1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

122 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Độc chất học thuỷ vực
Tác giả Huỳnh Chí Thanh
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Phòng và chữa bệnh thủy sản
Thể loại sách giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Độc chất học thuỷ vực cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về về chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể cá và giáp xác, hiểu các hoạt động sinh lý của chúng trong mối liên hệ với môi trường xung quanh, những kiến thức lí luận cơ sở trong nuôi thủy sản. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

GIÁO TRÌNH

MÔN HỌC: ĐỘC CHẤT HỌC THỦY VỰC

NGÀNH, NGHỀ: PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH THỦY SẢN TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG

(Ban hành kèm theo Quyết định Số 185/QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày tháng năm

2018 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)

Đồng Tháp, năm 2018

Trang 3

ii

Giáo trình Độc chất học thủy vực được viết cho sinh viên trung cấp ngành thủy sản của trường Cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp Độc chất học thủy vực là môn học không thể thiếu trong chương trình học Phòng và chữa bệnh thủy sản Độc chất học thủy vực là môn học nghiên cứu những gì tồn tại trong môi trường nước có thể gây hại cho thủy sinh vật Môn học này liên quan mật thiết đến các môn khác như sinh lý động vật thủy sinh, quản lý chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản, bệnh động vật thủy sản Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về về chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể cá và giáp xác, hiểu các hoạt động sinh lý của chúng trong mối liên hệ với môi trường xung quanh, những kiến thức lí luận cơ sở trong nuôi thủy sản Từ đó có những vận dụng vào những học phần chuyên sâu hơn hay có thể vận dụng vào thực tế sau này Trong quá trình giảng dạy, giáo trình được cập nhật, điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tế sản xuất và sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản

Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thiện giáo trình nhưng chắc chắn cũng không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô, các bạn đồng nghiệp để giáo trình được hoàn chỉnh hơn

Đồng Tháp, ngày… tháng năm 2018

Chủ biên Huỳnh Chí Thanh

Trang 4

ao nuôi thủy sản, bệnh động vật thủy sản

- Tính chất của môn học: Là môn học chuyên ngành tự chọn

Mục tiêu môn học:

- Về kiến thức:

Giúp cho người học nắm được cơ chế ảnh hưởng của một số độc chất lên thuỷ sinh vật; Đánh giá rủi ro độc chất cho thuỷ sinh vật; Thiết lập các nghiên cứu về xác định độc tính chất độc lên thuỷ sinh vật

+ Kiến thức cơ chế ảnh hưởng của một số độc chất lên thuỷ sinh vật

+ Kiến thức về xác định độc tính chất độc lên thuỷ sinh vật

+ Kiến thức về đánh giá rủi ro độc chất cho thuỷ sinh vật

III Nội dung môn học:

1 Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:

Số

Thời gian Tổng

số

Lý thuyết hành, Thực

Bài tập

Kiểm tra*

1 Chương 1: Tổng quan về Độc chất học

thuỷ vực

1.1 Giới thiệu về đọc chất học thủy vực

1.2 Lịch sử nghiên cứu và phát triển

Trang 5

iv

hành, Bài tập

tra*

1.3 Một số khái niệm và thuật ngữ

3 Chương 3: Hấp thụ, chuyển hoá, đào

thải và tích tụ độc chất ở thuỷ sinh vật

3.1 Hấp thụ độc chất ở thuỷ sinh vật

3.2 Chuyển hóa độc chất ở thuỷ sinh vật

3.3 Đào thải độc chất ở thuỷ sinh vật

Trang 6

v

hành, Bài tập

tra*

chất

5.4 Tổng kết rủi ro

Trang 7

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỘC CHẤT HỌC

Nội dung chương 1 nhằm giới thiệu một số khái niệm cơ bản trong độc chất học như: Độc chất học, chất độc, độc tính, độc lực, ngộ độc, các nguồn gây độc, cách phân loại chất độc, phân loại ngộ độc Các kiến thức về các quá trình động học, cơ chế gây ngộ độc và các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của chất độc cũng được đề cập đến trong chương này

1 Một số kháI niệm

1.1 Độc chất học

a Định nghĩa và đối tượng của độc chất học

Độc chất học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về các chất độc, bao gồm việc phát hiện ra các chất độc, đặc tính lý hoá học của chúng và những ảnh hưởng sinh học cũng như biện pháp xử lý những hậu quả do chúng gây ra Độc chất học - toxicology có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: toxikon - chất độc, logos - khoa học

Từ xa xưa, đối tượng của độc chất học chỉ là một số ít chất độc được

sử dụng để đầu độc người và súc vật Ngày nay, độc chất học hiện đại nghiên cứu tính chất lý hóa của các chất độc có nguồn gốc thực vật, khoáng và tổng hợp, cơ chế gây độc, mối tương tác giữa chất độc và cơ thể

Độc chất học Thủy sản là môn khoa học nghiên cứu về các chất độc và tác động của chúng đối với cơ thể động vật

Độc chất học thủy sản là một phần đặc biệt của độc chất học, là môn học thực nghiệm lâm sàng Đối tượng của môn học là nghiên cứu về tính chất, tác dụng, ý nghĩa của chất độc, nguyên nhân gây ngộ độc, sinh bệnh học, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị ngộ độc

b Sự liên quan của độc chất học thủy sản với các môn học khác

Là môn học thực nghiệm lâm sàng, độc chất học thủy sản có liên quan đến hàng loạt các

môn học:

- Môn hóa học và dược lý học cung cấp những hiểu biết cơ bản về tính chất hóa học, động học, cơ chế tác dụng của các chất độc có nguồn gốc vô cơ và hữu cơ

- Môn thực vật, vi sinh vật và động vật giúp nghiên cứu các độc tố thực vật, động vật,

nấm và côn trùng

Độc chất học đặc biệt có quan hệ gần gũi với các môn học:

- Sinh lý bệnh: nghiên cứu về sinh bệnh học, về tiến triển của bệnh do ngộ

Trang 8

7

độc

- Hoá sinh: cơ thể bị ngộ độc gây ra nhiều biến đổi các chỉ tiêu hóa học, hàm lượng và chất lượng men, hàm lượng các hormon giữ vai trò quan trọng trong trao đổi chất Xác định những biến đổi này bằng các phương pháp nghiên cứu hoá sinh là rất cần thiết để phân tích tiến triển của quá trình ngộ độc

- Bệnh lý học: cung cấp phương pháp mổ khám và phân tích các bệnh tích đại thể, vi

Chất độc (poison) là những chất vô cơ hay hữu cơ có nguồn gốc thiên

nhiên hay do tổng hợp, khi nhiễm vào cơ thể và đạt đến nồng độ nhất định có thể gây hiệu quả dộc hại cho cơ thể sống

Gary D Osweiler lại đưa ra định nghĩa về chất độc như sau: chất độc là những chất rắn, lỏng hoặc khí, khi nhiễm vào cơ thể theo đừơng uống hoặc các đường khác sẽ gây ảnh hưởng đến các quá trình sống của các tế bào của các cơ quan, tổ chức Các tác động này phụ thuộc vào bản chất và độc lực của các chất độc

Khái niệm khác của chất độc là độc tố (toxin) được dùng để chỉ các chất độc được sản sinh (có nguồn gốc) từ các quá trình sinh học của cơ thể và được gọi

là độc tố sinh học (biotoxin)

Trong quá trình nghiên cứu về chất độc cần lưu ý một số điểm sau:

- Chất độc là một khái niệm mang tính định lượng Mọi chất đều độc ở một liều nào đó và cũng vô hại với liều rất thấp Giới hạn giữa 2 liều đó là

phạm vi các tác dụng sinh học Theo Paracelsus (1493 - 1541): “tất cả mọi

chất đều là chất độc, không có chất nào không phải là chất độc Liều lượng

thích hợp sẽ phân biệt được một chất độc và một thuốc” Aspinrin (acid acetyl

salicylic) là thuốc hạ sốt chống viêm được dùng trong điều trị từ nhiều

Trang 9

năm nay, nhưng có thể gây chết người với liều 0,2 - 0,5 g/Kg Sắt, đồng, magne, kẽm là những nguyên tố vi lượng cần thiết trong thành phần thức ăn chăn nuôi, nhưng nếu quá liều thì có thể gây ngộ độc

- Về mặt sinh học, một chất có thể độc với loài này nhưng lại không độc với loài khác Carbon tetraclorid gây độc mạnh cho gan trên nhiều loài, nhưng ít hại hơn đối với gà Một số loài thỏ có thể ăn lá cà độc dược có chứa belladon

- Một chất có thể không độc khi dùng một mình, nhưng lại rất độc khi dùng phối hợp với chất khác Piperonyl butoxid rất ít độc với loài có vú và côn trùng khi dùng một mình, nhưng có thể làm tăng độc tính rất mạnh của các chất

dùng cùng do nó có tác dụng ức chế các enzym chuyển hoá chất lạ (xenobiotic -

metabolizing enzymes) của cơ thể

- Độc tính của một chất độc có thể thay đổi khi xâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau như: qua đường uống, đường hô hấp, qua da, qua đường tiêm

b Khái niệm độc tính và độc lực

- Khái niệm độc tính: được dùng để miêu tả tính chất gây độc của chất độc

đối với cơ thể sống

- Khái niệm độc lực: là lượng chất độc trong những điều kiện nhất định

gây ảnh hưởng độc hại hoặc những biến đổi sinh học có hại cho cơ thể

Khi nghiên cứu về độc lực, cần quan tâm đến mối quan hệ giữa liều lượng chất gây độc và đáp ứng của cơ thể bị ngộ độc Theo quy định quốc tế,

liều lượng của chất độc được tính bằng milligram (mg) chất độc/1kg khối lượng

cơ thể gây ảnh hưởng sinh học nhất định

ở một số loài động vật hoang dã hoặc loài cá, độc lực được thể hiện bằng nồng độ các chất độc trong thức ăn động vật hoặc nước Nồng độ gây tử

vong (LC - Lethal Concentration) là nồng độ chất độc thấp nhất trong 1 kg thức

ăn chăn nuôi hoặc trong 1 lít nước (đối với cá) gây chết động vật Độc lực trong

ngộ độc cấp tính được tính theo LC50 - nồng độ gây chết 50% động vật

* Một số khái niệm về liều lượng được sử dụng để xác định độc lực của chất độc:

- ED50 (Effective Dose): liều có tác dụng với 50% động vật thí nghiệm

- Liều tối đa không gây độc (HNTP - Highest Nontoxic Dose): là liều

lượng lớn nhất của thuốc hoặc chất độc không gây những biến đổi bệnh lý cho cơ thể

- Liều thấp nhất có thể gây độc (TDL - Toxic Dose Low): Khi cho gấp đôi

liều này sẽ không gây chết động vật

- Liều gây độc (TDH - Toxic Dose High): là liều lượng sẽ tạo ra những biến

đổi bệnh

lý Khi cho gấp đôi liều này sẽ gây chết động vật

Trang 10

4

- Liều chết (LD - Lethal Dose): là liều lượng thấp nhất gây chết động vật

LD có các tỷ lệ khác nhau như: LD1- liều gây chết 1% động vật; LD50: liều gây chết 50% động vật; LD100: liều gây chết 100% động vật

* Độ an toàn của thuốc: được xác định dựa trên các chỉ số:

- Chỉ số điều trị (TI - Therapeutic Index): là tỷ số giữa LD50 và ED50

LD50

TI =

ED50

Trang 11

- Tiêu chuẩn an toàn (SSM- Standart Safety Margin) là tỷ số giữa LD1 và

Chất độc có thể được phân loại theo nhiều cách: theo nguồn gốc, bản chất

lý hoá của chất độc, phương pháp phân tích chất độc, độc lực, tác động của chất độc trên các hệ cơ quan của cơ thể và nguồn lây nhiễm chất độc

* Phân loại theo nguồn gốc chất độc:

- Chất độc có nguồn gốc thiên nhiên: động vật, thực vật, vi sinh vật

- Chất độc có nguồn gốc tổng hợp, bán tổng hợp

* Phân loại theo bản chất lý hoá của chất độc:

- Các chất độc ở dạng khí, lỏng, chất rắn

- Các chất độc vô cơ: kim loại, á kim, axit, bazơ

- Các hợp chất hữu cơ: các hợp chất chứa carbon, các loại thuốc trừ sâu, aldehyd, các axit hữu cơ, các ester, các hợp chất chứa nitơ, các hợp chất chứa lưu huỳnh, các alcaloid, glycosid

* Phân loại theo phương pháp phân tích chất độc: theo Stas-Otto

- Chất độc hoà tan trong nước hay các dung dịch axit, kiềm

- Chất độc hoà tan trong ether

- Chất độc có thể chiết tách được trong các dung môi hữu cơ

* Phân loại theo tác động của chất độc trên các hệ cơ quan của cơ thể:

- Các chất độc tác động trên hệ thần kinh: cafein, strychnin, cyanid, chì, hexachlorophen, thuốc trừ sâu clo hữu cơ

- Các chất độc tác động trên hệ tiêu hoá: asen, selen, canxi clorua, sulfat đồng, muối thủy ngân vô cơ

Trang 12

formaldehyd, thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, fumonisin

- Các chất độc tác động trên hệ tim, mạch: digitalis, digitoxin, cafein, cocain,

phenol, các chất nhạy cảm quang học

* Phân loại theo tác dụng đặc biệt của chất độc:

- Chất độc gây ung thư:

+ Các chất độc có nguồn gốc thiên nhiên: aflatoxin B1, alcaloid pyrolizidin, aquilid A

trong cây dương xỉ, alcanylbenzen trong cây de vàng

+ Hợp chất ung thư hình thành khi chế biến thực phẩm: nitrosamin, các chất hydratcarbon đa vòng thơm, các amin dị vòng

+ Một số thuốc thủy sản: diethylstibestrol (DES)

- Chất độc gây đột biến: Hầu hết các chất gây ung thư đều có tác dụng gây đột biến

- Chất độc gây quái thai: các hợp chất este phospho hữu cơ, thuốc trừ sâu loại

carbamat, thuốc diệt nấm chứa thủy ngân, cloramphenicol

* Phân loại theo nguồn gây độc:

- Các chất gây ô nhiễm không khí, nước và thực phẩm

- Các chất phụ gia trong thực phẩm

- Các hoá chất trong công nghiệp và các dung môi

- Thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thủy sản

Trang 13

* Các chất gây ô nhiễm không khí, nước và thực phẩm

- Bản chất các chất gây ô nhiễm không khí, nước, thực phẩm và nguồn gây ô nhiễm thường liên quan đến vùng địa dư

- Nguồn chính gây ô nhiễm không khí là do các phương tiện giao thông, các quá trình công nghiệp, các loại nhà máy điện Các chất gây ô nhiễm không khí thường gặp là: CO, các oxit nitơ, các oxit lưu huỳnh, các hydro carbon

- Nước thường bị ô nhiễm bởi các hoá chất, các chất hữu cơ từ cống rãnh, từ nước thải

của các nhà máy, từ ruộng đồng có dùng hoá chất bảo vệ thực vật

- Các chất gây ô nhiễm lương thực thực phẩm, thức ăn chăn nuôi có thể tồn tại trong thực phẩm ở dạng thô, dạng đã nấu chín hoặc đã qua chế biến Có

nhiều loại độc: độc tố của vi khuẩn (như ngoại độc tố của Clostridium

botulinum), độc tố của nấm (aflatoxin của aspergilus), độc tố của động vật,

alcaloid của cây, các tồn dư của thuốc trừ sâu

* Các chất phụ gia trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

Các chất phụ gia được cho vào thực phẩm, thức ăn chăn nuôi với nhiều lý

do khác nhau: để bảo quản (kháng khuẩn, kháng nấm hoặc chống oxy hoá); để

thay đổi tính chất vật lý, nhất là trong quá trình chế biến; để thay đổi hương vị, thay đổi màu hoặc mùi Nói chung, các chất này đều an toàn và không có độc tính trường diễn Tuy nhiên, hiện nay đã có tới hàng trăm, thậm trí hàng nghìn chất phụ gia được sử dụng trên toàn thế giới, và rất nhiều chất trong số đó còn chưa có các biện pháp thích hợp để phát hiện và đánh giá Ngoài ra còn chưa

biết được các tác dụng tương hỗ (tương tác) giữa những chất này hoặc giữa

chúng với thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

* Các hoá chất trong công nghiệp và các dung môi

Trong công nghiệp, rất nhiều hoá chất được sử dụng và chúng tồn tại ở môi trường

làm việc với nồng độ cao, có thể gây độc Bao gồm:

- Các chất vô cơ: các kim loại chì, đồng, thuỷ ngân, kẽm, cadmi, khí carbon

monoxyd, fluoride

- Các chất hữu cơ: Hydrocarbon mạch thẳng (hexan) hydrocarbon mạch vòng (benzen, toluen, xylen), hydro carbon gắn halogen (dicloromethan,

tricloroethylen), cồn (methanol, ethylenglycol), các dẫn xuất nitro (nitrobenzen)

Các dung môi thường gặp ở môi trường công nghiệp, trong nghiên cứu và

Trang 14

- Rượu mạch thẳng: methanol, ethanol

- Hydrocarbon mạch vòng thơm: benzen, toluen

* Thuốc thủy sản dùng điều trị gia súc gia cầm

Thuốc thủy sản, nhất là các thuốc có độc tính cao nếu dùng không đúng, quá liều, không đúng chỉ định, sự tương tác giữa các thuốc khi dùng phối hợp…

có thể gây ngộ độc thuốc thủy sản ở vật nuôi

e Sự vận chuyển của chất độc trong môi trường

Các chất hoá học như hoá chất bảo vệ thực vật, các khí thải công nghiệp được giải phóng ra môi trường hiếm khi được lưu lại tại chỗ hoặc giữ nguyên dạng Nhiều hoá chất sau đó bị phân giải bởi vi khuẩn và nấm rồi nhanh chóng

bị khử độc, thường bị cắt vụn thành hợp chất có thể nhập vào chu trình carbon, nitơ và oxy Các chất khác đặc biệt là hữu cơ chứa halogen, là những chất ít nhiều không bị chuyển hoá bởi vi khuẩn và tồn tại trong đất như chất ô nhiễm, lại nhập vào các cây lương thực - thực phẩm ví dụ DDT và chất chuyển hoá chính của nó DDE có thể tồn tại nhiều năm sau khi đã ngừng phun DDT

- Các chất độc dễ tan trong mỡ sẽ dễ bị cơ thể hấp thu khi phơi nhiễm trong không khí, đất, nước và dần dần được tích luỹ cho đến khi đạt nồng độ gây độc

1.3 Ngộ độc

a Khái niệm ngộ độc

Ngộ độc là trạng thái rối loạn những hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể do chất độc gây ra Chất độc ức chế một số phản ứng sinh hoá học, ức chế chức năng của enzym Từ đó chất độc có thể ức chế hoặc kích thích quá độ lượng các hormon, hệ thần kinh hoặc các chức phận khác của tế bào làm cho cơ thể có những triệu chứng, phản ứng khác thường

b Phân loại ngộ độc

Có nhiều cách phân loại ngộ độc Trong thủy sản chủ yếu phân loại theo thời gian xảy ra ngộ độc Tuỳ thuộc vào từng chất và phản ứng của cơ thể, tác

Trang 15

dụng gây độc thường xuất hiện rất sớm Tuy nhiên, có chất gây tác dụng chậm

(chloaramphenicol gây thiếu máu suy tuỷ sau khi đã ngừng dùng thuốc hàng

tuần), hoặc rất chậm, 20 - 30 năm sau khi tiếp xúc với hoá chất độc mới thấy

xuất hiện ung thư

* Ngộ độc cấp tính:

Ngộ độc tính cấp tính là những biểu hiện ngộ độc xẩy ra rất sớm sau một hoặc vài lần cơ thể tiếp xúc với chất độc Tùy thuộc vào chất gây độc, đường xâm nhiễm chất độc, biểu hiện ngộ độc có thể xảy ra 1- 2 phút hoặc 30 phút đến

60 phút sau khi cơ thể hấp thu chất độc và thường là dưới 24 giờ Đa số trường hợp ngộ độc cấp tính chuyển sang dạng á cấp tính hoặc mạn tính

kiện nhất định (ngộ độc chì)

Cùng một chất lại có thể biểu hiện tác dụng độc khác nhau tuỳ theo nhiễm

độc cấp hoặc mạn: nhiều hydrocarbon gắn clor khi nhiễm độc cấp (liều cao) thì gây độc trên thần kinh trung ương, nhưng khi nhiễm độc mạn (liều thấp trong

thời gian dài) thì lại có biểu hiện gây ung thư (gan), rất ít tác dụng độc trên thần

kinh

* Tác dụng tiềm ẩn: là loại phản ứng không được thể hiện trong nhiều

ngày, tháng hay thậm chí hàng năm (ví dụ như tác dụng gây ung thư và gây độc

thần kinh của một số chất hữu cơ) Tác dụng tiềm ẩn thường xẩy ra sau khi ngừng

phơi nhiễm với chất độc một thời gian dài

2 Động học của chất độc

Động học của chất độc (toxicokinetics) chuyên nghiên cứu các quá trình chuyển vận của chất độc (nói chung là các chất lạ-xenobiotics) từ lúc được hấp

thu vào cơ thể cho đến khi bị thải trừ hoàn toàn Các quá trình đó là: Sự hấp thu

(Absorption); Sự phân bố (Distribution); Sự chuyển hóa (Metabolism); Sự thải trừ (Excretion, Elimination)

2.1 Sự xâm nhập của chất độc

Trang 16

0

1

0

Các chất độc trước khi nhập vào cơ thể, phải vượt qua nhiều “hàng rào”

bảo vệ của cơ thể (da, niêm mạc, các mô, ), vì vậy sự xâm nhập của chất độc

phụ thuộc một phần vào bản chất các hàng rào và một phần vào chính các đặc

điểm phân tử của chất độc (độ lớn phân tử, tính hoà tan trong mỡ/nước, pH,

mức độ ion hoá, )

a Chất độc xâm nhập qua màng sinh học

* Cấu tạo màng sinh học

Các màng sinh học có vai trò làm hàng rào, ngăn cản sự hấp thu các chất độc Da, niêm mạc đường tiêu hoá, niêm mạc đường hô hấp đều là những hàng rào, khác nhau về độ dày mỏng, nhưng đều có tính chất chung cơ bản sau:

- Là những lá mỏng, bản chất là lipoprotein được tạo bởi 2 hàng phân tử chủ yếu là phospholipid và cholesterol mà những cực kỵ nước quay ra 2 phía

và được tạo bởi protein Các cực kỵ nước giữ cho cấu trúc liporotein của màng được toàn vẹn

- Tỷ lệ lipid: protein thay đổi từ 5:1 cho màng myelin đến 1:5 cho cấu trúc bên trong của ty thể Tỷ lệ này rất ảnh hưởng đến sự xâm nhập của chất độc Giữa các màng này có các ống dẫn, đường kính thay đổi từ 4Å0 (màng tế bào mao mạch

não) đến 45Å0 (màng cầu thận), có thể cho qua các phân tử nhỏ không tan trong

lipid, trọng lượng phân tử từ 100 - 200 dalton

Các chất độc không ion hoá dễ khuếch tán qua màng sinh học hơn các chất ion hoá Các acaloid như strychnin bị ion hoá mạnh ở môi trường

acid của dạ dày (súc vật ăn thịt, ăn tạp) nên không biểu hiện tác dụng độc,

nhưng khi vào đến môi trường kiềm của ruột, strychnin không bị ion hoá, được hấp thu và gây độc Số lượng dạng ion hoá và không ion hoá phụ thuộc vào pKa của chất độc và pH của môi trường pKa là logarit âm của hằng số phân ly acid Theo phương trình Henderson - Hasselbach:

Tuy nhiên, còn có những ngoại lệ như pralidoxim (2 - PAM), paraquat,

diquat lại vẫn được hấp thu nhiều dưới dạng ion

Thông số thứ 2 có ảnh hưởng đến sự xâm nhập của chất độc vào cơ thể là

hệ số phân tán (partition coeffcient) được đo bằng nồng độ chất độc trong pha

lipid/nồng độ chất độc trong pha nước Như vậy, chất độc có hệ số phân tán cao

dễ tan trong lipid, có tính ưa mỡ (lipophilịcity) cao và dễ xâm nhập vào cơ thể

hơn

* Chất độc xâm nhập qua màng sinh học

Chất độc có thể xâm nhập qua màng sinh học bằng các phương thức sau:

- Phương thức lọc: Những chất có trọng lượng phân tử thấp (100 – 200 dalton) tan được trong nước nhưng không tan được trong mỡ sẽ qua được các

lỗ lọc trên màng tế bào (d = 4 - 45A0) do sự chênh lệch áp lực thuỷ tĩnh Đa số các chất độc có trọng lượng phân tử cao nên vận chuyển theo đường này không nhiều

Trang 17

1

1

đối với phần lớn các chất độc Các chất ít bị ion hoá và có nồng độ cao ở bề mặt màng dễ khuếch tán qua màng Sự khuếch tán của chất độc là acid và base yếu phụ thuộc vào hằng số phân ly pKa của chất độc và pH của môi trường

Ví dụ phenobarbital là một acid yếu có pKa = 7,2; nước tiểu bình thường

có pH cũng bằng 7,2 nên phenobarbital bị ion hoá 50% Khi nâng pH của nước tiểu lên 8, độ ion hoá của thuốc sẽ là 86%, do đó thuốc không thấm được vào tế bào Vì vậy, trong điều trị nhiễm độc phenobarbital: truyền dung dịch NaHCO3

1,4% để kiềm hoá nước tiểu, đề tăng thải trừ thuốc

Đối với chất độc dạng khí, hơi (ví dụ thuốc mê bay hơi), sự khuếch tán từ

không khí phế nang vào máu phụ thuộc vào áp lực riêng phần của chất khí gây

mê có trong không khí thở vào và độ hoà tan của khí mê trong máu

- Vận chuyển tích cực: Chất độc được chuyển từ bên này sang bên kia màng

sinh học nhờ chất vận chuyển (carrier) đặc hiệu có sẵn trong màng sinh học Nếu

chất độc có cấu trúc hoá học tương tự chất nội sinh thì nó sẽ sử dụng chung carrier Ví dụ: 5 - fluorouracil được vận chuyển bởi hệ vận chuyển pyrimidin, chì được vận chuyển bởi hệ vận chuyển calci Cơ chế này còn cho phép vận chuyển cả những chất ít tan trong lipid

b Cách chất độc xâm nhập vào cơ thể

Cách chất độc xâm nhập vào cơ thể gọi là đường phơi nhiễm hay đường hấp thu chất độc

Chất độc có thể xâm nhập vào cơ thể qua 3 đường cơ bản: qua da, qua đường tiêu hoá và qua đường hô hấp Đây là những đường hấp thu tự nhiên khi

cơ thể tiếp xúc với môi trường Súc vật có thể bị ngộ độc thuốc thủy sản theo các đường khác như tiêm, thụt trực tràng

* Chất độc xâm nhập qua da

Da là một mô phức tạp, nhiều lớp, chiếm khoảng 10% trọng lượng cơ thể

Da hầu như không thấm với phần lớn các ion và dung dịch nước, tuy nhiên lại thấm với nhiều chất độc ở pha rắn, lỏng hoặc khí

Tuỳ theo từng vùng, lớp biểu bì có độ dầy khác nhau Chỗ dầy thì nhiều keratin hơn, lớp này tạo nên hàng rào của biểu bì, nhưng đồng thời cũng là nơi

dự trữ chất độc Một số dung môi hữu cơ gây tổn hại lớp lipid (aceton,

methanol, ether) sẽ làm tăng tính thấm của da

Trang 18

12

Các chất không gây tổn hại lớp lipid (ether có chuỗi dài, dầu olive) làm giảm

tính thấm Da cũng chứa các enzym chuyển hoá thuốc, chất độc Hoạt tính chuyển hoá của toàn bộ da bằng khoảng 2 - 6% của gan

* Chất độc xâm nhập qua đường tiêu hoá

Là đường chủ yếu hấp thu các chất độc với một số đặc điểm sau:

- Có thể hấp thu một lượng lớn chất độc

- Bị chuyển hoá một phần khi qua gan lần thứ nhất

- Có pH thay đổi từ acid (1 - 3 ở dạ dày ), tăng dần tới kiềm (6 - 8 ở ruột) nên

hấp thu các chất độc có pKa khác nhau

- Có quá trình vận chuyển tích cực dễ hấp thu, nhất là khi chất độc có cấu trúc giống

với chất dinh dưỡng của cơ thể

* Chất độc xâm nhập qua đường hô hấp

2 2 Sự phân bố chất độc

Các dịch trong cơ thể được phân vào 3 gian cơ bản: nước trong huyết tương, nước trong khe gian bào và nước trong tế bào Huyết tương đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối các chất độc đã được hấp thu Chất độc sau khi được hấp thu vào máu, một phần sẽ gắn vào protein huyết tương, phần tự do sẽ qua được thành mạch để chuyển vào các mô, vào nơi tác dụng, vào môdự trữ, hoặc bị chuyển hoá rồi thải trừ Nhiều khi các sản phẩm chuyển hoá lại độc hơn chất mẹ, trở lại vòng tuần hoàn để lại được phân phối lại vào cơ quan và gây độc

Trang 19

Tương tác với các phân tử lớn

(Protein, DNA, RNA, receptor, )

Các tác dụng độc

(Di truyền, ung thư, quái thai, miễn dịch, )

Luân chuyển

và sửa chữa Phân phối lại

Chuyển hoá thành chất ít độc

Chuyển hoá thành sản phẩm liên hợp

Chuyển hoá thành chất độc

Thải trừ

Sự phân phối Chất độc xâm nhập vào cơ thể Phơi nhiễm với chất độc

Trang 20

14

* Chất độc tích lũy

- Khi nhiễm độc liên tục trong nhiều ngày dễ gây tích lũy chất độc Sự tồn lưu chất độc trong cơ thể lâu ngày khi gây ngộ độc và gây chết được gọi là tích lũy chất độc

- Tích lũy hóa học: là loại tích lũy trước khi biến thành chất không có hại

và đào thải ra ngoài một liều thì lại nhiễm thêm một liều khác mới Điều này giải thích hiện tượng tích lũy của strychnin và asen

1.3 Sự chuyển hoá chất độc

a Vai trò của sự chuyển hoá chất độc

Chất độc được coi là những chất lạ (xenobitics), không thể dung nạp được, phải

bị thải trừ

Chất độc thường là những phân tử tan được trong mỡ, không bị ion hoá vì vậy dễ thấm qua màng sinh học, thâm nhập vào trong tế bào và giữ lại trong cơ thể Muốn thải trừ, những chất này phải được chuyển hoá thành các phân tử có cực, dễ bị ion hoá, do đó sẽ ít tan trong mỡ, khó gắn vào protein, khó thấm vào

tế bào, và vì thế, tan trong nước, dễ bị thải trừ (qua thận, phân, )

* Các enzym chính xúc tác quá trình chuyển hoá chất lạ

Quá trình chuyển hóa có thể xảy ra ở một số nơi trong cơ thể với sự xúc tác của một số enzym như sau:

- Các chất lạ (xenobiotic) thường được chuyển hóa thành các dạng khác nhau nhờ hệ các men oxy hóa có chức năng hỗn hợp (MFOs - micrsomal mixed

function oxidase) Lưới nội mô trơn là nơi để MFOs khu trú và hoạt động, đặc

biệt là gan, ở đó hoạt động của enzym tăng lên đáng kể trong vòng một vài ngày cơ thể phơi nhiễm với chất độc Cytocrom P450 giữ vai trò quan trọng trong chuyển hóa nhiều xenobiotics Hệ MFO hoạt động trrước hết trên các hợp chất thân mỡ không phân cực MFOs thêm vào các nhóm chức năng có cực

và ít thân mỡ hơn

- Men protease, lipase, decarboxylase xúc tác chuyển hóa chất độc tại niêm mạc ruột

- Huyết thanh: esterase

- Vi khuẩn ruột: reductase, decarboxylase

- Hệ thần kinh trung ương: mono amin oxydase, decarboxylase

b Các phản ứng chuyển hoá chính

Các phản ứng chuyển hóa chất độc dược chia làm 2 giai đoạn (2 pha):

* Chuyển hóa giai đoạn 1

Đây là các phản ứng chuyển hóa giai đoạn 1, chuẩn bị xenobiotic cho chuyển hóa giai đoạn 2

Trang 21

- Các phản ứng giai đoạn 1 có thể được kích hoạt nhờ phản ứng enzym

Hệ MFOs được kích hoạt để tăng hoạt tính bằng sự giải phóng trước đó 1 hợp chất ngoại lai y hệt hay tương tự, thường lần lượt tăng quy trình chuyển hóa sinh học của những hợp chất này Barbiturat, hydro carbon, halogen và steroid nội sinh lẫn tác nhân gây cảm ứng enzym MFOs

- Chuyển hóa giai đoạn 1 có thể bị ức chế (ví dụ bằng pyperonyl, butoxide,

được sử dụng để tăng tính độc trong côn trùng)

Trang 22

16

Qua phản ứng ở pha này, chất độc ở dạng tan được trong mỡ sẽ trở nên có cực, dễ tan trong nước Nhưng về mặt tác dụng sinh học, chất độc có thể mất hoạt tính, hoặc chỉ giảm hoạt tính, hoặc đôi khi là tăng hoạt tính, trở nên có hoạt tính

và các mô khác (phổi, thận, ) cũng có các enzym này

+ Phản ứng khử carboxyl (khử COO): decarboxylase

* Chuyển hóa giai đoạn 2

Là một chuỗi các phản ứng liên hợp có liên quan đến những xenobiotic đã được chuyển hóa ở giai đoạn 1 thành những phân tử có cực, mang nhóm chức hydroxyd, amino, carboxyl hoặc halogen để có thể tham gia dễ dàng các phản ứng liên hợp với các chất chuyển hoá nội sinh như đường, acid amin, glutathion, sulfat,

- Quá trình liên hợp tạo ra một hợp chất ít thân mỡ hơn và tan nhiều trong nước hơn

Các phản ứng liên hợp chính: các phản ứng liên hợp với axit glycuronic,

axit sulfuric, axit amin (chủ yếu là glycin), phản ứng acetyl hoá, methyl hoá

Các phản ứng này đòi hỏi năng lượng và cơ chất nội sinh

Một số chất hoàn toàn không bị chuyển hoá, đó là những hợp chất có cực

cao (như axit, base mạnh), không thấm qua được lớp mỡ của microsom Phần

lớn được thải trừ nhanh như hexamethonium, methotrexat

Một số hoạt chất không có cực cũng có thể không bị chuyển hoá; barbital, ether,

halothan, dieldrin

* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá chất độc

- Bệnh gan: gan là cơ quan chuyển hóa quan trọng nhất của cơ thể Các

bệnh làm giảm quá trình chuyển hóa sinh học ở gan là xơ gan, nhiễm độc gan,

caxinom và ứ mật (sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng) do làm giảm hoạt động của

MFOs

Trang 23

- Sự tái sinh các mô gan đã bị tổn thương làm tăng quá trình chuyển hóa sinh học

- Sự định vị chất độc trong các mô cùng với hoạt động MFOs có thể ảnh

hưởng đến quá trình chuyển hóa sinh học Các tác nhân bị phân chia mạnh trong

mô mỡ, xương hay não sẽ không tham gia các quá trình chuyển hóa sinh học

- Tuổi súc vật: súc vật sơ sinh và súc vật già có thể thiếu enzym cần thiết

cho quá trình chuyển hóa sinh học

- Thiếu chất dinh dưỡng dẫn đến thiếu các chất hóa học cần thiết cho quá

trình tổng hợp các enzym hay các chất liên hợp ví dụ: thiếu chất khoáng như canxi, đồng, sắt, magie, kẽm, các vitamin E, C, B và các protein

Trang 24

18

Loài, giống gia súc khác nhau, hoạt động của enzym ở giai đoạn 1 và 2

khác nhau (ví dụ, hoạt động của enzym N - dimethylation ở chuột lang yếu hơn

so với các động vật khác)

- Tính biệt có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa sinh học ở con đực,

hoạt lực của MFO thường cao hơn, liên quan đến steroid nội sinh như testosterol

độc Chất độc nhiễm qua đường miệng sẽ qua gan trước khi vào hệ cơ quan khác làm tăng khả năng chuyển hóa sinh học

- Nhiệt độ cơ thể giảm làm giảm hoạt tính của các enzym microsom

- Sự biến đổi của các cytocrom P 450 và glutathione khử (GSH) theo ngày

và đêm liên quan đến quá trình biến đổi sinh học

- Chất gây cảm ứng enzym chuyển hoá: có tác dụng làm tăng sinh các

enzym ở microsom gan, làm tăng hoạt tính các enzym này

1.4 Sự đào thải chất độc

Chất độc thường được thải trừ khi đã qua chuyển hoá

a Đào thải chất độc qua thận

Đây là đường thải trừ quan trọng nhất của các chất tan trong nước, có trọng lượng

Tái hấp thu ở ống thận: là quá trinh khuếch tán thụ động qua ống thận, quá trình này xảy ra ở ống lượn gần và ống lượn xa Các chất tan trong lipid, không bị ion hóa ở pH nước tiểu tuy đã thải trừ trong nước tiểu ban đầu lại được tái hấp thu vào máu

* ý nghĩa lâm sàng

Làm tăng thải trừ để điều trị nhiễm độc: kiềm hoá nước tiểu, làm tăng độ ion hoá của phenobarbital, tăng thải trừ khi bị nhiễm độc phenobarbital

b Đào thải chất độc qua mật

Sau khi chuyển hoá ở gan, các chất chuyển hoá có trọng lượng phân tử lớn hơn 300 sẽ thải trừ qua mật để theo phân ra ngoài Phần lớn sau khi bị chuyển hoá thêm ở ruột sẽ được tái hấp thu vào máu để thải trừ qua thận

Một số chất sau khi thải trừ qua mật xuống ruột lại được tái hấp thu về

Trang 25

gan theo đường tĩnh mạch gánh để lại vào vòng tuần hoàn, được gọi là chất có chu kỳ ruột - gan Những chất này tích luỹ trong cơ thể, làm kéo dài tác dụng

(morphin, tetracylin, digitalis trợ tim )

c Đào thải chất độc qua phổi

Các chất độc thể hơi, có tính chất bay hơi thải trừ qua phổi, bao gồm: (1)

Các chất bay hơi như rượu, tinh dầu (eucalyptol, menthol) (2)Các chất khí:

halothan Ether etylic

Trang 26

20

d Đào thải chất độc qua sữa

Các chất tan mạnh trong lipid (các alcaloid, barbiturat, các chất chống

viêm phi steroid, tetracycilin ), có trọng lượng phân tử dưới 200 thường dễ dàng

thải trừ qua sữa

Vì sữa có pH hơi acid hơn huyết tương nên các chất là acid yếu có nồng độ thấp hơn

và các chất là base yếu có thể nồng độ trong sữa hơi cao hơn huyết tương

Câu hỏi ôn tập

1 Khái niệm độc chất học và các lĩnh vực nghiên cứu của độc chất học?

2 Đối tượng, nhiệm vụ của độc chất học thủy sản?

3 Khái niệm chất độc và phân loại chất độc?

Trang 27

CHƯƠNG II ĐỘC CHẤT HỌC THỦY VỰC

Nội dung chương 2 bao gồm các kiến thức về các bước chẩn đoán ngộ độc Các biện pháp phòng và điều trị ngộ độc cũng được giải thích cụ thể trong chương này

1 Chẩn đoán ngộ độc

1.1 Khái niệm

Chẩn đoán ngộ độc là việc đánh giá, phát hiện các dấu hiệu, triệu chứng của sự rối loạn chức năng của các cơ quan, tổ chức của cơ thể để tìm ra nguyên nhân gây ngộ độc, nhằm điều chỉnh những tác dụng của chất độc, xử lý và điều trị ngộ độc, nhiễm độc

Chẩn đoán ngộ độc bao gồm các loại sau:

a Chẩn đoán lâm sàng (clinical diagnosis): được thực hiện trước tiên để xác

định các hệ cơ quan nào bị ảnh hưởng bởi chất độc (ví dụ: sốc, động kinh

nghiêm trọng, ngừng hô hấp…), theo dõi và khống chế các triệu chứng để cứu

sống bệnh súc

b Chẩn đoán tổn thương bệnh lý (lesion diagnosis) được thực hiện để mô tả

những biến đổi

bệnh lý ở mô, tổ chức (ví dụ: hoại tử trung tâm tiểu thùy gan)

c Chẩn đoán bệnh căn (etiologic diagnosis): Đây là chẩn đoán quan trọng nhất,

nhằm xác định nguyên nhân gây độc hoặc nguồn gây độc, là cơ sở để tiến hành các biện pháp trị liệu và phòng chống cụ thể Trong quá trình chẩn đoán nguyên nhân gây ngộ độc cho súc vật cần lưu ý:

- Khi chưa chẩn đoán được nguyên nhân gây độc không nên sử dụng các loại thuốc đối kháng để giải độc

- Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tránh những chất độc tồn đọng trong chuỗi thức ăn

thông qua việc khẳng định được chất cụ thể gây độc

- Xác định trách nhiệm và tránh được thiệt hại do ngộ độc, nhiễm độc gây ra

1.2 Chẩn đoán ngộ độc

Ngộ độc là loại bệnh xảy ra hàng loạt với một lượng lớn súc vật Vì vậy việc chẩn đoán sớm và chính xác là bước rất quan trọng để phòng và điều trị

ngộ độc có hiệu quả Chẩn đoán ngộ độc bao gồm các bước sau:

a Thu thập thông tin về nguyên nhân và điều kiện gây ngộ độc

Vai trò của cán bộ thủy sản là tìm được nhiều thông tin có thể sử dụng trong thực tế chẩn đoán Qua hỏi trực tiếp những người chăn nuôi, chủ gia súc Thu các thông tin về loài, số lượng súc vật bị ngộ độc, loại thức ăn cho gia súc ăn trước đó vài tuần và thời điểm xảy ra ngộ độc

Trang 28

Gia súc, gia cầm còn bị ngộ độc bởi các hóa chất BVTV, như các hợp chất clor hữu cơ, phosphor hữu cơ, một số hợp chất vô cơ như carbamid, muối

ăn, sulfat đồng, calci và natri asenat, natri fluorid, phosphot kẽm các chất hóa học là phân hữu cơ cũng có thể gây ngộ độc Ngoài ra súc vật còn bị ngộ độc

bởi nọc độc khi bị động vật độc cắn (rắn, nhện, ong )

Cần xác định xem có xảy ra sự phơi nhiễm với loại chất độc (độc tố) đã được

biết đến hoặc bị nghi ngờ không?

Hỏi chủ gia súc những thay đổi về địa điểm, nguồn thức ăn, việc sử dụng

chất hoá học (ví dụ: phun thuốc diệt côn trùng, bón phân cho đồng cỏ, sử dụng

thuốc thủy sản điều trị cho súc vật) và những ứng dụng khác có thể gây ngộ độc,

nhiễm độc (bảng 2.1) Nếu cần thiết phải kiểm tra nơi nuôi nhốt súc vật

Sự có mặt của một loại chất độc trong môi trường hay thậm chí súc vật đã

ăn phải chất độc đó chưa đủ để khẳng định được nguyên nhân gây ngộ độc Đây mới chỉ là những gợi ý cho phương hướng điều tra tiếp theo, đó là:

- Khẳng định được sự phơi nhiễm với chất độc là đủ để gây ngộ độc

- Ghi lại các triệu chứng lâm sàng, những biến đổi về trao đổi chất, biến đổi ở các mô điển hình trong quá trình súc vật phơi nhiễm với với chất độc bị nghi ngờ

- Xác định mức độ gây độc của chất độc đối với cơ quan hay mô đích

* Tiểu sử tình trạng sức khoẻ của bệnh súc

Tình hình bệnh tật trong 6 tháng trước khi súc vật bị ngộ độc

Tình hình phơi nhiễm với chất độc của các súc vật khác trong vòng 30 ngày trước khi

xảy ra ngộ độc

Lịch tiêm phòng Các biện pháp trị liệu, phun, tẩy thuốc trong 6 tháng về trước Lần khám bệnh cuối cùng của bác sỹ

thủy sản Quy mô đàn (đối với súc vật

nuôi theo đàn) Súc vật mua về hay

được nuôi tại gia đình

Trang 29

Tình trạng ốm, chết của đàn (đối với súc vật nuôi theo đàn)

Cá thể đầu tiên bị ngộ độc (bị ốm) được phát hiện: cần tìm hiểu con vật

này đã sống khoẻ mạnh trong thời gian bao lâu? Hiện tượng ngộ độc đã xuất hiện trong đàn khi nào?

thao cuồng (có xu hướng di chuyển về phía trước, chân trước co và đạp

mạnh), co giật, thở mạnh, co giật kiểu động kinh và kiểu giật rung thường quan

sát thấy ở ngộ độc chì, atropin, veratrin, anconitin và picrotoxin

Sau trạng thái co giật (hoặc ngay lập tức) có biểu hiện ức chế, thể hiện tê liệt

và liệt

Các dấu hiệu về hô hấp thường là thở gấp, thở khó, ngạt thở, ho, chảy nước mũi, tím

tái, bồn chồn

Các triệu chứng về tim mạch: mạch nhanh, yếu

Các triệu chứng về tiết niệu: có hiện tượng đái nhiều, đái dắt, xuất hiện albumin niệu,

huyết niệu, tế bào biểu mô thận trong nước tiểu hoặc bí đái trong một số trường hợp

Khi bị rối loạn trao đổi khí, súc vật rất khó thở, mạch nhanh, kết mạc

mắt đỏ, co giật, thân nnhiệt hạ, hôn mê, chết (ngộ độc các sản phẩm thực vật

chứa cyano, ngộ độc nitrat, nitrat )

Rối loạn đông máu khi bị rắn độc cắn (do độc tố cardiotoxin trong nọc rắn)

Viêm dộp da do chất nhạy cảm quang học chứa trong một số loại cỏ làm thức

ăn chăn

nuôi (Fagopyrum vulgare, Fagopyrum esculentum)

Những triệu chứng lâm sàng thường là những thông tin có giá trị được sử dụng để chẩn đoán ngộ độc Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng cũng chưa đủ để kết luận về chất gây ngộ độc vì hàng ngàn các chất hoá học khác nhau có thể gây ra những triệu chứng tương tự ở một số cơ quan nhất

định của cơ thể (nói cách khác là cơ quan và mô có thể có phản ứng tương tự với

nhiều chất hoá học khác nhau)

Nhiều bệnh do nhiễm khuẩn, rối loạn nội tiết, rối loạn trao đổi chất gây ra các triệu

chứng giống ngộ độc (ví dụ như nôn, động kinh…)

Sự tiến triển của các triệu chứng lâm sàng cũng có giá trị chẩn đoán trong ngộ độc Bác sĩ thủy sản khi khám bệnh có thể chỉ thấy được một trong các giai đoạn tiến triển của căn bệnh Vì vậy cần hỏi chủ gia súc về những triệu chứng khác nếu có

Thời gian xuất hiện và thời gian duy trì các triệu chứng lâm sàng có thể giúp nhận

dạng một vài chất độc và loại bỏ những chất độc khác

Tỷ lệ súc vật bị ngộ độc và tỷ lệ chết cũng có thể giúp xác định loại chất

Trang 30

24

độc, sự tồn tại và hàm lượng của chất độc

Ngoài ra còn có các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng mẫn cảm của súc vật với chất bị nghi là gây độc, đó là: (1) Loài gia súc; (2) Tính biệt; (3)

Sự tương tác giữa chất độc với các chất dinh dưỡng, các loại thuốc điều trị hay chất hoá học khác; (4) Stress hay tổn thương bệnh lý ở cơ quan, tổ chức trước khi bị ngộ độc

- Bản chất của chất độc có ý nghĩa trong việc đánh giá tiên lượng Loài vật ăn cỏ khi bị ngộ độc độc tố thực vật thường có tiên lượng tốt hơn ngộ độc các chất độc có nguồn gốc khoáng hoặc tổng hợp, do khó xác định được lượng các chất này đã hấp thu vào máu và chúng thường được chậm thải trừ ra

khỏi cơ thể (ví dụ, asen, chì, thủy ngân )

- Các triệu chứng niêm mạc dạ dày, ruột xuất huyết nhất là ở súc vật non, suy giảm

hoạt động tim mạch, trụy tim mạch

- Súc vật bị ngộ độc nhưng nôn được có tiên lượng tốt hơn là không nôn

b Kiểm tra các tổn thương bệnh lý

Việc xác định chính xác các cơ quan, mô và các qúa trình trao đổi chất chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi chất độc là một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán ngộ độc Đặc tính của các hệ cơ quan có thể sử dụng để đưa ra những chẩn đoán phân biệt phù hợp với những dấu hiệu lâm sàng Các chất độc khác nhau

có thể gây những biến đổi đặc trưng ở các cơ quan, tổ chức

Nếu bệnh súc bị chết, cần mổ khám kỹ và thu thập các mẫu thích hợp Việc

mổ khám tổng thể xác bệnh súc cần được thực hiện bởi chuyên gia độc chất học và chuyên gia bệnh lý

Những tổn thương bệnh lý do ngộ độc thường là: viêm dạ dày ruột, gan nhiễm mỡ, hoại tử giữa tiểu thùy gan, sưng vỏ thận, hemoglobin niệu, tim phì đại, tích nước xoang ngực, phù kẽ phổi, mắt sưng tấy Nhiều chất độc gây các tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể đặc trưng

Chất chứa dạ dày, ruột cần được kiểm tra về màu sắc, sự có mặt của cây cỏ, các vật lạ,

viên thuốc, nang thuốc

Các mẫu tổ chức cần được bảo quản trong dung dịch đệm formalin 10% để kiểm tra

bệnh tích vi thể

Ribac và Gorii dựa vào tác động của chất độc đến các cơ quan của cơ thể

và những biến đổi bệnh lý ở các cơ quan này, chia chất độc thành 6 nhóm:

- Chất độc đường ruột: gồm: hợp chất phosphor, asen, thủy ngân, bari,

bismus và một số saponin, alcaloid (morphin, protoveratrin ) glycoalcaloid

Trang 31

(solanin ) Các chất độc này biến đổi chủ yếu ở ruột già, gan và các cơ quan

tiêu hóa khác

- Chất độc thận: tổn thương chủ yếu ở nhu mô thận Gồm phosphor, asen, sắt, đồng,

chì, thủy ngân và một số thực vật gây độc

- Chất độc máu: Máu màu socola: methemoglobin- nitrat, nitrit Gây hủy huyết

(hemolyse): saponin Tăng độ nhớt của máu: toxanbumin

- Chất độc gây dãn mạch, hạ huyết áp: làm tổn thương thành mạch: các muối

Biến đổi bệnh lý thường rõ nét trong các trường hợp ngộ độc mạn tính

- Ngộ độc alcaloid thường đi liền với các biến đổi bệnh lý như: khó thở, các

cơ quan ứ máu, xuất huyết Khi mổ khám xác định động vật bị ngộ độc, có thể thấy mùi đặc trưng

c Các xét nghiệm cơ bản cần thiết

Các xét nghiệm cơ bản giúp phát hiện mức độ huỷ hoại đặc trưng đối với các cơ quan, tổ chức, góp phần xác định chất gây độc và định hướng trong điều trị Các xét nghiệm này bao gồm:

* Các xét nghiệm máu: (1) Các chỉ tiêu sinh lý máu: Số lượng hồng cầu,

bạch cầu, công thức bạch cầu Tốc độ máu đông (prothrombin time- PT,

thrombopastin time - PTT); (2) Các chỉ tiêu sinh hóa máu: hoạt độ một số

enzym như SGOT, SGPT, choliesterase Điện giải máu (canxi, magiê, kali,

natri) pH máu, độ kiềm dự trữ trong máu, độ thẩm thấu huyết tương (osmolality)

* Các xét nghiệm nước tiểu: huyết niệu, bilirubin, hemoglobin, trụ

niệu và oxalat Ngoài ra trong những điều kiện cho phép cần triển khai:

* Điện tâm đồ: trong ngộ độc những chất gây rối loạn nhịp tim như digitalis,

quinidin,

Trang 32

- Nấm: Xác định sự có mặt của nấm mốc gây độc và độc tố của chúng

- Vi khuẩn: Xác định sự có mặt của vi khuẩn gây độc và độc tố của chúng

- Phân tích hóa nghiệm: Xác định chất độc trong thức ăn, nước uống, trong chất chứa

dạ dày, dạ cỏ, diều (gia cầm), dịch ruột, một số cơ quan nội tạng như gan, thận

- Sinh học: cho súc vật ăn những thức ăn nghi có nhiễm chất độc, xác định độ gây độc

của thức ăn bằng một số phương pháp trong độc chất học

Sự có mặt, hàm lượng của chất độc, độc tố hay dạng chuyển hoá của nó trong các tổ

chức thường là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định ngộ độc

Để chẩn đoán ngộ độc, các phân tích hoá nghiệm không nên sử dụng độc lập

vì một số

lý do sau:

- Hàm lượng hoá chất độc phát hiện thấy trong mô thường tương thích với tình trạng ngộ độc; tuy nhiên, một số hoá chất gây ngộ độc nhưng lại có mặt

trong tổ chức ở hàm lượng rất thấp (dưới giới hạn kiểm tra)

- Một số chất hoá học (ví dụ như các hợp chất phospho hữu cơ) có thể gây

ngộ độc mà không phát hiện thấy trong mô bằng các phương pháp phân tích thông thường

- Một số hoá chất độc có thể tích luỹ với hàm lượng cao ở một số mô nhất

định mà không gây ngộ độc (ví dụ: hợp chất clo hữu cơ tích lũy trong mô mỡ )

- Sự kết hợp của chất độc với các tác nhân hoặc chất dinh dưỡng khác có

thể làm giảm hoạt tính chất độc lưu giữ trong mô (ví dụ như thuỷ ngân có thể kết

hợp với selen và protein tạo thành một phức hợp lưu trữ trong mô mà không gây độc)

* Các phương pháp xét nghiệm độc chất hiện nay bao gồm:

- Sắc ký lớp mỏng: chủ yếu định tính chất độc có thể phát hiện hầu hết

các chất gây độc thông thường như thuốc trừ sâu (PPHC, clo hữu cơ), thuốc diệt chuột, thuốc ngủ, các chất độc trong cây (alcaloid, glycosid)…

- Các máy quang phổ khối, sắc ký khí, sắc ký lỏng hiệu năng cao… có thể định lượng nồng độ chất độc, tuy nhiên chỉ một số phòng thí nghiệm hiện đại mới được trang bị những máy này

1.3 Lấy mẫu cho các xét nghiệm chẩn đoán ngộ độc

Trang 33

a Các nguyên tắc lấy mẫu kiểm tra ngộ độc

* Các mẫu bệnh phẩm: Khi lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm, cần lưu ý:

- Máu là môi trường chính để vận chuyển chất độc trong cơ thể

- Lấy mẫu chất nôn hoặc phân khi súc vật bị ngộ độc qua đường tiêu hóa Một số chất độc được đào thải qua phân

- Nước tiểu là đường chính bài tiết nhiều chất độc, độc tố

- Da và tóc rất quan trọng đối với các trường hợp phơi nhiễm với chất độc qua da

Trong tóc tích luỹ kim loại và một số hợp chất hữu cơ gây độc mạn tính

* Các cơ quan quan trọng cần phải lấy mẫu để xét nghiệm chất độc:

- Gan là cơ quan chính tham gia chuyển hoá và bài tiết chất độc

- Thận là đường bài tiết quan trọng đối với nhiều chất độc

- Dạ dày và ruột non phản ảnh ngộ độc do mới phơi nhiễm với chất độc qua đường

miệng nhưng không quan trọng đối với những chất tích lũy hoặc gây ngộ độc mãn tính

* Các mẫu từ môi trường: Kết quả xét nghiệm các mẫu môi trường góp

phần tìm ra nguồn chất độc hoặc là những gợi ý về nguồn phơi nhiễm Các mẫu sẽ bao gồm:

- Những mẫu thức ăn, nước mới được sử dụng

- Cây cỏ bị nghi là gây ngộ độc

còn tồn tại đến thời điểm kiểm tra

Việc bảo quản mẫu, gửi xét nghiệm là rất cần thiết để có thể tiến hành phân tích một cách đầy đủ Các mẫu bệnh phẩm được gửi xét nghiệm kèm theo danh

sách mẫu, các phát hiện trong quá trình chẩn đoán, kết quả mổ khám… (bảng

2.3) Mẫu bệnh phẩm phải được giữ sạch, không bị hư hỏng Mỗi mẫu được

đựng trong túi nhựa hoặc bình thủy tinh trong riêng biệt, vô trùng Các mẫu cần xét nghiệm thuốc trừ sâu, các hợp chất hữu cơ hàm lượng thấp được đựng trong

lọ thủy tinh tốt hơn là túi nhựa

Trang 34

28

Việc bảo quản các mẫu bệnh phẩm là rất quan trọng Hầu hết các mẫu cần được làm lạnh trừ khi những phân tích cụ thể đòi hỏi cách xử lý khác Làm lạnh mẫu nhằm tránh cho các chất độc khỏi bị phân hủy, tránh được sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc, ngăn không cho cho các tác

nhân dễ bay hơi biến mất (ví dụ như amoni hay cyanide) Tuy nhiên nhiệt

độ lạnh có thể ức chế hoạt tính một số men trong các test nhạy cảm, làm kết quả không chính xác Vì vậy, nếu có nghi ngờ về biện pháp bảo quản cần sự

1.4 Chẩn đoán phân biệt

Để có thể can thiệp và xử lý kịp thời khi súc vật bị ngộ độc do các nguyên nhân khác nhau, cần chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây độc và chẩn đoán phân biệt với những bệnh khác Bệnh do ngộ độc thường có những đặc điểm sau:

- Ngộ độc cấp: Súc vật ốm nặng đột ngột, ốm đồng loạt nhiều con, nguyên nhân không rõ, khi đã loại trừ những nguyên nhân như cảm lạnh, bệnh truyền nhiễm và thường bị chết

- Bệnh không lây, mắc bệnh đồng loạt, triệu chứng và các biến đổi bệnh lý của các cơ quan đều giống nhau, sau khi loại bỏ được nguyên nhân được nghi là gây độc thì bệnh ngừng lan ngay

- Xuất hiện các triệu chứng đường tiêu hóa (tiết nước bọt, nôn, ỉa chảy

hoặc táo bón, đau bụng, bỏ ăn ) và các triệu chứng thần kinh (hung hãn kích thích hoặc ủ rũ, co giật, run cơ, vân động loạng choạng, liệt, hôn mê )

- Nhiều trường hợp gây vàng da thường là do gan bị tổn thương (ngộ độc

các chất khoáng)

- Thân nhiệt bình thường hoặc thấp hơn, rất ít khi sốt

Trong một số trường hợp ngộ độc, mùi đặc trưng của chất độc rất có ý nghĩa chẩn đoán Mùi trong hơi thở, hơi chọc từ dạ cỏ hoặc mùi từ chất nôn, nước tiểu Ví dụ Hexacloran: mùi mốc đặc trưng

Nếu mổ khám sớm có thể phát hiện thấy mùi ở các cơ quan nội tạng như: dạ dày, ruột, phổi

Kiểm tra nơi xảy ra ngộ độc, thức ăn còn thừa, những thứ đã bỏ rác, các chất hóa học

gần với súc vật cũng giúp phát hiện được nguyên nhân gây ngộ độc

- Ngộ độc cần được phân biệt với các bệnh truyền nhiễm Phân biệt được với bệnh

Trang 35

truyền nhiễm là không sốt

- Các kết quả xét nghiệm về vi sinh vật, ký sinh trùng và độc chất học có giá trị quyết định để chẩn đoán phân biệt với bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng

- Các bệnh thiếu dinh dưỡng: không phát hiện thấy các chất độc, đồng thời phát hiện thấy thiếu thành phần vitamin, khoáng trong thức ăn Súc vật non thường hay mắc bệnh này Bệnh thiếu dinh dưỡng thường ở dạng mạn tính còn ngộ độc trong

đa số các trường hợp là cấp tính

- Khi phát hiện thấy chất độc trong phân, nước tiểu, máu nhưng không xuất hiện các triệu chứng ngộ độc, chưa thể chẩn đoán là ngộ độc Chỉ khi cùng với sự có mặt của chất độc trong các xét nghiệm là các triệu chứng lâm sàng đặc

trưng mới xác định là ngộ độc bởi 1 loại chất độc (ví dụ ngộ độc mạn tính chì,

thủy ngân )

2 Điều trị ngộ độc

Điều trị ngộ độc ở vật nuôi có thể thực hiện theo 3 nguyên tắc: (1) Điều trị

nguyên nhân (Etiologic) (2) Điều trị theo cơ chế sinh bệnh học (pathogenetic) (3) Điều trị triệu chứng (symptomatic)

Khi súc vật bị ngộ độc cấp phải xử trí và triển khai cấp cứu chống độc càng sớm càng tốt Tránh cho súc vật tiếp tục tiếp xúc với nguồn gây độc băng cách di chuyển súc vật khỏi nơi ô nhiễm Ngừng ngay cho thức ăn hoặc nước uống nghi có độc Chủ gia súc và những người có thể bị ngộ độc khi chăm sóc

bệnh súc (ví dụ khi súc vật bị ngộ độc do khí độc trong chuồng nuôi hoặc da,

lông súc vật bám các thuốc trừ sâu, thuốc diệt ngoại ký sinh trùng…)

Các phương pháp điều trị nhằm mục đích:

- Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể

- Phá hủy hoặc trung hòa chất độc

- Điều trị các rối loạn triệu chứng (giải quyết các hậu quả của ngộ độc)

Cần lưu ý là khi đã xuất hiện các dấu hiệu của ngộ độc gây ảnh hưởng đến các chức năng sống của bệnh súc thì việc điều trị triệu chứng, nâng cao sức đề kháng của cơ thể là quan trọng nhất và bao giờ cũng được áp dụng trước tiên

(trước khi tiến hành các biện pháp loại trừ hoặc thải trừ chất độc ra khỏi cơ thể)

2.1 Loại chất độc ra khỏi cơ thể

Việc loại chất độc khỏi cơ thể bằng nhiều biện pháp càng nhanh càng tốt nhằm giảm tối đa sự hấp thu chất độc vàp máu, đồng thời tăng thải chất độc ra ngoài Đối với súc vật bị ngộ độc qua đường tiêu hóa, biện pháp này có hiệu quả nhất trong vòng 2 giờ đầu bị ngộ độc, sau 4 giờ sẽ ít tác dụng

a Loại chất độc bám trên da, mắt

Làm sạch da, lông súc vật bằng nước ấm, xà phòng nếu chất độc bám vào da, lông Súc vật lông dài thì cắt bớt Nếu chất độc bám vào mắt cần phun rửa mắt liên tục bằng nước sạch hoặc nước muối sinh lý 0,9% từ 10 đến 15 phút

Trang 36

30

Chất độc là acid hay base cần duy trì pH= 6,5 - 7,5 sau khi rửa mắt

b Loại chất độc qua đường tiêu hóa

* Gây nôn

Xử lý ngay vài phút sau khi súc vật ăn hoặc uống phải chất độc

Chống chỉ định trong các trường hợp sau:

- Loài gậm nhấm, thỏ, ngựa và súc vật nhai lại hoặc không thể nôn sinh lý hoặc gây

nôn không an toàn và không hiệu quả

- Bệnh súc bị hôn mê, bị động kinh, co giật có thể bị ngạt thở trong khi gây nôn

- Bệnh súc bị ngộ độc xăng, dầu hoặc các chất độc bay hơi dễ bị viêm phổi nếu gây nôn

* Hấp phụ chất độc trong dạ dày, ruột

Than hoạt hấp phụ các chất độc, giảm thiểu tác dụng độc hại Hấp thụ hầu hết các chất độc, thuốc, thực ăn có trong dạ dày, ruột non Có hiệu quả nhất với các phân tử lớn, không phân cực Một số chất hấp thụ kém với than hoạt, đó là: sắt, lithium, kali, cyanide, acid muối và rượu

Chống chỉ định: Không dùng cho bệnh súc hôn mê, co giật trừ khi có điều

kiện đã được đặt ống nội khí quản và cho thuốc chống co giật

Liều lượng than hoạt tính: 2 - 5 g/kg thể trọng hòa trong nước theo tỷ lệ 2g/5ml nước

Theo tài liệu của Nikov: ĐGS: 400 - 700 g, TGS: 30 - 80g/con

+ Các chất nhuận tràng:

Các chất này kích thích nhu động ruột, thải những chất chưa bị hấp phụ hết bởi than

hoạt, giảm hấp thu chất độc trong ruột và ngăn bị táo bón do than hoạt

- Magie sulfat và natri sulfat: liều lượng 250 mg/kg pha dung dịch 6 - 10% Tác dụng sẽ nhanh hơn nếu cho cùng một lượng nước lớn - dung dịch

- Sorbitol 70%: Liều lượng 3 ml/kg per ose

- Lợn, chó, mèo dùng chất tẩy dầu như dầu thầu dầu, tuy nhiên các chất tẩy dầu chống chỉ định khi ngộ độc các chất phosphor, santonin, DDT, phosphor hữu cơ hoặc những chất độc tan trong dầu

+ Thụt trực tràng:

Nên kết hợp thụt trực tràng với rửa dạ dày, thường dùng dung dịch NaCl 9‰ 1 - 2

Trang 37

lít/giờ

c Thải chất độc qua đường khác

* Qua đường hô hấp

Một số chất độc ở thể khí hoặc dễ bay hơi có thể loại nhanh chóng ra khỏi

cơ thể bằng đường hô hấp Để con bệnh nằm ở nơi thoáng, mát (trừ trường hợp

ngộ độc những chất gây phù phổi: phosgen, clo, SO 2 ) Có điều kiện dùng máy

trợ hô hấp nồng độ oxy 50 %

* Qua đường thận

+ Để thải nhanh chất độc ra khỏi cơ thể dùng các chất lợi tiểu, chất gây toát mồ hôi như liqmor kali acetic, diuretin , dùng pilocarpin ở trạng thái tim phổi bình thường

- Truyền nhiều dịch, có thể cho dung dịch đường ưu trương, thuốc lợi niệu

(nếu không

bị bệnh thận) Chú ý là khi đái nhiều có thể mất chất điện giải Na+, K+, Cl-

- Một số chất độc có tính acid yếu thường đào thải nhanh trong môi

trường kiềm (barbiturat) hoặc giảm tác dụng ở môi trường kiềm (phosphor hữu

cơ); thường đưa dung dịch kiềm vào cơ thể bệnh súc nhưng cần theo dõi pH của

máu không để vượt quá 7,6 vì nếu kiềm quá sẽ ức chế hô hấp Một số chất độc giảm tác dụng trong môi trường acid nhưng trong lâm sàng giảm pH của máu dễ gây biến chứng nên ít áp dụng để điều trị

- Trong nhân y dùng phương pháp lọc máu bằng thận nhân tạo Phương pháp này nhanh hơn nhưng rất tốn kém

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày các bước chẩn đoán ngộ độc ở vật nuôi?

2 Các nguyên tắc lấy mẫu và bảo quản mẫu cho xét nghiệm chuẩn đoán ngộ độc?

3 Chuẩn đoán phân biệt bệnh do ngộ độc với các bệnh khác?

Trang 38

32

CHƯƠNG III HẤP THỤ, CHUYỂN HOÁ, ĐÀO THẢI VÀ TÍCH TỤ ĐỘC CHẤT Ở THUỶ SINH

VẬT

Nội dung chính của chương: Giới thiệu về nguyên nhân, độc tính, cơ chế gây độc cũng như những triệu chứng, bệnh tích điểu hình đặc trưng của từng kim loại nặng trên từng loại vật nuôi Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng trị kịp thời, phù hợp với từng loại chất độc khi động vật bị ngộ độc kim loại nặng và các chất độc vô cơ khác có lẫn trong môi trường, thức ăn, nước uống hay dùng thuốc quá liều

1 Đại cương

Chất độc vô cơ có khá nhiều, trong số đó nhiều nguyên tố vô cơ là chất nguy hiểm, gây độc cho môi trường nhưng lại là các nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của sinh vật trên trái đất: cây trồng, động vật nuôi nông nghiệp và cả con người

Để thấy rõ mặt tích cực cũng như tiêu cực của các kim loại nặng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, đồng thời giảm bớt thiệt hại, Schwart đã dùng cụm

từ "cửa sổ nồng độ - concentration window" để vạch ra giới hạn nhân tạo giữa 3 mức khác nhau

- Mức vi lượng cần thiết nhằm duy trì, đảm bảo sự sống

- Mức nhỏ hơn vi lượng cần thiết (thiếu hụt) gây các rối loạn chuyển hóa cho

cơ thể

- Mức cao hơn vi lượng cần thiết - nhiễm độc, gây tác dụng phụ

Như chúng ta đã biết, ngay cả những nguyên tố rất độc như asen, chì, cadimi cũng đòi hỏi một mức vi lượng cần để duy trì và phát triển cơ thể sống

1.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng

Nguyên liệu dùng trong chế biến phân bón cho cây trồng, thức ăn chăn nuôi công nghiệp

Các hộp kim loại dùng trong bảo quản và chứa đựng thức ăn đồ hộp: dùng hộp chì, thiếc đựng thức ăn, nếu trong đó là các sản phẩm của động vật có lẫn khí H2S sẽ hình thành chì sulphur mầu đen gây độc

Kim loại lẫn vào thức ăn trong quá trình chế biến: nấu, nướng, chứa đựng, bảo quản

Do ô nhiễm môi trường, các nhà náy hóa chất thải kim loại độc hại vào môi trường Thông qua trao đổi chất, cây trồng, động vật nuôi hấp thụ làm cho mức kim loại độc hại có trong sản phẩm cao, gây ngộ độc cho người, động vật tiếp theo

1.2 Tác hại của các kim loại nặng

Trang 39

Gây ngộ độc cấp tính như asen đễ gây chết động vật Gây ngộ độc mãn tính hay tích lũy như chì dùng trong bảo quản đồ hộp, thủy ngân

Trong bảo quản thức ăn dễ làm hư hỏng, giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm như

chỉ cần một lượng nhỏ muối kim loại cũng đủ để phân hủy các vitamin C và B1

2 Ngộ độc các chất độc vô cơ

2.1 Ngộ độc kim loại nặng

a Asen (As)

* Nguyên nhân gây ngộ độc

Asen kim loại là chất có mầu xám, ra ngoài không khí bị oxy hóa thành asen tryoxit As2O3 rất độc gọi là thạch tin Đốt cháy có mùi tỏi Asen được phân

bố rộng khắp thiên nhiên, thức ăn, nước uống, trong cơ thể động vật, thực vật, nhất là các loài nhuyễn thể Liều thấp nó được coi là nguyên tố vi lượng dùng kích thích tiêu hóa, tăng tích lũy, lông mượt, da bóng, tăng trọng nhanh, cơ xương phát triển

Asen liều cao rất độc, nó được đưa vào cơ thể động vật thông qua các đường sau:

- Rau, cỏ, sản phẩm nông nghiệp bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật như: đồng asenat,

chì và canxi asenat trị nấm, côn trùng nông nghiệp

- Các chất kích thích tăng trọng có bổ sung thêm nguyên tố vi lượng trong thức ăn

công nghiệp của thú nuôi

- Các a xit kakodylic, kakodylat - hợp chất hữu cơ của asen có hóa trị 3 hay 5 dùng trong y học, thủy sản để phòng, trị bệnh giang mai, sốt rét định kỳ, lỵ amip, ký sinh trùng đường máu

- Sử dụng nước ngầm ở vùng đất bị nhiễm asennic thiếu sự quan tâm kiểm tra

Nguyên nhân gây ngộ độc cấp tính

Ngộ độc cấp tính asen do uống nhầm thuốc, dùng thuốc quá liều (tiêm tĩnh

mạch các hợp chất hữu cơ của asen trị ký sinh trùng đường máu), do đầu độc, thức ăn bị

nhiễm asenic

Nguyên nhân gây ngộ độc trường diễn:

Trang 40

34

Trên lâm sàng ta hay gặp hiện tượng ngộ độc trường diễu do tích lũy asen

từ cỏ, rau xanh, các sản phẩm nông nghiệp Con vật có biểu hiên triêu chứng kém ăn, tiêu chảy, gầy còm, rụng lông, da khô hay có thể bị eczema

Dùng thuốc chứa các dẫn xuất của asen trị bệnh trong thời gian dài hay gặp ở chó

nhập ngoại, trâu, bò ngựa bị ký sinh trùng đường máu

Động vật ăn thức ăn xanh: cỏ, củ, rau quả chứa nhiều dư lượng thuốc trừ sâu Cỏ mọc ở vùng đất bị nhiễm asen nặng Ăn cỏ quanh nhà máy sản xuất, chế biến các hợp chất của asen

ở người, ngộ độc trường diễn do tích lũy asen là kết quả bệnh nghề nghiệp

bị nhiễm asen từ quá trình chế biến công nghiệp

Hiên nay với người, nhà nước đã có qui định hàm lượng asen tồn dư cho phép trong

củ, quả, rau xanh tối đa 1,4 ppm

Các hóa chất dùng trong công nghệ chế biến thực phẩm không được phép nhiều hơn 3ppm Nếu như các nhà sản xuất, chế biến thực phẩm thực hiện nghiêm ngặt qui định trên của nhà nước, lượng asen hàng ngày người nhận được

từ 0,025 - 0,033 mg/kg thể trọng Liều tối đa asen có thể nhận được hàng ngày ở

người 0,05 mg/kg thể trọng Tiêu chuẩn châu âu (1999/29/E.C ngày 29/4/1999)

cho phép hàm lượng asen có trong thức ăn hỗn hợp của mọi loại động vật trừ thủy sản là 2 mg/kg

* Độc tính: Liều LD 50 của natri aseniat cho uống là 42 mg/kg, còn dạng trioxid asenic là 385 mg/kg Liều gây độc của trioxid asenic gấp 3 - 10 lần so với natri aseniat LD 50 khi tiêm bắp cho chuột natri aseniat là10 - 12 mg/kg; gia cầm cho ăn 0,01 - 0,1 g; lợn, chó 0,05 - 0,1 g; dê 0,2 - 0,5 g; trâu, bò, ngựa 1,0 - 4,0 g/con Liều độc và liều gây chết của asen cách nhau tương đối xa trên cùng loài vật tùy theo dạng asen vô cơ hay hữu cơ

* Cơ chế

Hiện nay vẫn chưa xác định rõ được cơ chế tác dụng của asen Khi vào

cơ thể tùy dạng bào chế, tùy cơ địa, asen có thể chuyển từ hóa trị 3 sang hóa trị 5

và ngược lại Do vậy tác dụng của asen có lúc là khử oxy, có lúc lại oxy hóa Liều ít, asen lại thúc đẩy hoạt động của men trong tế bào

Trong cơ thể nó kết hợp với nhóm - SH của men oxy hóa nên giảm quá trình đồng hóa Khi asen có hóa trị 3 dễ kết hợp với cystein tạo phức tác dụng như chất xúc tác quá trình oxy hóa mạnh hơn cystein, với liều cao, quá trình này lại bị ức chế

Asen làm giãn mao quản, nhất là vùng đầu và ruột, nên sẽ cải thiện được tuần hoàn, tăng sự hấp thu Liều cao gây liệt mạch quản, nôn, tiêu chảy ra máu, viêm, hoại tử ruột Asen rất độc với hệ mao mạch do làm liệt thần kinh vận

Ngày đăng: 05/10/2022, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Một số thuốc bảo vệ thực vật thường dùng ở Việt Nam Tên - Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng 4.1 Một số thuốc bảo vệ thực vật thường dùng ở Việt Nam Tên (Trang 55)
Hình 4.2: Cấu trúc cơ bản của thuốc trừ sõu phospho hữu cơ - Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Hình 4.2 Cấu trúc cơ bản của thuốc trừ sõu phospho hữu cơ (Trang 63)
Hình 4.4: Cấu trúc hố hoc của một số thuốc trừ sâu clo hữu cơ - Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Hình 4.4 Cấu trúc hố hoc của một số thuốc trừ sâu clo hữu cơ (Trang 94)
Bảng 4.2: Dư lượng cho phép của một số hóa chất bảo vệ thực vật - Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng 4.2 Dư lượng cho phép của một số hóa chất bảo vệ thực vật (Trang 106)
Bảng 4.3: Tốc độ phân huỷ một số hợp chất phospho hữu cơ trong đất - Giáo trình Độc chất học thuỷ vực (Nghề: Phòng và chữa bệnh thuỷ sản - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Bảng 4.3 Tốc độ phân huỷ một số hợp chất phospho hữu cơ trong đất (Trang 106)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm