MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết:1.1.1 Tình hình thế giới: Logistics thế giới chịu tác động mạnh mẽ từ Covid-19Khác với năm 2020, khi dịch bệnh Covid-19 lan rộng ở Trung Quốc, các quốc giachâu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ
- -KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Tiểu luận giữa kỳ: PHÂN TÍCH SỰ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
TẠI CÔNG TY TNHH MOL LOGISTICS VIỆT NAM
Giảng viên:TS Phạm Mỹ Duyên
Học viên: Phạm Hữu Tâm
Lớp: Kinh tế học.
Mã số: C21602017
Trang 22.1 Vai trò của Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Logistics 12
3 ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI CÔNG TY TNHH MOL LOGISTICS VIỆT NAM 213.1 Giới thiệu tổng quan về công ty TNHH MOL Logistics Việt Nam 213.2 Các đổi mới sáng tạo tại công ty TNHH MOL Logistics Việt Nam 24
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết:
1.1.1 Tình hình thế giới:
Logistics thế giới chịu tác động mạnh mẽ từ Covid-19Khác với năm 2020, khi dịch bệnh Covid-19 lan rộng ở Trung Quốc, các quốc giachâu Âu và Bắc Mỹ làm tê liệt các nền kinh tế này, thì đến năm 2021, khi các nền kinh
tế lớn này đang trên đà phục hồi và mở cửa trở lại nhờ chiến dịch tiêm chủng trêndiện rộng, thì tại châu Á, làn sóng Covid-19 tái bùng phát mạnh mẽ tại các quốc gianhư Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia, Việt Nam và Ấn Độ, tạo ra những nútthắt mới trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một lần nữa đe dọa và kìm hãm sự phục hồicủa nền kinh tế hậu Covid-19
Bên cạnh Trung Quốc, Ấn Độ là người khổng lồ mới của nền kinh tế thế giới,vốn đã được coi là một trong những mắt xích quan trọng nhất và là lựa chọn hàngđầu trong chiến dịch chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc Chính vì vậy,biến cố Covid-19 tại Ấn Độ ảnh hưởng không nhỏ tới chuỗi cung ứng toàn cầu vàtoàn bộ nền kinh tế thế giới, và có khả năng các nhà đầu tư phải một lần nữa cânnhắc lại chuyện di dời hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Ấn Độ
Thậm chí, ngành vận tải biển quốc tế vốn phụ thuộc vào lực lượng thuyền viênkhổng lồ ở đất nước Nam Á này cũng đang bị đe dọa Theo số liệu của Văn phòngVận tải biển quốc tế (ICS), cùng với Philippines và Trung Quốc, Ấn Độ là một trongnhững nước cung cấp thuyền viên lớn nhất cho thế giới, khoảng 240.000 trong sốkhoảng 1,6 triệu thuyền viên trên toàn cầu đến từ nước này Việc các thuyền viênđến từ quốc gia này hay các thuyền viên ghé qua quốc gia này bị nhiễm Covid-19khiến ngành vận tải biển đối mặt với viễn cảnh toàn bộ thuyền viên trên tàu bị nhiễmbệnh rất nhanh, đồng nghĩa với việc phải dừng hoạt động của những con tàu này
Những hạn chế thay đổi thuyền viên nêu trên có thể gây ra cú sốc cho ngành vận tảibiển, vốn vận chuyển 80% giá trị thương mại toàn cầu
Không chỉ Ấn Độ, các quốc gia tiềm năng trong chiến dịch Trung Quốc + 1 khácnhư Việt Nam, Indonesia hay Thái Lan đã trải qua một đợt bùng phát dịch mới trêndiện rộng, áp dụng lệnh phong tỏa và ngừng hoạt động tại các khu công nghiệp,ngưng trệ hoạt động sản xuất Điều này có thể làm chậm lại quá trình chuyển dịchchuỗi cung ứng như đã dự tính từ trước Covid-19 và những hệ quả của nó dẫn tớinhững biến động không thể lường trước đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanhnghiệp ở các nước phát triển Trong khi chỉ một năm trước, các doanh nghiệp phảiđối mặt với nhu cầu hàng hóa giảm đột ngột và nhanh chóng hơn bao giờ hết, thìtính đến quý II/2021, nhu cầu tăng vọt sau một giai đoạn dài bị dồn nén Tổng cầu giatăng có thể nói một phần là do chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng được thựchiện bởi các chính phủ nhằm đưa nền kinh tế vượt qua suy thoái Cũng chính nhờ đó,hoạt động tài chính của doanh nghiệp dần ổn định, thu nhập hộ gia đình tăng lên
Trang 4cao này được dự báo sẽ kéo dài trong thời gian tới, đặc biệt là trong bối cảnh hậuCovid-19 với các chương trình tiêm chủng vaccine rộng rãi trên toàn cầu Nhưngngay sau đó, doanh nghiệp phải đối mặt với vấn đề thiếu nguồn cung: bao gồm cảđầu vào nguyên liệu thô và nhân công không đủ đáp ứng Cầu vừa phục hồi thì cunglại đứt gãy Thậm chí, vấn đề nguồn cung còn được đánh giá là nghiêm trọng hơn sovới vấn đề về cầu mà nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt trước đó Thiếu hụt nguồncung cùng sự tắc nghẽn lưu chuyển hàng hóa đang phá vỡ hàng loạt chuỗi cung ứngtrên toàn cầu.
Covid-19 đang và có nhiều nguy cơ bùng phát trở lại ở các quốc gia được coi làcông xưởng sản xuất của thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil hay các quốc giaĐông Nam Á dẫn tới hệ quả nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất phải đóng cửa, áp lựcchi phí đối với chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tập trung vào sản xuất tinhgọn hoặc thuê ngoài, nếu có bất kỳ gián đoạn nào ở đầu chuỗi cung ứng (nguồn cung)
sẽ gây ra phản ứng dây chuyền, buộc toàn bộ hệ thống phải dừng lại Các doanhnghiệp lúc này không chỉ đối mặt với việc làm sao để tìm nguyên liệu kịp thời, đảmbảo hiệu quả chi phí, mà còn cần đảm bảo đáp ứng nhu cầu theo từng mùa đối vớisản phẩm cuối cùng
Thiếu hụt nhân lực trở nên trầm trọng, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nặng
nề đến toàn bộ thị trường lao động, đặc biệt lao động trong ngành Logistics Nguy cơphá sản hàng loạt của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics cũng như
sự gãy đổ, thay đổi và gián đoạn của các chuỗi cung ứng đã ảnh hưởng nặng nề đếncục diện của thị trường lao động Yêu cầu cấp bách trong việc ứng phó với sự lây lancủa COVID-19 bằng biện pháp giãn cách xã hội tại hầu hết các nước trên thế giới đãbuộc các cửa hàng bán lẻ, trung tâm thương mại phải đóng cửa, các hệ thống phânphối và chuỗi cung ứng Logistics bị giảm sản lượng, quy mô hoạt động cũng như thayđổi hình thức hoạt động đã dẫn đến việc hàng triệu lao động có nguy cơ bị mất việcđồng thời phát sinh nhiều kỹ năng mới từ người lao động để có thể giúp doanhnghiệp đáp ứng sự thay đổi theo hình thức và quy mô kinh doanh mới
Tình trạng khan hiếm hàng hóa, đặc biệt là nguyên liệu đầu vào
Khi Trung Quốc - nguồn cung của hầu hết các chuỗi cung ứng trên thế giớingừng hoạt động, thì việc thiếu nguyên liệu đầu vào là khó có thể nào tránh khỏi
Trong suốt 50 năm qua kể từ khi khái niệm Just-In-Time (JIT) được áp dụng lầnđầu tiên bởi hãng Toyota, khái niệm này đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới
Bằng việc giảm hàng tồn kho xuống mức thấp nhất, doanh nghiệp có thể tiết kiệmkhông gian, chi phí và nguồn lực, để dành đầu tư cho những thứ khác Phương phápnày đồng thời cho phép các chuỗi cung ứng thay đổi nhanh chóng sản phẩm nhằmthích nghi với với biến động thị trường, tạo thêm lợi ích cho công ty Nhưng khi đạidịch ập đến, việc áp dụng quá mức phương châm này cũng chính là nguyên nhân tạo
Trang 5nên sự khủng hoảng khan hiếm toàn cầu, làm gián đoạn chuỗi cung ứng Covid-19làm cho sản xuất không thể Just-In-Time được nữa Hệ lụy của JIT được nhìn thấy rõnhất ở chuỗi cung ứng chip điện tử toàn cầu cho chính ngành sản xuất ô tô - cha đẻcủa triết lý sản xuất này.
Chuỗi cung ứng toàn cầu được hình thành bởi các điểm và tuyến (nodes andlines), thì giờ đây, các nhà máy hay các cảng biển (điểm - nodes) phải ngừng hoạtđộng vì những lý do kể trên, còn những tuyến đường biển (lines) cũng ngập trongkhủng hoảng không hồi kết
Mất cân bằng cung - cầu vỏ container tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á:
Nguyên nhân của tình trạng mất cân bằng vỏ container bắt đầu từ thời điểmcuối năm 2020, khi một số nước trên thế giới dần phục hồi sau cú sốc đại dịch vàtrùng với một đợt bùng nổ mua hàng chuẩn bị cho mùa lễ hội tại Châu Âu và Bắc Mỹ
Thay vì đi du lịch để tận hưởng kỳ nghỉ như mọi năm, người dân tại các quốc gia nàydành nhiều hơn cho việc mua sắm như một sự bù đắp cho cả năm dịch bệnh, làm giatăng tình trạng nhập siêu so với trước đây Bên cạnh đó, hiệu suất xử lý hàng tại cáccảng đến bị giảm do thiếu hụt lao động bị cách ly vì dịch bệnh, một lượng khổng lồcontainer bị ứ đọng tại các cảng Bắc Mỹ và Châu Âu không thể lưu chuyển về Châu Á
đã làm gia tăng nhu cầu container và đẩy giá cước vận tải biển lên cao Tại TrungQuốc, tình trạng thiếu hụt container xảy ra nghiêm trọng trong giai đoạn cuối năm
2020 và đầu năm 2021
Cụ thể, theo tập đoàn Container Hàng hải Quốc tế Trung Quốc - CIMC, sảnlượng container 20 feet đã tăng từ 300.000 chiếc vào tháng 9/2020 lên 440.000chiếc vào tháng 1/2021 nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hànghóa khi cần đến 180 triệu vỏ container trên toàn thế giới Thêm vào đó, thời gianquay vòng của một container đã tăng vọt lên 100 ngày (so với 60 ngày trước đây)càng làm tình trạng khan hiếm container trở nên trầm trọng
Sự cố, rủi ro trong vận tải đường biển:
Tàu Ever Given trên kênh đào Suez: vào ngày 23/3/2021, tàu Ever Given - mộttrong những con tàu container lớn nhất thế giới bị mắc kẹt ở Kênh đào Suez và chặnđứng tuyến đường giao thương toàn cầu trong gần một tuần Tàu Ever Given cóchiều dài 400 m và có thể chở tới 20.000 TEU Theo ước tính có khoảng 12% giá trịthương mại toàn cầu đi qua kênh đào Suez, trung bình mỗi ngày có hơn 50 tàu điqua kênh này Vụ việc đã gây ra một cuộc khủng hoảng vận tải biển toàn cầu, tínhtrung bình một ngày kênh đào Suez bị tắc nghẽn đã làm gián đoạn hoạt động thươngmại hàng hóa trị giá 9,6 tỷ USD
Trang 6Rơi container trên biển: Tàu container siêu lớn không chỉ là nguyên nhân của
sự cố mắc kẹt tại kênh đào Suez mà còn dẫn tới việc xếp các lô hàng container caohơn trên những con tàu, đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến các sự
cố rơi container trong điều kiện thời tiết xấu chỉ trong chưa đầy 12 tháng tính tớithời điểm tháng 6/2021
Dịch bệnh bùng phát ngưng trệ hoạt động của các cảng biển Trung Quốc: Vàotháng 5/2021, một đợt bùng phát dịch Covid-19 tại Quảng Đông, Trung Quốc khiếngiới chức trách phải đình chỉ hoạt động vận chuyển tại các cảng và thiết lập các biệnpháp nghiêm ngặt để kiểm soát dịch bệnh Điều này đã làm gián đoạn các dịch vụcảng và chậm trễ giao hàng, “hiệu ứng domino” đã nhanh chóng lan ra cả các cảngcontainer khác ở Quảng Đông bao gồm Shekou, Chiwan và Nansha Đây là nhữngcảng quan trọng, đều nằm trong số những cảng lớn nhất toàn cầu Tình trạng này tạo
ra một vấn đề lớn cho ngành vận tải biển thế giới
Cước vận tải biển tăng cao: Bên cạnh yếu tố về nguồn cung và thiếu hụt laođộng, vận tải toàn cầu - tuyến nối các điểm nút trong chuỗi cung ứng ghi nhận chiphí vận tải biển tăng cao kỷ lục
1.1.2 Tình hình Việt Nam
Mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, nhưng cácdoanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn trụ vững, góp phần duy trì và ổn định chuỗicung ứng, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng dương Mặc dù vậy, ngành logisticsViệt Nam vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: chi phí cao, liên kết giữa các doanhnghiệp logistics cũng như với doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu yếu, chuyển đổi sốtrong ngành chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển… Năm 2022 được dự báotiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức đối với ngành logistics, đòi hỏi các doanhnghiệp logistics Việt Nam phải nỗ lực nhiều hơn nữa, tăng cường liên kết nội khốimới có thể tiếp tục vượt qua được thách thức, vươn lên xứng đáng với vai trò làngành dịch vụ trọng yếu trong nền kinh tế
Chính sách chung về logisticsNăm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyếtĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cộng sản Việt Nam, năm đầu tiênthực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025 và Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 2021 - 2030
Trang 7Đầu năm 2021, dịch bệnh bùng phát tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Namcũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước và giữa ViệtNam với thị trường các nước.
Năm 2021 cũng là năm kinh tế - xã hội Việt Nam chịu tác động nặng nề của đợtdịch Covid-19 lần thứ 4, với những đợt giãn cách xã hội và gián đoạn sản xuất, lưuthông kéo dài Bối cảnh đó đặt ngành dịch vụ logistics vào thế vừa bị ảnh hưởng trựctiếp nhất, vừa phải thể hiện sức chống chịu bền bỉ để duy trì hoạt động của các chuỗicung ứng trong nước cũng như xuất nhập khẩu hàng hóa Đồng thời những xu hướng,
mô hình, giao thức mới trong sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa trên toàncầu cũng tạo động lực và sức ép đổi mới cả về công nghệ, tư duy, nguồn nhân lực và
cơ chế quản lý, nếu không muốn bị tụt hậu trong môi trường hội nhập sâu rộng hiệnnay
Trong bối cảnh đó, Chính phủ và các Bộ ngành, địa phương đã kịp thời banhành nhiều chính sách liên quan đến logistics, để một mặt vẫn đảm bảo vai trò củalogistics trong việc duy trì các chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ; mặt khác định hìnhcác hướng đi mới, thậm chí mang tính bứt phá cho ngành logistics Việt Nam, gópphần giải tỏa áp lực trong thời kỳ giãn cách xã hội vì dịch bệnh, thúc đẩy phục hồikinh tế hậu Covid-19 và phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước
Định hướng của Đảng về phát triển logistics trong Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ XIII
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày25/01/2021 đến ngày 01/02/2021, tại Thủ đô Hà Nội, sau khi thảo luận các văn kiện
do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII trình
Theo đó, thông qua Báo cáo chính trị, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10năm 2021 - 2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 -
2025 Trong đó có nội dung:
“Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộkhoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”: Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trênnền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch
vụ có giá trị gia tăng cao Tập trung phát triển mạnh một số ngành dịch vụ như: dulịch, thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, vận tải, logistics, dịch vụ kỹ thuật,dịch vụ tư vấn pháp lý Tổ chức cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp, văn minh, hiệnđại theo các chuẩn mực quốc tế
Nghị quyết Đại hội XIII cũng thông qua các đột phá chiến lược, trong đó có độtphá: “(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội;
ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng vớibiến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng
Trang 8về hạ tầng phần cứng và phần mềm cho sự phát triển đột phá và bền vững củalogistics.
Đổi mới sáng tạo giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế, cụ thể làcác doanh nghiệp Logistics:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với quá trình số hóa, xu hướng kết hợpgiữa thực và ảo, sự bùng nổ của nhiều lĩnh vực công nghiệp mới như trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn, kết nối vạn vật, điện toán đám mây… đang mang đến sự thay đổi vượtbậc trong cuộc sống, việc làm và trong quá trình sản xuất kinh doanh Bước chuyểnsang nền kinh tế số trong bối cảnh toàn cầu hóa đưa đến những cách tiếp cận mớidựa trên đời mới sáng tạo, dựa trên đổi mới công nghệ Nguồn lực phát triển quantrọng nhất là tri thức và tài nguyên số, tham gia vào mạng sản xuất chuỗi giá trị toàncầu làm cho các nước và các nhà sản xuất có nhiều cơ hội phát triển mới
Xu thế hội nhập và đổi mới công nghệ đặt ra cho Việt Nam những vấn đề rấtmới trong quá trình phát triển, đi tắt, đón đầu để nâng cao năng suất, chất lượng,hiệu quả của nền kinh tế
Trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế nước ta tăng trưởng theo chiều rộng, đó
là dựa vào vốn, tài nguyên, lao động, đặc biệt là lao động không có kỹ năng, tạo ranhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động, nhưng đây lại là thách thứccủa cuộc cách mạng công nghiệp làn thứ tư Bởi vì, dựa vào những lợi thế này làkhông bền vững, không giúp cho nền kinh tế Việt Nam tiến xa như kinh nghiệm củacác nước đi trước Thậm chí trong quá trình hội nhập sâu rộng, mô hình đó có thểkhiến nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ lệ thuộc ở bên ngoài nhiều hơn, tiếp tục lúnsâu vào vào thời kỳ tăng trưởng thấp, dưới mức tiềm năng, hơn nữa khó tham giavào chuỗi giá trị toàn cầu,… Điều đó, sẽ làm suy yếu khả năng tăng trưởng dài hạncủa nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế tác động xấu đến môi trường, tài nguyên thiênnhiên ngày càng bị khai thác cạn kiệt; đất nước vẫn ở trong tình trạng tụt hậu xa sovới các nước phát triển trong khu vực và thế giới; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trungbình, mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia phát triển
Do vậy, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa vào công nghệ, dựa vàođổi mới sáng tạo để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững như Nghị quyết của Đảng
về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng,nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế
đã đề ra những giải pháp lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng caonăng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Trang 9Văn kiện Đại hội XII nêu rõ: “Mô hình tăng trưởng trong thời gian tới kết hợp cóhiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nângcao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất laođộng, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế, pháttriển nhanh và bền vững (hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030của Liên hợp quốc); giải quyết hài hoà giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa pháttriển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh giữa tăng trưởng kinh tế và phát triểnvăn hoá thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân.
1.2 Đối tượng, phạm vi và mục tiêu trong đổi mới sáng tạo của lĩnh vực Logistics:
1.2.1 Đối tượng, phạm vi:
Logistics bắt đầu xuất hiện trong các cuộc chiến tranh của đế chế Hy Lạp và La
Mã khi các binh sĩ vận chuyển, phân phối các nhu yếu phẩm như: lương thực, vũ khí,thuốc men, … đến các doanh trại với sự phối hợp của nhiều người cùng quy trìnhquản lý chặt chẽ nhằm tránh sự phá hoại từ đối thủ Từ đó dần hình thành nên một
hệ thống mà hiện nay gọi là quản lý logistics
Vai trò của logistics ngày càng được khẳng định khi chiến tranh thế giới thứ haibùng nổ Điều này đã được Mỹ và các đồng minh thực hiện vô cùng tốt khi cung cấp
vũ khí, đạn dược, quân trang đúng thời điểm một cách tối ưu Chiến tranh thế giớithứ hai đã thúc đẩy và tạo ra nhiều ứng dụng về logistics được phát triển đến ngàynay
Cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là bước tiến lớncủa cách mạng công nghiệp 4.0, logistics dần trở thành một công cụ, một công việckhông thể thiếu của mỗi doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực sảnxuất - kinh doanh Khi logistics hoạt động không hiệu quả, dây chuyền sản xuất củadoanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian Chính vì vậy, đã có rấtnhiều nghiên cứu nhằm đưa ra một khái niệm, phương diện hoạt động và các yếu tốtác động đến sự phát triển của logistics, nhằm giúp doanh nghiệp hạn chế được bấtcập trong quy trình quản lý logistics của doanh nghiệp, từ đó hạn chế được các bấtcập tác động đến hoạt động sản xuất - kinh doanh Do vậy, bài viết sẽ giới thiệu vàphân tích các khái niệm logistics thường được dùng, từ đó hệ thống hóa quá trìnhhình thành, phát triển và hoàn thiện khái niệm logistics, đề xuất mô hình nghiên cứu
về các yếu tố tác động đến phát triển bền vững ngành Logistics Việt Nam
Trang 101.2.2 Mục tiêu của đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Logistics:
Nâng cao năng lực cạnh tranh Vùng kinh tế trọng điểm phía NamNăng lực cạnh tranh của Vùng kinh tế phía Nam được đánh giá thông qua năngsuất lao động và mật độ kinh tế Trong các Vùng trọng điểm, Vùng trọng điểm kinh tếphía Nam có năng suất lao động cao nhất nhưng tốc độ tăng thấp hơn Vùng kinh tếtrọng điểm Bắc bộ và miền Trung Trong giai đoạn 2011-2017, năng suất lao độngVùng kinh tế trọng điểm phía Nam chỉ tăng khoảng 5%/năm, trong khi đó Bắc bộ là8,54%/năm Trong khi đó, mật độ kinh tế của Vùng phía nam cũng thấp hơn vùngBắc bộ Giai đoạn 2011-2017, mật độ kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Namtăng 19,4 tỷ đồng/km2 nhưng ở Vùng Bắc bộ lại tăng 28,5 tỷ đồng/km2
Qua một vài số liệu phân tích khác cho thấy, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Namcòn hạn chế về: Năng lực cạnh tranh không cao, đang có xu hướng giảm, năng lựccạnh tranh của các địa phương trong Vùng còn chênh lệch lớn Có thể nói, chỉ có đổimới sáng tạo mới có thể làm tăng năng lực của nền kinh tế Chính vì vậy, chúng tacần phải quan tâm đến những vần đề có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh củanền kinh tế của Vùng hiện nay như:
Nâng cao chất lượng lao động: Cần xây dựng chương trình chiến lược pháttriển nguồn nhân lực cho từng địa phương trên cơ sở dự báo về nhu cầu lao độngtrong thời gian tới, cả về số lượng và chất lượng Tập trung đào tạo cho các ngànhnghề mũi nhọn, các nghề đang có nhu cầu lớn về nhân lực, nội dung đào tạo gắn vớithực tiễn Khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo, liên kêt với doanhnghiệp trong đào tạo và nâng cao năng lực cho người lao động
Cải thiện và thúc đẩy môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp khởi nghiệp có cơ hội được thành lập và phát triển cũng như cácdoanh nghiệp lớn có cơ hội phát triển như: Địa phương có chính sách hỗ trợ đổi mớisáng tạo, ưu đãi thuế, đầu tư…; tạo hành lang thông thoáng cho các doanh nghiệptiếp cận với các dòng vốn, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường sự cạnhtranh của thị trường thông qua tăng số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực đổi mớisáng tạo; xây dựng hệ sinh thái của địa phương góp phần phát triển cho nền kinh tế
Đầu tư và thúc đẩy môi trường sáng tạo, cốt lõi là con người Khuyến khích cácdoanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nâng cao năng lực tiếp cận côngnghệ tiên tiến, tăng tỷ lệ nội địa hóa với các sản phẩm công nghệ cao
Thực hiện thúc đầy các chương trình chi sẻ, kết nối các nhà đầu tư và doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Xây dựng một mạng lưới kết nối với sự quản lý
Trang 11của đơn vị chuyên nghiệp và sự định hướng hoạt động với mục tiêu phát triển rõràng sẽ mang lại một cộng đồng kết nối và chia sẻ có hiệu quả hơn trong vùng.
Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối cáckhu vực trọng điểm Rà soát, xác định danh mục các dự án cần ưu tiên đầu tư tronggiai đoạn tới theo Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đã được Chính phủ phêduyệt điều chỉnh năm 2015 theo Quyết định 2055/QĐ-TTg Xây dựng khu tập trungcông nghệ cao nhằm thu hút các công ty công nghệ cao và các start-up tương tác vớinhau dễ dàng hơn
Hai xu thế chủ đạo của ngành vận tải và logistics Việt Nam
* Về xu thế phát triển logistics trong thương mại điện tử bán lẻ, năm 2018
-2019 sẽ chứng kiến sự bùng nổ của vận tải và logistics trong thương mại điện tử ViệtNam
Sự gia tăng lưu lượng hàng hóa giao dịch qua các kênh trực tuyến khiến nhucầu vận tải và logistics, đặc biệt là dịch vụ giao hàng nhanh tăng cao Quy mô thịtrường thương mại điện tử năm 2017 đạt 6,2 tỷ USD, tăng trưởng 24%, số lượng đơnhàng qua công ty giao hàng nhanh tăng trưởng trung bình 45% giai đoạn 2015 - 2020
và có thể đạt 530 triệu đơn hàng vào năm 2020
Nhiều doanh nghiệp ngành bán lẻ như Vincommerce, Thế giới di động, FPT,Lotte, Aeon… đang định hướng phát triển thương mại điện tử, hay việc các ông lớnngành thương mại điện tử như Alibaba, Amazon… gia nhập vào Việt Nam đã làm thịtrường logistics sôi động hơn, đi kèm theo đó là yêu cầu phải có sự đầu tư công nghệ
và độ kỹ lưỡng trong dịch vụ vận tải và logistics
* Về xu thế M&A ngành logistics, Việt Nam hiện đang có chủ trương huy độngvốn từ khu vực tư nhân để đầu tư hạ tầng thông qua phương thức chuyển nhượngquyền khai thác một số hạ tầng (logistics, sân bay, cảng biển…), thu hút nhiều nhàđầu tư lớn với các thương vụ được dự tính sẽ có quy mô hàng tỷ USD
Năm 2017 - 2018 chứng kiến nhiều vụ M&A lớn như Gemadept chuyển nhượngvốn cho CJ Logistics, Samsung SDS hợp tác với Minh Phương Logistics… Với đặc thù làngành có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu cung cấp các dịch vụ 1PL và 2PL,
sự tham gia của các tên tuổi lớn nước ngoài được kỳ vọng sẽ "vá lỗ hổng" về vốn,nhân sự, công nghệ… cho các doanh nghiệp trong nước
Ba thách thức tăng trưởng của các doanh nghiệp vận tải và logistics:
Trang 12Là ngành dịch vụ có nhiều cơ hội tăng trưởng nhưng thách thức của ngànhcũng không hề nhỏ Theo khảo sát của Vietnam Report, 3 thách thức lớn nhất củangành vận tải và logistics Việt Nam hiện nay bao gồm: Cơ sở hạ tầng như hệ thốngcảng biến, kho bãi, kết nối… còn hạn chế, bất cập; Hạn chế về quy mô vốn, trình độquản lý, trình độ chuyên môn chưa cao; Các loại thuế, phí cầu đường và phụ phí cao.
* Theo đánh giá của các doanh nghiệp trong ngành, cơ sở hạ tầng mặc dù đãđược cải thiện so với trước đây nhưng vẫn còn nhiều bất cập Tuyến trục vận tảiNam - Bắc vẫn phụ thuộc rất lớn vào đường bộ, rất cần sự tham gia hơn nữa củangành đường sắt Sự phát triển bất cân đối của hệ thống cảng biến Việt Nam khi hơn92% lưu lượng container phía Nam tập trung ở Cảng Cát Lái dẫn đến tình trạng quátải, kẹt cảng… gây ra sự lãng phí rất lớn
* Vốn và nhân lực là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp trong nướckhó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Đa số trên 70% doanh nghiệp vậntải và logistics đang hoạt động hiện nay có quy mô vốn vừa và nhỏ, 7% có vốn trên1.000 tỷ đồng, trong đó chủ yếu nhóm vốn lớn là các doanh nghiệp đa quốc gia
* Về vấn đề chi phí logistics, chi phí vận tải tại Việt Nam hiện đang ở mức cao(gấp 3 lần so với các nước trong khu vực và thế giới) và không đồng đều ở các khuvực, nguyên nhân chủ yếu do các loại thuế, phí cầu đường và phụ phí hiện khá cao,gián tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh so với các nước khác
Cải thiện hành lang pháp lý, cơ sở hạ tầng và ứng dụng ITKhảo sát doanh nghiệp ngành vận tải và logistics, họ rất kỳ vọng hành lang pháp
lý, cơ sở hạ tầng và ứng dụng IT sẽ được ưu tiên cải thiện để hỗ trợ doanh nghiệpnâng cao hiệu quả dịch vụ vận tải và logistics tại Việt Nam trong năm 2019 tới đây
Cùng với xu hướng phát triển của thương mại điện tử, sự gia nhập thị trườngViệt Nam của các ông lớn bán lẻ nước ngoài làm gia tăng nguy cơ thâu tóm các kênhlogistics địa phương khiến các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều bất lợi
Hiện nay chi phí logistics đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi phí doanhnghiệp, vô hình chung trở thành rào cản lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Để giảm chi phí logistics, hầu hết các chuyên gia và doanh nghiệptrong ngành đều cho rằng cần phải đồng bộ hạ tầng giao thông, kết nối giữa cácphương thức vận tải, đồng thời phát triển sàn giao dịch vận tải nhằm kết nối tốt nhất
Trang 13các chủ hàng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, tạo cơ sở cho doanh nghiệplogistics Việt Nam tham gia vào nhiều hơn vào chuỗi cung ứng, tránh tình trạng vậnchuyển một chiều.
Ngành vận tải và logistics Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển Đối với cácdoanh nghiệp, ngoài việc chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, thì việc xâydựng uy tín thương hiệu cũng vô cùng quan trọng
Với các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài khi đặt chân vào Việt Nam, tìm kiếm
và hợp tác với doanh nghiệp logistics uy tín là cầu nối trung gian kết nối vận chuyển
an toàn hàng hóa tới tay đối tác và khách hàng, góp phần hoàn thiện chuỗi sản xuất phân phối, tác động ngược trở lại giúp các doanh nghiệp vận tải và logistics Việt Namtham gia sâu hơn, định vị tốt hơn trên bản đồ logistics toàn cầu
Trang 14-2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Vai trò của Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Logistics:
Đổi mới sáng tạo - Innovation đã trở thành động lực chính cho phát triển kinh
tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm
2013, đổi mới sáng tạo là việc việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật,công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nângcao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa
Đổi mới sáng tạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia vàdoanh nghiệp, là động lực cho sự tiến bộ kinh tế và sức cạnh tranh của tất cả cácnước Đổi mới sáng tạo có thể diễn ra ở cả lĩnh vực thương mại và phi thương mại Vìvậy mà nhiều nước đang đặt sự đổi mới sáng tạo thành trung tâm của chiến lượcphát triển và rất chú trọng đến chỉ số đổi mới sáng tạo Có thể hiểu, chỉ số đổi mớisáng tạo toàn cầu nhằm mục đích đưa ra phương tiện đánh giá năng lực cũng nhưhiệu quả của đổi mới sáng tạo, thể hiện tầm quan trọng trong thời điểm hiện nay, khisáng tạo là một trong những mục tiêu tăng trưởng phát triển thiên niên kỷ đến năm2020
Sáng tạo là động lực quan trọng đóng góp lớn vào sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế - xã hội Sáng tạo là hiện tượng mang tính toàn diện từ sáng chế về mặt khoahọc mới nhất và những sáng tạo mang tính bình dân hay những hoạt động sáng tạodàn trải theo chiều ngang trong phát triển của nền kinh tế Sáng tạo đổi mới tạo ranhững giá trị mới, gia tăng giá trị lao động của con người và nhờ đó tăng năng suấtlao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đổi mới chi phối tăng trưởngkinh tế, tăng trưởng việc làm, tiền lương thông qua chi phối tăng năng suất - trọngtâm của mọi vấn đề
Đổi mới sáng tạo có trong tất cả góc độ của nền kinh tế, điều này khẳng địnhđóng góp của đổi mới sáng tạo rất quan trọng Trong nền kinh tế tri thức, đổi mới vàsáng tạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với tăng trưởng kinh kế Ở góc độ khác,năng lực đổi mới, đặc biệt là năng lực đổi mới khoa học và công nghệ là yếu tố quyếtđịnh ưu thế cạnh tranh quốc gia Trong những thập niên gần đây, các nước trên thếgiới đều rất coi trọng việc thúc đẩy đổi mới kinh tế; đồng thời đề ra những chiếnlược, chính sách và biện pháp để thúc đẩy đổi mới
Chi phí logistics tại Việt Nam đang quá đắt đỏ, cụ thể trong chi phí logistics, chiphí vận tải quá cao, tương đương 30-40% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này chỉkhoảng 15% ở các quốc gia khác Điều này làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranhhàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 15Logistics đã từng là vấn đề sống còn trong thời chiến và hiện nay cũng là vấn đềcốt lõi của hoạt động kinh tế trong thời bình Logistics có ở quanh chúng ta, từ việcgiao nhận đồ ăn trên các ứng dụng di động của cá nhân cho đến những chuyến hàngvận chuyển ngày đêm dọc chiều dài đất nước của doanh nghiệp Logistics giống như
“những chiếc bánh xe” của “cỗ xe” nền kinh tế đang vận hành không ngừng nghỉ
Không nền kinh tế nào có thể chuyển mình về phía trước nếu thiếu đi lực đẩy từ hoạtđộng logistics
“Đổi mới sáng tạo hiện nay là yêu cầu bắt buộc đối với ngành dịch vụ logistics
Logistics là một ngành mang tính quốc tế cao, nếu không đổi mới sáng tạo nhất làtrong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 thì không thể nào cung cấp dịch vụ qua biên giới”
ngành dịch vụ logistics hiện nay có 17 loại hình dịch vụ khác nhau, trong đó vậntải, kho bãi, giao nhận vận tải, khai báo hải quan là các ngành dịch vụ chủ yếu
ngành logistics Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế Đặc biệt là chi phídịch vụ logistics ở nước ta còn khá cao, làm tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh củahàng hoá Việt Nam nói riêng, sức cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam nói chung
Nguyên nhân cơ bản là do công tác quy hoạch giữa các ngành, lĩnh vực vẫn cònchưa có sự kết nối chặt chẽ với nhau; cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại, côngnghệ thông tin còn hạn chế, việc kết nối với các nước trong khu vực còn chậm; sự kếthợp giữa thương mại điện tử và logistic chưa thực sự hiệu quả
Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụlogistics ở Việt Nam còn chưa cao so với các nước trong khu vực và thế giới ViệtNam chưa có các doanh nghiệp lớn, cung ứng đồng bộ các dịch vụ logistics; nguồnnhân lực cho hoạt động logistics còn chưa đáp ứng được yêu cầu
Theo số liệu từ Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, hiện nay,95% các doanh nghiệp logistics đang hoạt động ở Việt Nam là doanh nghiệp nội địa
Số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, quy mô hạnchế cả về vốn và nhân lực cũng như kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa có sự liênkết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng logistics và giữa doanh nghiệp dịch vụ
Trang 16Vì vậy, ở cả chiều mua và bán, doanh nghiệp logistics trong nước đều bị hạnchế về thị trường.
Năm 2020 được đánh giá là một trong những năm khó khăn cho nền kinh tếnói chung và lĩnh vực logistics nói riêng bởi dịch Covid-19 Thị trường logistics toàncầu nửa cuối năm 2020 chủ yếu được thúc đẩy bởi việc khôi phục dòng chảy thươngmại quốc tế
Hơn nữa, các chính sách thuận lợi hóa thương mại, kích thích tăng trưởng kinh
tế hậu Covid-19 cũng đang hỗ trợ trong việc mở rộng thị trường
Hệ thống pháp lý hỗ trợ, thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nói chung vàkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực logistics nói riêng hiện đã tương đối đầy
đủ, hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp khởi nghiệp trên nền tảng nghiên cứu, ứngdụng các công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, khai thác tài sản trí tuệ, mô hình kinhdoanh mới
Nhìn vào thành công của startup trong lĩnh vực này như Abivin, Logivan,FastGo… với những công nghệ đột phá, những giải thưởng và thương vụ đầu tưtrong thời gian qua, có thể thấy sức hấp dẫn cũng như tiềm năng khởi nghiệp rất lớntrong một ngành đã được nhận định là "xương sống", "mạch máu" của nền kinh tế
Lượng doanh nghiệp muốn ứng dụng công nghệ của đơn vị này để chuyển đổi
số cho công đoạn logistics tăng lên gấp 4 lần
Phát triển các giải pháp công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động vận hành,quản trị logistics và chuỗi cung ứng tại Việt Nam, chuyển đổi số phải bắt đầu bằngchuyển đổi tư duy
Như vậy, để dịch vụ logistic phát triển thì không phải cạnh tranh bằng giá màphải hợp tác để cùng nhau tạo ra giá trị lớn hơn
Nếu không đổi mới sáng tạo trong ngành logistics thì với tình hình dịchCovid-19 như hiện nay, sẽ không thể đưa được hàng hóa qua biên giới
Trang 17Thực trạng của ngành logistics Việt Nam hiện tại: chi phí leo thang, chiếm đến20% tổng chỉ số GDP của cả nước năm 2019, trong khi hiệu quả vẫn còn thấp dẫnđến nhiều hao phí.
Đó là tạo ra những chặng đường liên vùng nối thẳng từ những khu công nghiệpđến cảng biển và sân bay, hay phát triển quốc lộ 13, phát triển hạ tầng kho bãi và cácnhà máy nhằm tạo nhiều việc làm và thúc đẩy chuyển dịch kinh tế tại các tỉnh phíanam như Bình Dương
Đang thúc đẩy xây dựng mô hình vận tải đa phương thức để tạo thêm lưulượng hỗ trợ cho loại hình vận tải bộ vốn đang quá tải khi Việt Nam từng bước tiếnsâu vào chuỗi giá trị toàn cầu Theo đó, các tuyến đường sắt từ Biên Hoà đến VũngTàu, hay các cảng sông, cảng ICD sẽ được xây dựng để giúp việc trung chuyển hàngtrở nên nhanh hơn với giá thành rẻ hơn
Một thực trạng khác là nhu cầu cấp thiết về tái quy hoạch lưu thông đường bộnhằm tối ưu việc vận chuyển hàng hóa song song với việc lưu chuyển con người Tíchcực triển khai các dự án về phát triển các cụm đô thị xung quanh các điểm nóng vềgiao thông công cộng (Transit-oriented development) Ví dụ như xây dựng các tuyến
xe buýt nhanh liên tỉnh hay các tuyến Metro
Đổi mới sáng tạo trong Logistics để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanhnghiệp Việt Do ảnh hưởng nặng nề từ dịch COVID-19, chuỗi cung ứng toàn cầu bịđứt dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Đặc biệt vớingành dịch vụ logistics, con số của hiệp hội logistics: từ 20% đến 60% số lượng doanhnghiệp dịch vụ logistics Việt Nam bị ảnh hưởng trong mùa dịch bệnh Mãi đến đầuquý 4 năm nay, 60% các doanh nghiệp kể trên mới hồi phục lại việc kinh doanh đạtmức trước đại dịch Trước bối cảnh đó, một hiện tượng bất thường, COVID-19 đãthúc đẩy chuyển đổi số của các doanh nghiệp một cách nhanh chóng Những kếhoạch chuyển đổi số trong vòng 5 năm nay chỉ cần 8 tháng để hoàn thành
Đã có 13 hiệp định thương mại quốc tế được thông qua đem lại rất nhiều cơhội cho các doanh nghiệp việc hợp tác và phát triển với các đối tác quốc tế Cảnh báonếu doanh nghiệp chủ quan, “chỉ thấy cơ hội mà không thấy thách thức”, lơ là việcđổi mới, chuyển đổi số thì rất có thể sẽ bị tụt lại phía sau
2.2 Tác động của đổi mới sáng tạo:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Trang 18nền kinh tế Việt Nam vẫn cần được thúc đẩy, nâng cao hơn nữa để đảm bảo sự pháttriển nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa.
Trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ trọng tâm là:
“Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trường, năng suất laođộng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột pháchiến lược, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăngtrưởng” … “hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triểnmạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế Hoàn thiện chính sách
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khíchhình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tậpđoàn kinh tế nhà nước”
Đây là lần đầu tiên, Đảng đặt ra vấn đề khuyến khích đẩy mạnh quá trình khởinghiệp kinh doanh, khởi nghiệp mà Đảng ta đề cập đó chính là khởi nghiệp đổi mớisáng tạo, đây là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn trong nước và nghiên cứukinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư
Đổi mới sáng tạo tác động vào ngành dịch vụ quan trọng của nền kinh tế - xuấtnhập khẩu và Logistics
Với vị trí địa lý đặc biệt nằm trong khu vực phát triển năng động của thế giới,nơi luồng hàng tập trung giao lưu rất mạnh, Việt Nam được đánh giá là có thế mạnh
về địa kinh tế rất thuận lợi để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu và dịch vụ logistics
Đặc biệt, trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, dù gặp nhiều khó khăn song cácdoanh nghiệp logistics Việt Nam đã thích nghi và cơ bản vẫn duy trì được chuỗi cungứng Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics cùng các doanh nghiệp đã góp phầngánh vác, chia sẻ cùng các hiệp hội ngành hàng khác tìm ra giải pháp để tối ưu hóahoạt động logistics, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian; kiến nghị với Nhà nước nhữngvấn đề mang tính chiến lược, góp phần duy trì và ổn định chuỗi cung ứng, nâng caonăng lực cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh rất cam
go do dịch bệnh gây ra
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logisticsCác xu thế của thị trường logistics mang đến nhiều cơ hội và cũng đặt ra nhiềuthách thức cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam trên con đường phát triển để cóthể cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài Do vậy, việc cân bằng giữa đảm bảo