1 18 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC CHÍNH TRỊ HỌC TÊN BÀI THU HOẠC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT.
Trang 1BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG
TÊN MÔN HỌC: CHÍNH TRỊ HỌC
TÊN BÀI THU HOẠC: ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và đổi mới
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 2
1.1 Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở
1.2 Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị xã hội chủ
2 Tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ
thống chính trị và thực trạng đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
5
2.1 Tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống
2.2 Khái quát thực trạng đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta
3.
Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
12
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đang thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, đồng thời là một thử nghiệm mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa có tiền lệ trong lịch
sử Sự thành công của thử nghiệm ấy sẽ đưa dân tộc ta, một dân tộc đã từng đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong sự nghiệp vĩ đại ấy, một vấn đề cơ bản giữ vai trò quyết định là phải thường xuyên xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thật sự trong sạch vững mạnh Chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, một trong những thành tựu nổi bật đó là chúng ta không ngừng xây dựng cũng cố, đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, đây không chỉ là điều kiện, tiền
đề cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, tác động ảnh hưởng tích cực đến công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, mà còn là nền tảng đảm bảo cho nước ta thực hiện thắng lợi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hệ thống chính trị ở nước ta cũng đã bộc lộ những yếu kém bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, để đáp ứng được với yêu cầu tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cần phải đổi mới
và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Đó là lý do học viên
chọn đề tài “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần
Chính trị học
Trang 4Phần II: NỘI DUNG
1 Những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và đổi mới hệ thống chính trị
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1 Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1.1 Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia là một cấu trúc của xã hội bao gồm các tổ chức chính trị đặc trưng của xã hội (Nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể, phong trào chính trị…) tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật chính thức hiện hành, cùng với tổng thể các mối quan hệ ràng buộc gắn kết các tổ chức đó thành một chỉnh thể, thông qua đó giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị của mình trong xã hội
"Hệ thống chính trị là một phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể các đảng phái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại trong khuôn khổ pháp luật, với một nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình
xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội đó" Qua đó có thể thấy, hệ thống chính trị gồm hai yếu tố
Một là, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội như các đảng phái chính trị,
Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội khác theo đuổi mục đích chính trị và được pháp luật thừa nhận
Hai là, các thiết chế, cơ chế quy định các mối quan hệ giữa các tổ chức hợp
thành thống chính trị phù hợp với vị trí, chức năng của nó và của cả thống chính trị với tính cách là hệ thống quyền lực xã hội
1.1.2 Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội cùng với những thể chế bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân lao động
do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Về cấu trúc: Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa bao gồm Đảng Mác - Lênin Nhà nước xã hội chủ nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được hình thành và hoàn thiện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Cơ sở kinh tế của nó là chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa Chế độ kinh tế này trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần đa dạng về hình
Trang 5thức sở hữu, trong đó thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo, dần dần tiến tới xác lập chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu Cơ sở
xã hội - giai cấp của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa (XHCN) là khối liên minh bền vững giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức
và các tầng lớp nhân dân lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân
Thực chất hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ thống chuyên chính vô sản; là thiết chế, cơ chế chính trị thể hiện và bảo đảm vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, lãnh đạo và tổ chức cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Do đó, có thể nói, xét về bản chất, hệ thống chính trị trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập về căn bản, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mang bản chất giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu nhiệm vụ cụ thể nên HTCT cũng có nhiệm vụ, chức năng phù hợp tương ứng với điều kiện, đặc điểm lịch sử từng thời kỳ; thể hiện biện chứng giữa tính liên tục và tính giai đoạn trong quá trình phát triển của
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
“Hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Trong đó, Đảng giữ vai trò cầm quyền, lãnh đạo; Nhà nước đóng vai trò quản lý, điều hành, kiến tạo phát triển; Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Hệ thống chính trị
Trang 6Việt Nam được xây dựng và hoạt động theo những mối quan hệ, cơ chế và nguyên tắc nhất định, thống nhất từ trung ương đến địa phương và cơ sở, nhằm mục đích xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân”
1.2 Bản chất và đặc điểm của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Về bản chất, Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên
phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Vì vậy, hệ thống chính trị ở nước ta có những bản chất sau:
Một là,hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân,
nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân Từ đó đã quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Hai là, bản chất dân chủ của hệ thống chính trị ở nước ta thể hiện trước
hết ở chỗ: Quyền lực thuộc về nhân dân với việc Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc
Ba là, bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước
ta Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc
* Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay:
Một là,các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong hoạt động của từng tổ chức
Trang 7Hai là,hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị Trong điều kiện cụ thể ở nước ta,
do những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tế Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta
Ba là,hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta thực hiện.Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất
về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị
Bốn là,hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ
xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và thực trạng đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
2.1 Tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị
Khái niệm “hệ thống chính trị” được Đảng ta chính thức sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3 - 1989), từ đó khái niệm này được các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học, sách báo sử dụng rộng rãi thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” trước đây Trên tinh thần đổi mới của Đại hội VI, đổi mới hệ thống chính trị trở thành nội dung trọng yếu
Trang 8và trực tiếp của đổi mới chính trị Nhìn lại quá trình đổi mới, hoàn thiện quan niệm của Đảng về hệ thống chính trị nước ta những năm qua có thể nhận thấy một số vấn đề lớn
Việc sử dụng khái niệm hệ thống chính trị đưa lại những nhận thức mới: nhận rõ và nhấn mạnh tính hệ thống, tính chỉnh thể và mối quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành hệ thống-điều mà trước Đại hội VI “chưa được cụ thể hóa thành thể chế” [1, tr 110] Có sự tách biệt tương đối giữa hệ thống tổ chức bộ máy với
các yếu tố khác của nền chính trị; định hình rõ ràng các tổ chức quần chúng, trong đó xác định Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội thuộc hệ thống chính trị Điều này không chỉ khắc phục tính chất chung, nặng về bản chất giai cấp và mặt chuyên chính của khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”,
mà còn thoát khỏi sự lúng túng trong việc cụ thể hóa cơ chế tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ tập thể” được xác định từ Đại hội VI của Đảng
Về mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị, chỉ hơn hai năm kể từ Hội nghị
Trung ương 6 khóa VI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII thông qua có ghi rõ: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân[2, tr 19] Văn kiện Đại hội VII của Đảng cũng đồng thời xác định: “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới.” [3, tr.90] Như
vậy, trước hết, đổi mới hệ thống chính trị không phải là thay đổi chế độ chính trị, mà là làm cho chế độ chính trị đã được kiến lập ở nước ta ngày càng bền vững hơn, thể hiện đúng đắn và đầy đủ hơn bản chất xã hội chủ nghĩa của nó, phát huy tính ưu việc và vai trò tích cực của chính trị là nhằm làm cho các bộ phận cấu thành hệ thống hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn, khắc phục bệnh quan liêu, hình thức, trên cơ sở xác định rõ, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và xác lập cơ chế vận hành thông suốt, chặt chẽ của cả hệ thống, theo sự lãnh đạo của “hạt nhân” là Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 9Quá trình đổi mới hệ thống chính trị, tức hệ thống các tổ chức đại diện nhân dân, gắn liền với quá trình bảo đảm quyền lực chính trị thật sự thuộc về nhân dân, từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng về dân chủ của dân; căn cứ vào trình độ giác ngộ và năng lực thực hành dân chủ của dân mà tiến hành đổi mới hệ thống chính trị; cuối cùng, phải từ sự tiến bộ trong việc nhân dân nắm và sử dụng quyền làm chủ của mình đối với xã hội, cộng đồng mà đánh giá kết quả của đổi mới hệ
thống chính trị Từ Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là…thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình”
[1, tr 112] Chỉ khi nhân dân-với tư cách là người chủ và người làm chủ, là chủ thể gốc của quyền lực chính trị-trực tiếp tham gia xây dựng, thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của tổ chức trong hệ thống chính trị thì mới có thể xem đổi mới là thành công
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, vấn đề mấu chốt nhất và cũng không ít khó khăn là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, khắc phục cả hai khuynh hướng thường xảy ra trong thực tế của nền kinh tế thị trường hiện nay: hoặc là bao biện, làm thay, hoặc là buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng
Để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Phải làm rõ, nhận thức đúng vấn đề Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện chuyên chính, dân chủ hóa và thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Rất nhiều lý luận mà Đảng cầm quyền tưởng như đả rõ, nhưng thật sự càng phải làm rõ hơn
để phù hợp với tình hình mới trong xu thế hội nhận nền kinh tế toàn cầu, không
ít vấn đề cần nhận thức lại và nhận thức đầy đủ hơn Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp, nhưng Đảng không làm thay nhà nước, không được sử dụng quyền lực Nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước ban hành luật pháp, nhưng Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo chính trị đối với Nhà nước và cả xã hội, nhưng lãnh đạo chính trị không có nghĩa là lãnh đạo chung chung, chỉ dừng ở việc đề ra cương lĩnh, đường lối chung, không thể không quyết định những chủ trương, chính sách lớn liên quan đến sự phát triển kinh tế-xã hội và sự trường tồn của dân tộc,
đến đời sống của nhân dân, an ninh quốc gia Trong Cương lĩnh xây dựng đất
Trang 10nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lần đầu tiên Đảng ta nêu ra quan
niệm hoàn chỉnh về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Đây là cơ
sở để từng cấp xây dựng phương thức lãnh dạo của Đảng, phương thức quản lý của chính quyền và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và từng đoàn thể nhân dân, cụ thể hóa thành quy chế phối hợp công tác giữa các tổ chức trong
hệ thống chính trị của cấp mình
Xét về phương diện hiệu quả lãnh đạo chính trị, có thể khái quát rằng, tư duy lý luận của Đảng ta trong những năm qua về phương thức lãnh đạo của Đảng tạo ra bước đột phá quan trọng vào khâu khó nhất, nhảy cảm nhất mà nhiều năm trước đây chưa tháo gỡ được Vì vậy, đó là một bước tiến trong tư duy đổi mới về xây dựng hệ thống chính trị bổ sung tư duy của Đảng trong điều kiện mới quản lý nhà nước, xây dựng theo nền kinh tế thị trường có định hướng
xã hội chủ nghĩa
Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở xã, phường, thị trấn thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới chính trị Trên cơ
sở giữ vững ổn định chính trị, xác định và thực hiện đúng phương hướng đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy cao độ vai trò của các tổ chức trong cả
hệ thống và quyền làm chủ của nhân dân, khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ
sở xã hội chính trị, đề cao các sáng kiến, sáng tạo từ cơ sở Từ đó, Bộ chính trị khóa VIII ban hành chỉ thị xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở, trước hết là nông thôn; sau đó Quốc hội, Chính phủ ban hành các nghị quyết, nghị định thực hiện chủ trương lớn này của Đảng Đặt biệt là Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3-2002) đã ra nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn Đây là lần đầu tiên kể từ khi Đảng cầm quyền và cũng là lần đầu tiên hơn 15 năm lãnh đạo đổi mới đất nước, Đảng ra một nghị quyết về đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở Nghị quyết không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt là giải quyết các vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài Củng cố vững chắc và nâng