Đấy là đề thì thực tế mình đã làm. Đề hơi khó nhưng hay, mong các bạn cố gắng ôn luyện để qua môn này nhé.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
NĂM 2020 LỚP HÌNH SỰ: 09 MÔN: BỘ LUẬT HÌNH SỰ Thời gian làm bài 75 phút
Sinh viên chỉ được sửa dụng VBQPPL khi làm bài
Câu I nhận định đúng sai (4 điểm)
1 Sự kiện bất ngờ là tình tiết loại trừ yếu tố lỗi của hành vi phạm tội
=> Nhận định này Đúng Vì:
Căn cứ vào Điều 20 BLHS 2015 thì “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo đó, trong trường hợp sự kiện bất ngờ thì người có hành vi gây thiệt hại được xem là không có lỗi vì họ không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả Do đó, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự
2 Mọi trường hợp biểu lộ ý định phạm tội đều không bị xử lý theo pháp luật hình sự
=> Nhận định này Sai Vì:
Về nguyên tắc, biểu lộ ý định phạm tội không phải là 1 giai đoạn thực hiện tội phạm, cho nên không phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, việc biểu lộ ý định tội phạm đã có tính nguy hiểm cho xã hội Vì vậy, trong các trường hợp này, luật hình sự quy định việc biểu lộ ý định phạm tội thành 1 tội độc lập và người biểu lộ ý định vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự như bình thường
Ví dụ: Điều 133 BLHS quy định về tội đe dọa giết người
3 Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tôi xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản
=> Nhận định này Sai Vì hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu rất đa dạng, không phải chỉ duy nhất hành vi chiếm đoạt tài sản mới là hành vi khách quan của các tội
Trang 2phạm này Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản, còn có các nhóm hành vi khách quan khác như:
+ Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS)
+ Hành vi sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS)
+ Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS)
+ Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.(Điều 180 BLHS)
4 Mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125)
=> Nhận định này Sai Vì không phải mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh (Điều 125)
Để bị cấu thành tội Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi phải thỏa mãn 02 yếu tố sau:
Thứ nhất, đối với người bị giết phải là người có hành vi phạm tội nghiêm trọng: Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, trước hết bao gồm nhưng hành vi
vi phạm pháp luật hình sự xâm phạm đến lợi ích của người phạm tội hoặc đối với những người thân thích của người phạm tội Thông thường những hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người phạm tội và những người thân thích của người phạm tội
Thứ hai, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân dẫn tới trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội:
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động mạnh là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt có cái kia Không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân thì không có tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội và vì thế nếu người phạm tội không bị kích động bởi hành vi trái pháp luật của người khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này
Câu II (3 điểm)
Vào khoảng 19h ngày 26/03/2003 4 tên A, B, C và D ngồi quán uống rượu Tại đây,
B có rút dao mang theo cho A mượn xem Đây là loại dao có lưỡi xếp vào cán dao, cán dao bằng mủ màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2-3cm, mũi dao hình
Trang 3dạng hơi bầu, lưỡi dao có một bên sắc bén, một bên bằng Ra khỏi quán, B đòi A trả lại dao và cất vào túi quần Cả bọn gặp 2 anh T và H đi ngược chiều Do có quen biết, A và C dừng lại nói chuyện với H, còn B và D đi trước A rủ H đi uống rượu tiếp nhưng H từ chối, A liền nắm tay H kéo đi thì T ngăn cản kéo H trở lại Thấy vậy, A quay sang cãi nhau với T và dùng tay đẩy vào ngực T làm T bị mất thăng bằng ngã ngồi T và A xô xát, ẩu đả với nhau H dùng tay ôm ngăn A, còn C can T
A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao” Nghe tiếng A la chửi, B đi trước quay trở lại nhìn thấy A và T đang đứng đối diện nhau, B cho rằng A bị T đánh nên đã lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng
và ngực T Do C đang can T nên cũng bị một vết đâm vào tay trái C bị đâm đau nên chửi Thấy vậy, B ngừng đâm và cầm dao bỏ đi H buông tay giữ A ra thì thấy T đang nằm ngửa, máu ra nhiều H gọi C đưa T đi cấp cứu Trên đường đi T đã tử vong
B gọi điện thoại cho bạn là K kể về việc B vừa đâm T và nói kế hoạch trốn của B K bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn B trốn ra Hải Phòng đến ngày 09/4/2003 về đầu thú tại Công an huyện D
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 46/GĐPY ngày 03/04/2003 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh kết luận: Nạn nhân T bị tử vong do xuất huyết nội, gây giảm thể tích máu cấp tính sau các vết thương thủng gan và thủng bàng quang
Câu hỏi:
a A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao? (1 điểm)
b K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì? (1 điểm)
c Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản
2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích Hãy xác định lần phạm tội này của B
là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1 điểm)
Trả lời:
a A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao?
A có bị coi là đồng phạm với B
Theo khoản 1 Điều 17 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”
Trang 4Đồng phạm đòi hỏi những dấu hiệu sau:
* Những dấu hiệu về mặt khách quan: Một là, đòi hỏi phải có hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm Do đề bài không nêu rõ nên t coi A đủ 18 tuổi và có đủ năng lực TNHS
Hai là, những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý); phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm
– Trong tình huống trên, A là người xúi giục A có hành vi xúi giục B giết T Khoản
2 Điều 20 BLHS quy định: “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm” Ở đây ta thấy A là người kích động tinh thần, trực tiếp thúc đẩy B phạm tội khi A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao” khiến B đi trước đã nghe thấy và quay trở lại Lời nói này trực tiếp hướng vào T với mục đích muốn đánh chết T, đã kích động B thực hiện hành vi giết T Hơn nữa, A không hề can ngăn khi thấy B đâm nhiều nhát vào bụng và ngực
T chứng tỏ A cũng đồng tình với hành vi phạm tội của B Như vậy, ta thấy A thỏa mãn là người xúi giục B thực hiện tội phạm
– B là người thực hành tội phạm bởi B là người trực tiếp thực hiện hành vi giết người, dùng dao đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T Hung khí này đã được B giấu sẵn trong người từ trước Hành vi của B đã xâm phạm đến tính mạng, thân thể của
T dẫn đến hậu quả T tử vong B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS
* Những dấu hiệu về mặt chủ quan:
– Dấu hiệu lỗi:
Về lí trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng mình Mỗi người đồng phạm thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ thực hiện Trong tình huống trên, cả A và B đều biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả sẽ xảy ra và đều biết người khác cũng có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cùng mình A biết rõ việc mình xúi giục đánh chết T là gây nguy hiểm cho tính mạng của T và B cũng nhận thức rõ việc mình đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T sẽ làm T chết Hơn nữa, B cũng hiểu rõ việc A mong muốn giết T thông qua việc A la lớn xúi giục giết T Ngược lại, A cũng biết việc B dùng dao đâm T nguy hiểm tới tính mạng của T
Trang 5Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh Trong tình huống trên, A thể hiện mong muốn hậu quả chết người xảy ra đối với T khi nói: “Chúng mày đánh chết nó cho tao”, đồng thời A cũng không ngăn cản khi B thực hiện hành
vi đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T, không có phản ứng gì sau khi B bỏ đi chứng
tỏ giữa A và B có sự thống nhất về mặt ý chí khi thực hiện tội phạm
– Dấu hiệu mục đích: Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó Ở trường hợp này, mục đích mà cả A và B đều hướng tới là giết T
Như vậy, A có bị coi là đồng phạm với B; A tham gia vào tội phạm với vai trò là người xúi giục
b K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì?
K có phải chịu trách nhiệm về hình sự về tội che giấu tội phạm quy định ở Điều 313 BLHS
Theo điều 18 BLHS về che giấu tội phạm: “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.”
Hành vi của K thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội che giấu tội phạm Cụ thể: – Măt khách quan:
+ Hành vi: Che giấu tội phạm là hành vi của một người không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội Trong tình huống này, K biết rõ B đã thực hiện hành vi giết người nhưng
K đã “bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn”; ta thấy K đã có hành vi che giấu người phạm tội, chứa chấp nuôi giấu người phạm tội trong nhà, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội
+ Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này
Trang 6+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả: Hành vi của K đã gây hậu quả B trốn ra Hải Phòng; gây khó khăn, cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội giết người là B
+ Mục đích: Che giấu tội phạm
– Mặt chủ quan: Lỗi của K là lỗi cố ý trực tiếp, dù K biết B đã phạm tội giết người nhưng vẫn có hành vi che giấu tội phạm, tạo điểu kiện cho B trốn ra Hải Phòng, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật
– Chủ thể: Do đề bài không xác định rõ nên ta coi K là người đủ tuổi luật định và có
đủ năng lực trách nhiệm hình sự
– Khách thể: Hoạt động đúng đắn – theo đúng pháp luật của các cơ quan tư pháp Đối tượng tác động ở đây là những hoạt động bảo vệ công lí, hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp mà trong tình huống này K là người
đã che dấu tội phạm giết người – là B
Như vậy, K phải chịu trách nhiệm về hình sự về tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS
c Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích Hãy xác định lần phạm tội này của B là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Lần phạm tội này của B là tái phạm
Điều 53 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành
vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố
ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý Trong trường hợp trên, B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích Xét khoản 2 Điều 173 BLHS ta thấy, mức cao nhất của khung hình phạt quy định trong khoản này là bảy
Trang 7năm tù Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS thì đây thuộc loại tội phạm nghiêm trọng
Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 53, người phạm tội chỉ bị coi là tái phạm nguy hiểm khi
đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý Ta thấy trường hợp phạm tội của B không thỏa mãn điểm a khoản 2 Điều 53 Đồng thời, trường hợp này cũng không thỏa mãn điểm b khoản 2 Điều 53
Do vậy, lần phạm tội này của B không là tái phạm nguy hiểm
Như đã phân tích ở trên, B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS với tình tiết tăng nặng định khung tại điểm n khoản 1 Điều 123 Xét khoản 1 Điều 123 BLHS ta thấy mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, đối chiếu theo quy định tại khoản
3 Điều 8 BLHS thì tội phạm mà B thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Hơn nữa B thực hiện tội phạm với lỗi cố ý
Câu III (3 điểm)
A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H Theo sự phân công của nhóm,
C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa Chúng hẹn nhau 10 giờ đêm tập kết ở địa điểm X Đến giờ hẹn, C đem thanh sắt đến địa điểm X như đã thỏa thuận nhưng chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về nhà ngủ A và B đến chỗ hẹn quá muộn nên không gặp được C, nhưng vẫn quyết định đi lấy tài sản theo kế hoạch và đã lấy được tài sản giá trị 80 triệu đồng Do không đi lấy tài sản nên C chỉ được A và B chia cho 5 triệu đồng, C chê ít không lấy và cũng không nói gì về vụ trộm với bất cứ
ai Sau một tháng vụ việc bị phát hiện
Hỏi:
a Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại sao? (1 điểm)
b Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H, A và B đã mang số tài sản đó bán cho K
và K đã mua lại số tài sản này Vậy, K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (1 điểm)
c Giả sử A, B và C mới tròn 15 tuổi thì A, B và C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (1 điểm)
Trang 8Đáp án:
a Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại sao? (1 điểm)
Trả lời: Hành vi của C không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm
tội
Giải thích:
Điều 19 BLHS quy định “ Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.”
Theo quy định này thì hafnh vi được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải thỏa mãn những dấu hiệu sau:
– Đầu tiên là về mặt thời điểm phạm tội, tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội chỉ xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
Trong tình huống này ta thấy C đã đem thanh sắt đến địa điểm X để chuẩn bị cậy cửa nhà ông H, nhưng vì A và B trễ hẹn nên C đã bỏ về nhà ngủ, do vậy C không thực hiện hết các hành vi để trộm cắp như kế hoạch mà cả ba đã định ra, nên giai đoạn phạm tội của C là chuẩn bị phạm tội Bởi lẽ, C mới chỉ sửa soạn, chuẩn bị phương tiện phạm tội là thanh sắt dùng để cạy cửa và mang tới địa điểm X, thời điểm
C “bỏ về” là thời điểm trước lúc C bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được phản ánh trong cấu thành tội phạm Như vậy, hành vi của C thoả mãn dấu hiệu thứ nhất – Về tâm lý, việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải là tự nguyện và dứt khoát Tự nguyện là do bên trong thúc đẩy, do ý thức chủ quan của người đó, không phải do những nguyên nhân khách quan chi phối Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện được tội phạm Sự dứt khoát là phải chấm dứt hành vi một cách triệt để, không còn ý định tiếp tục thực hiện nữa Xét về yếu tố tự nguyện thì tự nguyện phải xuất phát từ ý thức chủ quan của bản thân C Nhưng ở đây C dừng hành vi phạm tội của mình là do đợi không thấy A và B nên bỏ về Việc “chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về” tức là nếu
Trang 9A và B đến đúng giờ thì giữa thỏa thuận giữa chúng vẫn được thực hiện, chúng vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm, đồng nghĩa với việc C vẫn mong muốn cho hành vi phạm tội được diễn ra Hơn nữa, C biết là hành vi của A và B có gây nguy hiểm cho xã hội nhưng C đã không ngăn cản hay tố giác hành vi đó và để mặc hậu quả xảy ra Vì vậy, hành vi của C không phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
b Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H, A và B đã mang số tài sản đó bán cho K và K đã mua lại số tài sản này Vậy, K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (1 điểm)
Trả lời :
Trường hợp 1: Ông K mua lại số tài sản của A, B mà không biết số tài sản mua
được là từ hành vi trộm cắp mà có thì không phải chịu TNHS do:
Thứ nhất, xét về nguyên tắc lỗi trong mặt chủ quan của tội phạm trong bộ luật hình
sự Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Mà lỗi là dấu hiệu không thể thiếu trong bất cứ CTTP nào Điều 27 BLHS quy định “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới…” Như vậy, một người không có lỗi thì không cần thiết phải giáo dục để nhận ra lỗi lầm vì sự thực là họ không có lỗi để nhận ra Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không có lỗi thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình
Thứ hai, nếu ta liên hệ mở rộng thì K rơi vào tình huống được quy định trong điều
189 BLDS “…Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.” Nhưng bên cạnh đó cũng có thể có thêm một trường hợp xảy ra đó là tài sản mà A và B bán cho ông K là động sản phải đăng kí quyền sở hữu Vậy thì dù có thỏa thuận, hứa hẹn trước hay không thì ông K cũng buộc phải biết được tài sản này là do A và B đi ăn trộm mà có được Tuy nhiên, trong đề bài chỉ nêu chung chung là tài sản chứ không nêu rõ là loại nào nên nhóm em coi rằng tài sản ông K mua của A và B là động sản không phải đăng ký sở hữu theo BLDS
Trường hợp 2: Ông K mua lại số tài sản của A, B mà biết số tài sản mua được là từ
hành vi trộm cắp mà có thì phải chịu TNHS do:
Trang 10Hành vi của K thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Điều 250-BLHS quy định : “1.Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
Đó là các dấu hiệu về khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm Cụ thể:
– Khách thể của tội phạm: Hành vi tiêu thụ tài sản của K trực tiếp xâm phạm an toàn công cộng, ngoài ra hành vi này còn cản trở hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra, xử lí người phạm tội, gián tiếp người khác phàm tội nhiều lần
– Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Ở đây, K biết rõ tài sản có được do thực hiện hành vi phạm pháp nhưng vẫn tiêu thụ
– Chủ thể của tội phạm: Do đề bài không đề cập đến tuổi và năng lực trách nhiệm của K nên nhóm xin mặc định cho K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định Vì nếu là người chưa đủ năng lực trách ngiệm hình sự và dưới 16 tuổi thì rất khó có thể thực hiện được hành vi này – Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là tài sản đang được một người chiếm hữu không hợp pháp và tài sản đó
là đối tượng của tôi phạm mà họ đã thực hiện trước đó Hành vi tiêu thụ tài sản được hiểu là những hành vi có tính chất làm “ dịch chuyển” tài sản từ người có tài sản do phạm tội sang người khác như hành vi mua tài sản đó, tạo điều kiện để bán trao đổi tài sản
Trong quy định về tội, điều luột khôn xác định chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị bao nhiêu mà quy định “ … chứ chấp, tiêu thụ tài sản mà biết do người khác phạm tội mà có….” Qua quy định này có thể hiểu chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ( trừ đối tượng hàng cấm) luôn cấu thành tội phạm mà không phụ thuộc vao mức đội Cụ thể trong tình huống này K có hành vi mua lại tài sản của A và B do hành vi trộm cắp mà có
Như vậy , từ sự phân tích trên ta có thể thấy hành vi mua lại tài sản của A và B trộm cắp được từ nhà ông H của K đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250- BLHS