thủ tục công chứng, chứng thực, đồng thời việc công chứng, chứng thực di chúc phải có người làm chứng thì di chúc mới có hiệu lực” ( Gt Pháp luật về tài sản quyền sở hữu và thừa kế của Đại học
Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức 2018, tr 470)
Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ.
BLDS 2015 có quy định liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ như
Khoản 3 Điều 630 BLDS 2015: “ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người
không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực”
Điều 636 BLDS 2015 Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy
ban nhân dân xã
Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã phải tuân theo
thủ tục sau đây: