Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học SVTH Võ Thị Mỹ Liễu Lớp M23H MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU BẢNG MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT Phần I Mở đầu 1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1 2 Mục tiêu nghiên cứu 3 3 Nhiệm vụ.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4lệ tử vong ở trẻ Thừa cân, béo phì còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ Trẻ dễ bị
tự ti bởi ngoại hình của mình, bị bạn bè trêu ghẹo, chế giễu, dẫn đến tình trạng chánchường không muốn đi học, ngại giao tiếp, trẻ trở nên thụ động, thiếu linh hoạt, cô đơn
vì không có bạn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dễ dẫn đến chứng trầm cảm ở trẻ
Giai đoạn trẻ 3-4 tuổi là giai đoạn được xem là có nhiều sự biến chuyển nhấtcủa trẻ Đến 3 tuổi, não của trẻ có thể phát triển đến con số bằng 80% so với ngườitrưởng thành Mặt khác, thể chất của trẻ cũng có tốc độ tăng trưởng rất lớn Bé đi họclớp mầm non sẽ hoạt động bên ngoài nhiều hơn, cần nhiều năng lượng hơn Bên cạnh
đó, đây còn là giai đoạn vàng, quyết định 60% tiềm năng phát triển chiều cao của trẻcũng như là chiếc cầu nối, là sự chuẩn bị hoàn hảo cho mọi sự phát triển vượt trội lêncủa cơ thể trẻ ở tuổi dậy thì Do đó, trẻ rất cần một chế độ dinh dưỡng hợp lý, cũngnhư một cơ thể khỏe mạnh, hạn chế các bệnh về dinh dưỡng, đặc biệt là căn bệnh thừacân, béo phì Vì vây, giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ ở giai đoạn này làrất cần thiết
Để giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi đòi hỏi người giáoviên mầm non cần phối hợp với phụ huynh để tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đưa ra biệnpháp khắc phục tình trạng thừa cân, béo phì cho trẻ phù hợp với điều kiện thực tế củagia đình cũng như của nhà trường
*Về cơ sở thực tiễn:
Trong thời đại hiện nay, thừa cân, béo phì là căn bệnh không chỉ thách thức trêntoàn cầu mà còn ở cả Việt Nam Chỉ riêng tại Việt Nam, năm 1996 tỷ lệ trẻ em thừacân béo phì ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 12% Sau 13 năm, tức năm 2009,
tỷ lệ này là 43% Kết quả điều tra năm 2014-2015 của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, tỷ
lệ trẻ béo phì ở Thành phố Hồ Chí Minh trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nộikhoảng 41% Qua những số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ trẻ béo phì ở nước ta đang dầntăng lên, đặc biệt là ở những thành phố lớn
Trang 5Sự tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần làm đời sống của xã hội nói chung vàcủa mỗi gia đình nói riêng được cải thiện đáng kể Mỗi gia đình chỉ sinh từ 1 đến 2 connên càng có điều kiện chăm sóc trẻ tốt hơn Các bậc cha mẹ luôn muốn dành nhữngđiều tốt nhất cho con của mình, đặc biệt là trong vấn đề ăn uống, dinh dưỡng Họ luônđáp ứng mọi nhu cầu về ăn uống của con trẻ, nên đã góp phần tạo ra cho trẻ những thóiquen ăn uống không lành mạnh như: không thích ăn rau xanh, thích ăn đồ ngọt, đồchiên rán, thức ăn nhanh, Bên cạnh đó, các bậc cha mẹ vẫn luôn chiều chuộng vàbảo bọc con mình, ít cho trẻ vận động, việc gì cũng làm giúp trẻ vì nghĩ trẻ nhỏ nênkhông biết làm gì Điều đó, dần dần khiến cho trẻ trở nên thụ động, lười vận động vàdành nhiều thời gian rảnh cho các thiết bị điện tử, di động hơn là vận động tay chân.
Do đó, dẫn đến tình trang thừa cân, béo phì ngày càng nhiều ở trẻ
Để giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì cho trẻ đòi hỏi người giáo viên mầmnon cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, cũng như cần quan tâm nhiều hơn đến trẻ
Để tìm ra nguyên nhân cũng như biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng thừa cân, béophì ở trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện hơn
Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang là một trường nằm ởtrung tâm thành phố Nha Trang Ở đây, trường có rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất,
về vấn đề dinh dưỡng, chăm sóc cho trẻ Chính vì sự chăm sóc tốt về mặt dinh dưỡng,trẻ được ăn nhiều thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nên dễ dẫn đến tình trạng trẻ bịthừa cân, béo phì, đặc biệt là ở trẻ 3-4 tuổi Đây là điều khó tránh khỏi ở Trường Mầmnon Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang nói riêng và ở các trường mầm non khác nóichung
*Lý do cá nhân:
Là một sinh viên mầm non đã và đang theo học tại Khoa giáo dục mầm non củatrường, bản thân tôi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về những vấn đề dinhdưỡng cho trẻ mầm non, nên tôi rất hứng thú khi tìm hiểu về vấn đề này Bên canh đó,qua các đợt kiến tập và thực tập sư phạm, tôi cảm thấy được rất rõ tầm quan trọng củavấn đề dinh dưỡng đối với sự phát triển của trẻ, tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì hiện nay khácao Tuy nhiên, giáo viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chăm sócgiáo dục dinh dưỡng cho trẻ thừa cân, béo phì Mặt khác, với mong muốn đề xuất một
số biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì cho trẻ 3-4 tuổi, cũng nhưtích lũy cho bản thân vốn kiến thức và kinh nghiệm để sau này khi ra trường tôi có thểvận dụng những biện pháp này vào thực tế nhằm giúp cho công tác giảng dạy củamình đạt hiệu quả cao hơn Đồng thời, tập được những kỹ năng tự mình nghiên cứukhoa học Xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiễn và bản thân vì thế tôi đã chọn đề tài:
“Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 34 tuổi tại Trường Mầm non Hồng Bàng Thành phố Nha Trang” để làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 6-2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Phân tích, đánh giá thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi tại TrườngMầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp hạn chế tình trạng thừacân, béo phì cho trẻ 3-4 tuổi tạị Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành Phố Nha Trang
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp những cơ sở lí luận về vấn đề thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi
- Phân tích, đánh giá thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi tại TrườngMầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp hạn chế tình trạng thừacân, béo phì cho trẻ 3-4 tuổi tạị Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành Phố Nha Trang
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi tạiTrường Mầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
Khách thể nghiên cứu: tất cả trẻ 34 tuổi ở Trường Mầm non Hồng Bàng Thành phố Nha Trang
-5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn quy mô:
+ Tỉ lệ thừa cân, béo phì của trẻ 34 tuổi ở Trường Mầm non Hồng Bàng Thành Phố Nha Trang
+ Phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4tuổi ở Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
+ Đề xuất một số biện pháp liên quan đến chế độ dinh dưỡng, giáo dục trẻ thóiquen dinh dưỡng và vận động thể lực để khắc phục, hạn chế tỉ lệ thừa cân, béo phì ởtrẻ 3-4 tuổi tại Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
- Không gian: Trẻ tại lớp 3-4 tuổi tại Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành phốNha Trang
- Thời gian: 6 tuần thực tập sư phạm tại Trường Mầm non Hồng Bàng - Thànhphố Nha Trang
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc tài liệu: Đọc tài liệu để phân tích - tổng hợp những vấn đề
cơ sở lý luận về thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ 3-4 tuổi
- Phương pháp nhân trắc học: Cân, đo, tính chỉ số BMI đối chiếu với quần thểtham khảo của WHO để đánh giá thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ
Trang 7- Phương pháp thống kê số liệu: Để xử lý số liệu thu thập được.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ thừa cân,béo phì để làm rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến béo phì ở trẻ
- Phương pháp trò chuyện: Trò chuyện với giáo viên, với trẻ để thu thập thôngtin về vấn đề liên quan đến thực trạng thừa cân, béo phì ở trẻ
Trang 8Phần II Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí và dinh dưỡng của trẻ 3-4 tuổi:
1.1.1 Đặc điểm tâm lí của trẻ 3-4 tuổi:
Ở mỗi giai đoạn phát triển của trẻ đều có những đặc điểm phát triển tâm lýchung, tuy nhiên ở mỗi trẻ lại có những điểm riêng biệt không giống nhau Khi hiểu rõđặc điểm tâm lý của từng trẻ, giáo viên sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phương phápgiảng dạy, định hướng và giúp trẻ phát triển với từng giai đoạn
Tâm lý trẻ ở độ tuổi này bước vào giai đoạn rất quan trọng, giai đoạn “Khủnghoảng tuổi lên 3” Trẻ có nhu cầu được làm người lớn muốn được làm các công việccủa người lớn, thích giúp đỡ người khác, và cũng chính vì thế trẻ tỏ ra ngang bướngkhi người lớn đề nghị giúp đỡ, có khi trẻ cãi lời cha mẹ Theo tâm lý trẻ 3 tuổi, trẻ cònthích dọn mâm bát khi ăn cơm, giúp mẹ úp bát sau khi rửa, trẻ có thể quét nhà, phơi,xếp quần áo, nhưng trẻ chỉ có thể chăm chỉ làm một chút thôi, vì ở độ tuổi này, khảnăng tập trung của trẻ chưa cao, nên trẻ sẽ nhanh chóng chán, bên cạnh đó trẻ chưa cónhiều kỹ năng và sự khéo léo, nên khi làm mọi việc hầu hết đều khó khăn Tuy nhiên,
đó lại là đặc trưng của lứa tuổi, trẻ đang muốn tự lập, muốn được làm việc giống nhưngười lớn Khi trẻ có mong muốn làm giúp người lớn và được sự đồng ý, khuyếnkhích, chỉ dạy trẻ sẽ rất hào hứng, tích cực và có thể phát triển kỹ năng một cách tốtnhất
Ở độ tuổi này, não bộ và hệ thống thần kinh cũng phát triển gần 80% Điều đógiúp trẻ có thể ghi nhớ được các hành động của người lớn một cách có trình tự vàchuẩn xác, giúp trẻ có thể quan sát một hành động nào đó của giáo viên, đặt ra nhữngcâu hỏi khi có thắc mắc và chủ động đề nghị giúp đỡ khi người khác khó khăn
-Sự thay đổi hoạt động chủ đạo: Cuối độ tuổi ấu nhi, ở trẻ xuất hiện một mâuthuẫn đó là mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang phát triển mạnh và một bên làkhả năng còn quá non yếu của trẻ, tình trạng trẻ em luôn đòi hỏi “để con tự làm lấy”còn người lớn thì cấm không được làm đã dẫn đến những mâu thuẫn giữa trẻ và ngườilớn để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ phải tìm đến một hoạt động mới: hoạt động vuichơi mà thực chất là trò chơi đóng vai theo chủ đề
Ở trẻ 3 – 4 tuổi, trò chơi đóng vai theo chủ đề vừa mới xuất hiện còn non yếu,nhưng nó vẫn tạo ra ở trẻ một tâm lý mới, một nhân cách hết sức đơn giản, nhưng đóchính lại là xu hướng phát triển cơ bản của trẻ Hoạt động với đồ vật ở độ tuổi ấu nhi
là hoạt động chủ đạo thì nay lùi xuống hàng thứ hai, nhường vị trí cho hoạt động vuichơi chiếm ưu thế và giữ vai trò chủ đạo để tạo ra một diễn biến cơ bản trong tâm lýcủa trẻ, tức là bắt đầu hình thành nhân cách Tuy nhiên vì mới chuyển sang hoạt độngchủ đạo nên hoạt động vui chơi của trẻ chưa đạt tới dạng chính thức mà ở dạng sơkhai Chính vì vậy mà hoạt động vui chơi ở độ tuổi 3 – 4 có những đặc điểm sau:
Trang 9+ Do vốn sống của trẻ còn ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội củangười lớn còn hạn chế Những mảng cuộc sống được đưa vào vai chơi chưa nhiều,chưa rộng chỉ quanh quẩn với những sự vật gần gũi với trẻ.
+ Trẻ vẫn còn bị chi phối bởi hoạt động cũ hoạt động với đồ vật nên trẻ chưaquen phối hợp với nhau cùng hoạt động, chơi vẫn mang tính chất chơi một mình Chỉkhi nào có thêm vài bạn khác cùng chơi, cùng phối hợp thì lúc đó trẻ mới phân vai vànhập vai thực sự
-Sự hình thành ý thức về bản thân Ý thức về bản thân (còn gọi là ý thức bảnngã hay cái “tôi” của một người) được chớm nảy sinh từ cuối tuổi ấu nhi khi trẻ biếttách mình ra khỏi mọi người xung quanh để nhận ra chính mình, biết mình có một sứcmạnh và một thẩm quyền nào đó trong cuộc sống Nhưng ý thức về bản thân của trẻcuối tuổi ấu nhi còn mờ nhạt Với trẻ 3 – 4 tuổi, việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bênngoài được mở rộng dần ra Trẻ bắt đầu tìm hiểu thế giới của chính con người và dầnkhám phá ra được rằng xung quanh có nhiều mối quan hệ chằng chịt giữa người vàngười Trẻ 3 – 4 tuổi rất muốn phát hiện ra những mối quan hệ ấy, nhập vào đó để họclàm người lớn Trò chơi đóng vai theo chủ đề là một dạng hoạt động đặc biệt giúp trẻmột cách có hiệu quả nhất để thực hiện được điều đó Khi nhập vào những mối quan
hệ trong trò chơi, điều quan trọng là trẻ phát hiện ra mình trong nhóm bạn bè cùngchơi, có dịp đối chiếu, so sánh những bạn cùng chơi với bản thân mình Trẻ thấy được
vị trí của mình trong nhóm chơi, khả năng của mình so với bạn ra sao, cần phải điềuchỉnh hành vi như thế nào để phục vụ mục đích chơi chung Tất cả những điều đó dầndần sẽ giúp trẻ nhận ra được mình
Độ tuổi 3 – 4 tuổi là điểm khởi đầu của sự hình thành ý thức bản ngã, nên trong
ý thức đó còn mang những đặc điểm sau đây: trẻ chưa phân biệt thật rõ đâu là ý muốn,
ý đồ chủ quan của mình và đâu là tính chất khách quan của sự việc, chình vì vậythường xảy ra tình trạng là trẻ đòi làm những việc rất vô lí; trẻ còn chưa nhận rõ đâu là
ý muốn nhu cầu chủ quan của mình với những quy định, những luật lệ, những quy tắctrong xã hội, do đó nhiều em thường có những đòi hỏi vô lí mà người lớn không thểđáp ứng được
-Sự phát triển chú ý và ngôn ngữ:
Về chú ý, nhiều thuộc tính chú ý của trẻ ở độ tuổi này được hình thành và pháttriển mạnh Khối lượng chú ý tăng đáng kể không chỉ là số lượng đồ vật trong cùngmột thời điểm trẻ tri giác được nhiều, mà ngay một vật trẻ chú ý được nhiều thuộctính, tính chất hơn Tính bền vững của chú ý tăng đáng kể, theo số liệu nghiên cứu thìtrẻ 3 – 4 tuổi chú ý được khoảng 27 phút so với trẻ 1 tuổi là 14, 5 phút Tính chủ địnhcủa chú ý phát triển mạnh
Sự phát triển ngôn ngữ Số lượng từ ngữ trong giai đoạn 3 – 4 tuổi khoảng từ
800 – 1926 từ (nghiên cứu của E.Arkin) Những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻtrong giai đoạn này là: Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều
Trang 10âm tiết Nói trọn câu ngắn dễ dàng 3 – 4 từ Bắt đầu dùng ngôn ngữ phức tạp hơn.Ngôn ngữ của trẻ thể hiện giọng điệu rõ nét Ngôn ngữ của trẻ thường kèm theo cáchình thức hoạt động tư duy khác nhau, kích thích hành động Trẻ bi bô suốt ngày vàthích được nói liên tục là một bước tiếp theo trong việc phát triển ngôn ngữ.
-Sự phát triển quá trình nhận thức
+ Tri giác: ở độ tuổi này trẻ đã làm chủ được tri giác của mình, dưới sự hướngdẫn bằng lời của người lớn trẻ đã biết quan sát nhất là những đồ vật quen thuộc, trongquan sát trẻ rất tò mò, ham hiểu biết, hay đặt câu hỏi tính đúng đắn trong việc phânbiệt màu sắc, kích thước cao hơn
+ Trí nhớ: trẻ không chỉ ghi nhớ những dấu hiệu bên ngoài mà trẻ đi dần vàothuộc tính khuất trong trường tri giác, ở độ tuổi này trẻ giữ gìn được thông tin gây ấntượng mạnh cho trẻ trong thời gian vài tháng, thậm chí cả đời người; trẻ dễ nhận lại,nhớ lại các thao tác, hành vi, ngôn ngữ Trẻ nhớ nhanh, nhớ đúng những sự kiện, đồvật gắn với cảm xúc, hành động
+ Tư duy: Đến độ tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặc rất cơ bản
Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bên trong mà thực chất đó là việcchuyển từ những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướngbên trong theo cơ chế nhập tâm Qúa trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào nhữnghình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tưduy trực quan – hành động sang kiểu tư duy trực quan – hình tượng L.X.Vuwgootxkicho rằng sự hình thành tư duy chủ yếu thuộc về lĩnh hội ngôn ngữ, tên gọi, chức năngcác đồ vật, sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ Ngôn ngữ là kí hiệu tượng trưng về các
sự vật, hiện tượng do vậy chúng mang tính khái quát Theo A.V.Daporozet thì khi trẻnắm được trung bình 1600 từ thì hàng loạt đặc trưng của tư duy xuất hiện: thao tác sosánh, thao tác phân tích, thao tác tổng hợp
+ Tưởng tượng: đến lứa tuổi này, tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh cả vềdạng loại và các mức độ phong phú của hình ảnh tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượnggắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm tích lũy được Ởlứa tuổi này, trẻ bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ định và tưởng tượng sáng tạo.Ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển
-Sự xuất hiện động cơ hành vi:
+ Trong suốt thời kì mẫu giáo, ở trẻ em diễn ra những biến đổi căn bản tronghành vi, chuyển từ hành vi bộc phát sang hành vi mang tính xã hội Đó cũng chính làquá trình hình thành động cơ của hành vi Tuy nhiên, ở lứa tuổi mẫu giáo bé thì bướcchuyển này cũng ở vào thời điểm khởi đầu
+ Phần nhiều hành động của trẻ mẫu giáo bé còn giống với trẻ ấu nhi Thôngthường trẻ không hiểu tại sao mình hành động như thế này hoặc như thế kia
Trang 11+ Trẻ hành động thường do những nguyên nhân trực tiếp, như theo ý muốn chủquan của mình hoặc do tình huống ở thời điểm đó thúc dục mà không ý thức đượcnguyên cớ nào khiến mình hành động như vậy Dần dần trong hành vi của trẻ có một
số sự biến đổi quan trọng, đó là sự nảy sinh động cơ Lúc đầu động cơ còn đơn giản và
mờ nhạt Khi hành động trẻ bị kích thích bởi động cơ sau đây:
Trước hết đó là những động cơ gắn liền với ý thức muốn được như người lớn,nguyện vọng này biến thành động cơ, dẫn trẻ tới việc sắm vai trong những trò chơiđóng vai theo chủ đề Người lớn có thể dựa vào nguyên tắc đó của trẻ để thực hiệnnhững yêu cầu giáo dục hằng ngày, như khuyên trẻ lớn rồi có thể tự mặc quần áo, tựxúc ăn hoặc người lớn rồi ai lại khóc nhè, cứ như vậy trẻ sẽ thực hiện được những yêucầu của người lớn một cách nhẹ nhàng Những động cơ làm người lớn vui lòng và yêumến cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thựchiện những hành động tích cực Đến đầu độ tuổi mẫu giáo trẻ rất thích được bố mẹ, côgiáo và những người lớn xung quanh khen ngợi mình, yêu thương mình Nhiều khi các
em cố gắng làm việc tốt để được khen ngợi và yêu mến Trẻ thường nói cháu rửa taysạch để cô khen hoặc con ngủ dậy không khóc nhè để mẹ yêu
Vào cuối tuổi mẫu giáo bé, một loại động cơ của hành vi mạng tính đạo đức xãhội được hình thành thể hiện ở sự quan tâm của trẻ đối với những người xung quanh,đối với bạn bè Trong điều kiện có sự giáo dục đúng đắn thì loại động cơ này sẽ đượcphát triển mạnh mẽ ở các giai đoạn sau Đó là cốt lõi trong nền tảng đạo đức trongnhân cách của con người mới trong tương lai
-Sự phát triển cảm xúc, tình cảm, ý chí:
+ Sự phát triển cảm xúc: ở giai đoạn 3-4 tuổi trẻ đã phát triển tất cả các sắc tháixúc cảm, trẻ phản ứng với những người xung quanh, các sự kiện vui, buồn, hờn, giận,
… Đặt biệt trẻ phản ứng xúc cảm qua lời nói, sự vận động và điệu bộ hành vi của trẻ
+ Sự phát triển tình cảm: tình cảm của trẻ đã bắt đầu xuất hiện Khi được nghe
kể chuyện, trẻ thích thú lắng nghe và kể lại nội dung một cách hứng thú, xúc động thật
sự, đối với các nhân vật yếu ớt, tự hào, thích thú noi gương các nhân vật anh hùng
Tình cảm đạo đức ở trẻ thể hiện khá rõ, khi mẹ ốm trẻ biết lo lắng giúp mẹ lấynước biết phân biệt hành vi tốt của mình và trẻ khác
Tình cảm thẩm mĩ được phát triển qua các giờ học vẽ, nặn, xé dán, trẻ biết khenchê đep xấu
Tình cảm thực tiễn: trẻ hoạt động tích cực với đồ vật với quan hệ người, ở hànhđộng thực tiễn này khi thành công, thất bại trẻ đều bọc lộ cảm xúc rất rõ ràng
+ Sự phát triển ý chí: sau thời kỳ khủng hoảng tuổi lên 3 trẻ tự khẳng định đượcmình trong nhóm bạn bè Ý thức về cái tôi được hình thành và phát triển nhanh Một
số phẩm chất ý chí được biểu hiện trong hành động với đồ vật, hành vi ứng xử vớinhững người xung quanh: tính mục đích, tính độc lập, tính kiên trì
Trang 121.1.2 Đặc điểm sinh lí của trẻ 3-4 tuổi:
Vào thời kì này trẻ lớn chậm dần, mỗi năm tăng trung bình 2.000g Chức năngcác bộ phận bắt đầu hoàn thiện và tổ chức não trưởng thành 100% lúc trẻ được 06 tuổi
- Trẻ tự điều khiển một số động tác khéo léo hơn và sống tập thể, thích bạn bè.Khi vào mẫu giáo trẻ nói sõi, hát được, ngâm thơ, học đếm, học vẽ
- Đây là tuổi răng sữa, trẻ bắt đầu nhai được các thức ăn cứng của người lớn vàrất chán ăn đồ lỏng mềm của tuổi nhũ nhi Vì vậy, trẻ rất dễ chán ăn nếu như cứ duy trìchế độ ăn sữa và bột Ở lứa tuổi này hệ thống miễn dịch bắt đầu hoạt động tốt hơn
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng của trẻ 3-4 tuổi:
Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 3đến 4 tuổi Vì đây là một mốc quan trọng trong sự phát triển của trẻ Qua lứa tuổi ăncháo, trẻ bắt đầu tập ăn cơm và hoàn thiện khả năng vận động, ngôn ngữ dần tốt hơn.Đây là lúc bắt đầu đi học ở lớp mẫu giáo, bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời.Với bước ngoặt này trẻ cần có sự theo dõi sát và chăm sóc phù hợp để trẻ tiếp tục pháttriển tốt nhất
Ở tuổi lên 3, trẻ cao 90-93 cm là tốt Sau đó, mỗi tháng trẻ cao thêm 0,5-1 cm.Lúc 4 tuổi, trẻ cao 1m là đúng tiêu chuẩn Cân nặng lúc 3 tuổi trẻ nặng khoảng 14-14,5
kg Lúc này trẻ tăng cân chậm, khoảng 100-200g mỗi tháng Sau 1 năm đến khi tròn 4tuổi, trẻ tăng thêm 2 kg, tức là nặng khoảng 16-16,5 kg
Dinh dưỡng chiếm đến 32% kết quả phát triển chiều cao cho trẻ vào giai đoạnnày (yếu tố di truyền quyết định 23% kết quả, còn lại 5-10% cho mỗi yếu tố khác nhưtập luyện và vận động, giấc ngủ, môi trường, bệnh lý )
Dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn này cần được chú trọng, sao cho đầy đủ cácnhóm chất Ngoài ra, nên duy trì sữa công thức và bổ sung đều đặn cho trẻ 2-3 ly sữamỗi ngày vì sữa là nguồn dinh dưỡng thiết yếu giúp cung cấp lượng Canxi đầy đủ chotrẻ, điều mà nếu chỉ dựa vào những bữa ăn hàng ngày thì sẽ thường thiếu hụt
Trẻ không cần quá nhiều chất béo từ động vật như trước nên có thể giảm lượng
mỡ động vật (trừ mỡ cá) xuống một chút, thay vào đó sử dụng các loại dầu mè, dầuđậu phụng, dầu ô-liu… Cho trẻ ăn thịt nạc, cá và tôm
+ Lượng sữa nên giảm xuống còn 500ml/ngày Khuyến khích trẻ uống sữa tươikhông đường, sữa công thức
+ Tăng cường lượng rau củ, trái cây Cố gắng trình bày các món rau củ, trái câythật bắt mắt, hấp dẫn để tạo thói quen ăn nhiều rau củ, trái cây từ lúc này cho trẻ
Điều cần lưu ý là trong mỗi chén cháo, chén cơm của trẻ đều cần có đủ 4 nhómthực phẩm với 2-3 muỗng vun chất đạm băm nhuyễn (thịt, cá, tôm, cua, trứng, đậu hũ,gan, huyết, óc heo…), 2 muỗng rau lá hoặc củ băm nhuyễn (rau muống, rau dền, bí đỏ,
cà rốt ), 1-2 muỗng dầu ăn
Trang 131.2 Một số vấn đề về thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi:
1.2.1 Khái niệm thừa cân, béo phì:
Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cáchcục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ [1, tr64]
1.2.2 Biểu hiện của thừa cân, béo phì:
Hiện nay, tình hình thừa cân béo phì ở trẻ em đang tăng lên với một tốc độ báođộng, không chỉ ở những nước phát triển, mà còn ở ngay cả những nước đang pháttriển như nước ta Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa quan tâm nhiều và chưa biết đượcnhững biểu hiện của trẻ bị thừa cân, béo phì Sau đây là một số biểu hiện điển hình:
- Ngại hoạt động, vận động: Nếu trước khi bị thừa cân, béo phì trẻ thích vậnđộng bao nhiêu thì khi bị thừa cân, béo phì trẻ ngại vận động bấy nhiêu, chỉ thích nằmmột chỗ ăn và ngủ
- Thức khuya, ăn tối muộn: Trẻ thường thức khuya để xe tivi, chơi game Khithức khuya trẻ dễ đói và cần thêm một bữa ăn phụ nữa, điều này làm cho toàn bộ nănglượng của bữa ăn này sẽ hoàn toàn được dùng cho việc tạo mỡ dự trữ
- Thích ngủ và hay mệt mỏi: Ngủ thì cảm thấy không mệt mỏi, mặc dù ngủ khánhiều nhưng khi tỉnh dậy vẫn thấy thèm ngủ, cơ thể mệt mỏi
- Luôn ăn hết phần và đòi ăn thêm: trẻ thừa cân béo phì thường có thói quen háu
ăn, ăn nhanh, ăn nhiều, ăn hết suất ăn của mình, đòi thêm suất ăn, trẻ ăn nhiều bữatrong ngày,…
- Thích ăn: Trẻ thừa cân, béo phì rất thích ăn và đặc biệt là ăn nhiều những mónđường bột như là chè, kem, bánh ngọt, sô-cô-la hoặc những món béo như là thịt mỡ,thịt quay, thức ăn chiên, món tiềm hay súp nhiều chất béo
- Tăng cân nhiều, mỗi tháng và liên tục: Số cấn nặng hàng tháng của trẻ đạtđược nhiều hơn sự phát triển bình thường và tăng cân liên tục qua các tháng Đườngbiểu diễn cân nặng của trẻ trên biểu đồ tăng trưởng tăng nhanh hơn đường cong tăngtrưởng chuẩn và không phải vì lý do lớn bù do giảm cân trước đó thì có thể trẻ mắcchứng thừa cân, béo phì [7,tr51]
- Chỉ số khối cơ thể của trẻ cao hơn bình thường vượt quá mức so với chuẩn
1.2.3 Tác hại của thừa cân, béo phì ở trẻ:
Có thể nói, trẻ thừa cân, béo phì là xu hướng đáng lo ngại không chỉ riêng ởViệt Nam mà còn ở các nước khác trên toàn thế giới Bởi thừa cân, béo phì đem lạinhững hâu quả vô cùng nghiêm trọng
- Ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ:
Trang 14+ Béo phì ở trẻ làm tăng nguy cơ béo phì ở người lớn sau này (1/3 người lớn bịbéo phì có nguồn gốc béo từ lúc nhỏ).
+Trẻ béo phì khi lớn lên có nhiều nguy cơ mắc các bệnh tim mạch: Tăng huyết
áp, nhồi máu cơ tim, bệnh tiểu đường, sỏi mật, bệnh ở xương khớp, rối loạn chức năngcủa dạ dày, ruột, bệnh ngoài da và có nguy cơ mắc một số bệnh ung thư như: ung thư
vú, tử cung, tiền tuyến liệt [4, tr tr48]
+Béo phì ở trẻ có thể gây ra các bệnh tim mạch từ giai đoạn giữa đến giai đoạnsau cuộc đời, nghiên cứu mới chỉ ra BMI cao hơn bình thường có thể khiến cho sứckhỏe tim mạch trở nên tồi tệ hơn
+Trẻ em bị béo phì còn phải đối mặt với nguy cơ phát triển bệnh tiểu đườngtăng gấp 4 lần so với những trẻ có chỉ số khối cơ thể BMI trong giới hạn bình thường.[5]
+Tỉ lệ bênh tật cao tăng yếu tố nguy cơ mắc các bệnh như chuyển hóa bấtthường glucose, rối loạn gan mật - đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng giảiphẫu [1, tr73]
+Trẻ em bị thừa cân béo phì khi còn quá nhỏ thì nguy cơ cao là sẽ có ảnh hưởngkhông tốt tới sự phát triển Những phần xương chưa đủ sức để chịu tải trọng của thịt,nếu kéo dài sẽ dẫn đến tổn thương sụn, từ đó sinh ra chứng đầu gối lật vào trong hoặcngoài cũng như chứng bàn chân bẹt
-Ảnh hưởng đến thể lực:
+ Mất cân bằng trong cuộc sống, trẻ béo phì luôn có cảm giác nặng nề, khókhăn trong mọi hoạt động của cuộc sống nhất là mùa hè thường xuyên khó chịu bởilớp mỡ dày, cảm thấy mệt mỏi toàn thân làm cho cuộc sống trẻ thiếu thoải mái [4,tr48]
+ Kém lanh lợi, trẻ béo phì thường phản ứng chậm hơn những trẻ khác trongsinh hoạt cũng như trong học tập Trẻ thường rất thụ động, suy nghĩ và làm việc chậmchạp, không thích tham gia vào các hoạt động tập thể nên thường thất bại trong họctập, khám phá, vui chơi [ 1, tr73]
-Ảnh hưởng đến tâm lý:
+ Trẻ béo thường dễ bị tâm lý, dễ trở nên tự kỉ, cô lập, dễ coi thường bản thânmình, những tổn thương tâm lý này có thể kéo dài đến khi trẻ trưởng thành, giảmthành công trong học tập và thường không khỏe mạnh
+ Trẻ béo phì thường có mặc cảm, cho mình là thô kệch, xấu xí và tin rằng cácbạn khác muốn loại trừ mình khỏi các hoạt động
+ Trẻ béo phì thường có cảm giác bức bối khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dàygần như trở thành một hệ thống cách nhiệt
Trang 15+ Trẻ béo phì cũng thường xuyên cảm thấy mệt mỏi chung toàn thân, hay nhứcđầu tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái Sự mặc cảm làm cho trẻbuồn phiền, không yên tâm học tập [1, tr73-74]
- Ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với môi trường của trẻ: Trẻ bị thừa cân,béo phì thường có khả năng chịu nóng kém, trẻ nhanh mệt khi vận động, nhất là vàomùa hè
1.2.4 Tỷ lệ thừa cân, béo phì củ trẻ ở Việt Nam:
Thừa cân, béo phì đang là một vấn nạn nhức nhối trong xã hội hiện nay, khôngchỉ ở những nước phát triển mà ngay cả ở những nước đang phát triển như Việt Nam.Trẻ em thừa cân, béo phì tại Việt Nam đang tăng lên gấp 10 lần từ năm 1976 đến nay.[3]
Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, Bộ Y tế tỷ lệ thừa cân, béo phì trẻ
em tăng từ 8,5% năm 2010 lên thành 19% năm 2020 (gấp hơn 2 lần), trong đó ở khuvực thành thị là 26,8% (gấp hơn 3 lần), nông thôn là 18,3% và miền núi là 6,9% [2]
Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng, nhất là ở khuvực đô thị Tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi (năm 2019) là 9,7% [8]
Ở một số thành phố lớn, tỷ lệ này còn cao hơn, ví dụ như Hà Nội là 11,5% và
TP Hồ Chí Minh là 14,4% Những con số đó đã vượt qua con số mà chúng ta mongmuốn duy trì là dưới 10% ở thành phố và dưới 5% ở nông thôn Một số tỉnh có kinh tếkhá hơn như Lâm Đồng, Bình Dương, thì tỷ lệ này cũng xấp xỉ 10% Đó là những con
số thật đáng lo ngại cho tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ em hiện nay ở Việt Nam
1.2.5 Nguyên nhân thừa cân, béo phì ở trẻ:
Như chúng ta đã biết có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thừa cân béo phì ở trẻ
em, nhưng chung quy lại thì thừa cân béo phì ở trẻ em chủ yếu là do những yếu tố sau:
+ Ăn nhiều chất bổ dưỡng: Nhiều cha mẹ cho con ăn quá nhiều thịt, cá, trứng,sữa điều này là sai lầm Bời không phải cứ ăn nhiều đạm thì cơ thể sẽ khỏe mạnh,ngược lại nếu bạn lạm dụng quá nhiều chất đạm sẽ khiến cơ thể trẻ dư thừa protein dẫnđến béo phì hay nhiều bệnh khác liên quan
+ Nuôi dưỡng trẻ bằng sữa bò: Những trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa bò cónhiều nguy cơ thừa cân hơn là nuôi bằng sữa mẹ Các tác giả cho rằng do thức ăn nhân
Trang 16tạo có nhiều protein và muối hơn nên làm tăng áp lực thẩm thấu máu gây cảm giáckhác ở trẻ, kích thích trẻ ăn uống nhiều hơn và tăng cân.
+ Thói quen hay ăn vặt, ăn nhiều vào buổi tối, ăn đồ xào rán cũng là nguyênnhân dẫn đến trẻ bị béo phì [1, tr71]
+ Ăn trong lúc tâm lý căng thẳng, ép trẻ phải ăn: Ngày nay, các gia đình thường
ít con nên mong muốn cho con những gì tốt nhất, cha mẹ sợ con bị ốm, bị chê cườinên thường xuyên ép trẻ phải ăn Trẻ ăn trong tâm lý căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến dạdày và tâm lý của trẻ
+ Cho con ăn quá nhiều và nghĩ con ăn được nhiều là tốt Vì vậy con ăn rấtngon miệng và không có ý dừng lại nên cha mẹ để cho con thỏa sức ăn, thậm chí nhiềugia đình còn ép con ăn dù trẻ không hề cảm thấy đói Điều này làm cho trẻ có nguy cơ
bị béo phì và gan nhiễm mỡ cao gấp nhiều lần so với trẻ khác
+ Để con ăn quá nhanh: Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn quá nhanh không
có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ em Ăn quá nhanh khiến con khôngcảm nhận được hương vị của thức ăn và cơ thể cũng gặp khó khăn trong việc hấp thụchất dinh dưỡng Bên cạnh đó, ăn quá nhanh cũng sẽ khiến trẻ phải ăn nhiều mới cảmthấy no và dễ dàng mắc bệnh béo phì
+ Do lối sống tĩnh tại làm giảm tiêu hao năng lượng Chúng dùng quá nhiềuthời gian để xem tivi hoặc chơi game Những hoạt động này góp phần làm tình trạngbéo phì tăng thêm Bởi điều này có liên quan tới ăn vặt giữa các bữa chính, tinh chấtcủa thức ăn lại có xu hướng nhiều năng lượng như bánh kẹo, đồ ngọt Măc khác, trẻthích ăn còn do ảnh hưởng của quảng cáo thức ăn trên ti vi [1, tr72]
-Yếu tố di truyền: Nếu trẻ có cha hoặc mẹ có bệnh béo phì thì trẻ sẽ có khảnăng mắc bệnh này cao hơn rất nhiều lần so với những đứa trẻ thông thường khác:
+ Cả bố và mẹ đều bị béo phì thì tỷ lệ trẻ bị béo phì là 80%
+ Một trong 2 người bị béo phì thì tỷ lệ trẻ bị béo phì là 40%
+ Bố mẹ bình thường thì tỷ lệ trẻ bì béo phì là 7% [7, tr50]
- Các yếu tố tâm lý: Căng thẳng cá nhân, của bố mẹ hay các thành viên tronggia đình có thể làm tăng các nguy cơ của béo phì ở trẻ Một số trẻ ăn nhiều để đối phóvới các rắc rối này hoặc đối phó với các cảm xúc căng thẳng hay buồn tẻ của chúng
Trang 17+ Chế độ ăn phù hợp (và tập luyện phù hợp) nhằm giảm dần lượng mỡ đã tích
tụ và thay bằng lượng cơ thể phát triển do tập luyện
+Thực hiện đa dạng các loại thực phẩm trong từng bữa ăn, nên cho trẻ ăn đềuđặn không bỏ bữa, không để trẻ quá đói vì nếu bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa
ăn sau làm mỡ tích lũy nhiều hơn
+ Hạn chế sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn: thịt hộp, xúc xích và các thựcphẩm nhiều chất béo: bơ, mỡ, thịt ba chỉ, thịt mỡ
+ Hạn chế chế biến các món chiên, xào, rán: tăng cường các món hấp, luộc
+ Không cho trẻ ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ
+ Thay đổi chế độ dinh dưỡng cần được thực hiện theo nguyên tắc: giáo dụccách ăn uống lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu dinh dưỡng, phòng ngừatăng cân nhanh, giữ cân nặng ổn định, đảm bảo đủ nhu cầu chất dinh dưỡng thiết yếu,
và lối sống năng động giúp trẻ tăng khối nạc, giảm khối mỡ, giữ tăng trưởng chiều caobình thường
+ Phòng chống thừa cân béo phì ở trẻ tuyệt đối không được áp dụng những điềusau: không dùng thuốc, phẫu thuật, không áp dụng chế độ ăn kiêng khắc khe Các chế
độ ăn kiêng khắc khe sẽ có hại cho sức khỏe của trẻ Giảm cân nhanh do chế độ ănkhắc khe gây giảm hoặc thiếu hụt protein, vitamin, chất khoáng Buộc trẻ ăn theo chế
độ ăn theo chế độ khắc khe có thể tác động lên tâm lý trẻ như gây chứng chán ăn tâm ýhay chứng ăn nhiều quá mức, sau giai đoạn giảm cân, trẻ sẽ “ăn bù” và nhanh chónglấy lại cân nặng
+ Khi xây dựng chế độ ăn cho trẻ cần quan tâm đến nhu cầu năng lượng của trẻ,nhu cầu với từng loại chất dinh dưỡng như chất đạm, chất béo, chất bột đường, nhucầu vitamin, nhu cầu chất khoáng và yếu tố vi lượng, nhu cầu nước Cần quan tâm đếntính cân đối của khẩu phần ăn của trẻ lứa tuổi mẫu giáo trong đó chất bột đường cungcấp 50-60% tổng năng lượng, chất béo chiếm 30-40% và chất đạm chiếm 10-14%
-Tăng cường hoạt động thể lực ở trẻ:
+ Cần hạn chế thời gian trẻ ngồi xem tivi, trò chơi điện tử dưới 1 giờ/ ngày
Trang 18+ Không nên bắt trẻ học quá nhiều, nên tạo điều kiện để trẻ được vui đùa chạynhảy sau những giờ học căng thẳng.
+ Khuyến khích trẻ tham gia các trò chơi vận động phù hợp với lứa tuổi như đábóng, chơi cầu lông, bơi lội, nhảy dây, đá cầu nên hướng dẫn trẻ tìm được môn thểthao ưa thích sẽ giúp trẻ hứng thú hơn
+ Khuyến khích trẻ tham gia giúp mẹ một số công việc như quét dọn, rửa chénbát, thu dọn đồ chơi, chăm sóc em nhỏ Khuyến khích trẻ đi bộ đến lớp nếu ở gầntrường học, không dùng cầu thang máy mà đi cầu thang bộ
-Thường xuyên theo dõi cân nặng, chiều cao của trẻ ở mọi lứa tuổi qua đó nhằmphát hiện sớm trẻ bị bệnh thừa cân béo phì để kịp thời điều chỉnh chế độ ăn và sinhhoạt của trẻ sao cho hợp lý
- Không được bắt trẻ nhịn ăn, làm như vậy trẻ sẽ cảm thấy bị quá đói, dẫn đếnkhi được ăn trẻ sẽ ăn “trả thù”
- Không sử dụng các loại thuốc giảm cân cho trẻ
Ngoài ra cần khuyến khích các gia đình tham gia vào việc phòng chống thừacân béo phì ở trẻ, cung cấp kiến thức cho các bậc phụ huynh nuôi dưỡng trẻ để tránhmắc phải những sai lầm trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ
1.3 Các phương pháp đánh giá trẻ thừa cân, béo phì:
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận cấu trúc và phản ứngmức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Vì vậy, có rất nhiều phương pháp đánhgiá tình trạng dinh dưỡng để phát hiện trẻ thừa cân béo phì như:
- Phương pháp nhân trắc học: đánh giá các chỉ số phát triển ở trẻ em và các chỉ
số về thể chất có liên quan đến dinh dưỡng
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứngthiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bàitiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe.Tuy nhiên, trên cộng đồng hiện nay người ta thường sử dụng phương pháp nhântrắc học (sử dụng biểu đồ tăng trưởng, độ lệch chuẩn, Z-scores) và sử dụng tiêu chuẩnđánh giá tổ chức y tế thế giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ cũng nhưngười trưởng thành, bởi phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện
Trang 191.3.1 Một số phương pháp thường dùng để đánh giá thừa cân, béo phì:
Để xác định trẻ có bị thừa cân, béo phì hay không có nhiều phương pháp khácnhau, nhưng trong thực tế người ta thường dựa vào cân năng và chiều cao Có các cáchnhư sau:
- Cách 1: Xác định trẻ béo phì bằng phương pháp đo chiều cao và cân nặng:
Theo PGS TS Nguyễn Thị Lâm [6], nếu chiều cao của trẻ vẫn ở mức chuẩnbình thường mà cân nặng vượt quá chuẩn bình thường 25% thì trẻ có nguy cơ bị bệnhbéo phì, nếu cân nặng vượt quá 50% thì chắc chắn trẻ bị béo phì
Cách này chưa được công nhận rộng rãi, chủ yếu dùng để ước lượng tình trạngTCBP ở trẻ mà khó đánh giá chính xác một trẻ TC hay BP hoặc có bị TCBP haykhông
- Cách 2: Sử dụng Biểu đồ tăng trưởng
Để đánh giá TCBP ở trẻ trong độ tuổi mầm non, chúng ta có thể sử dụng Biểu
đồ tăng trưởng Có 2 loại Biểu đồ dùng để đánh giá TCBP ở trẻ
+ Đối với trẻ dưới 5 tuổi, dùng Biểu đồ “Cân nặng theo chiều dài/chiều cao” đểđánh giá TCBP của trẻ Để đánh giá, chúng ta lấy điểm giao nhau của cân nặng (trụctung) với chiều cao của trẻ (trục hoành) Tọa độ của giao điểm nằm trên kênh nào củabiểu đồ Đối chiếu hướng dẫn để dánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ Nếu tọa độcủa điểm cân nặng theo chiều cao nằm trong kênh trên + 2SD thì trẻ bị thừa cân còntọa độ của điểm cân nặng theo chiều cao nằm trong kênh trên + 3SD thì trẻ bị béo phì
+ Đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên, sử dụng biểu đồ “BMI theo tuổi” để đánh giá tìnhtrạng TCBP của trẻ Sau khi tính BMI và tháng tuổi của trẻ, lấy điểm giao nhau củaBMI (trục tung) với tháng tuổi của trẻ (trục hoành) Tọa độ của giao điểm nằm trênkênh nào của biểu đồ Nếu tọa độ giao điểm giá trị BMI với tuổi nằm trong kênh +1
SD + 2 SD thì trẻ bị thừa cân Nếu tọa độ giao điểm giá trị BMI với tuổi của trẻ nằmtrong kênh trên + 2SD thì trẻ bị béo phì
- Cách 3: Dựa vào chỉ số Z-score BMI theo tuổi (được trình bày cụ thể ở phần1.3.2 sau đây
1.3.2 Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì của trẻ dựa vào chỉ số Z-score BMI
Chỉ số BMI hay còn được gọi là chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index).Dựa vào chỉ số BMI của một người có thể biết được người đó béo, gầy hay có cânnặng lý tưởng Chỉ số này được đề ra lần đầu tiên vào năm 1832 bởi một nhà khoa họcngười Bỉ Công thức tính chỉ số BMI tương đối đơn giản, chỉ dựa vào 2 chỉ số là chiềucao và cân nặng
Trang 20P BMI
Z-score < -3SD Suy dinh dưỡng thể gầy còi nặng
-3SD Z-score -2SD Suy dinh dưỡng thể gầy còi
2SD < Z-score 3SD Trẻ thừa cân
VD: Ngày 19/03/2021 nhà trường tổ chức cân đo cho trẻ Thu được kết quả cân
đo như sau:
- Trẻ Ngô Nguyễn H.M sinh ngày 16/03/2017, cân nặng 17.5 kg, chiều cao 101
cm
- Trẻ Bùi Ngô G.N sinh ngày 8/10/2017, cân nặng 21 kg, chiều cao 104 cm
- Nguyễn Hữu M.T sinh ngày 17/08/2017 cân nặng 22kg, chiều cao 99 cm
Sau khi có số liệu cân đo ta tiến hành tính tuổi tháng sinh cho tới ngày cân đo
và chỉ số BMI của trẻ, ta được kết quả như sau:
- Trẻ Ngô Nguyễn H.M tháng tuổi cho tới ngày cân đo 48 tháng tuổi, chỉ sốBMI = 17.2
- Trẻ Bùi Ngô G.N tháng tuổi cho tới ngày cân đo 41 tháng tuổi, chỉ sốBMI=19.4
- Nguyễn Hữu M.T tháng tuổi cho tới ngày cân đo 43 tháng tuổi, chỉ sốBMI=22.4
Sau khi có được chỉ số BMI và tháng tuổi của trẻ, dựa vào Bảng Z-score theotuổi và giới tính của trẻ (xem phần Phụ lục) ta xác định được:
- Trẻ Ngô Nguyễn H.M bình thường
- Trẻ Bùi Ngô G.N bị thừa cân
- Nguyễn Hữu M.T bị béo phì
Trang 21Chương 2: Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi tại Trường Mầm non Hồng Bàng - Thành phố Nha Trang
2.1 Vài nét về Trường Mầm non Hồng Bàng:
Trường Mầm non Hồng Bàng là một trường công lập thuộc thành phố NhaTrang, tỉnh Khánh Hòa Trường được thành lập vào ngày 10 tháng 4 năm 1987 Nhàtrường được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, ngành giáo dục tạo mọi điều kiệnthuận lợi đưa vào kế hoạch xây dựng mới lại Trường Mầm non Hồng Bàng vào năm
2006 Được Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số CTUBND ngày 13/03/2018, cấp Bằng công nhận Trường Mầm non Hồng Bàng đạtchuẩn Quốc gia mức độ 1 Trường có 9 nhóm lớp với 2 điểm trường: cơ sở 1 ở địa chỉ
693/QĐ-130 Hồng Bàng, phường Tân Lập, thành phố Nha Trang gồm 3 lớp nhà trẻ và 3 lớpmẫu giáo (2 lớp mẫu giáo nhỡ, 1 lớp mẫu giáo bé); cơ sở 2 ở địa chỉ 73 Nguyễn ThịMinh Khai, phường Tân Lập, thành phố Nha Trang, gồm 1 lớp mẫu giáo bé và 2 lớpmẫu giáo lớn
Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường gồm 33 người Trong đóLãnh đạo nhà trường gồm có 03 người (01 Hiệu trưởng; 02 Phó Hiệu trưởng), có 18giáo viên đứng lớp (100% giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn), nhân viên nhàtrường gồm 12 người (6 cấp dưỡng, 2 bảo vệ, 1 kế toán, 1 y sỹ, 2 tạp vụ) Trường cótổng số 10 Đảng viên Có Chi bộ, Công đoàn và Chi đoàn độc lập, có 04 tổ (02 tổ giáoviên, 01 tổ cấp dưỡng, 01 tổ hành chính) Đa số giáo viên trong trường đều là nhữngngười có tuổi đời và tuổi nghề cao, hầu hết giáo viên đều yêu nghề, mến trẻ, luôn cótinh thần trách nhiệm cao trong mọi công tác chăm sóc giáo dục trẻ, cũng như trongviệc học tập nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân Nhìn chung, đội ngũ giáoviên của trường đều năng động, sáng tạo, đoàn kết giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệmvụ
Trường có cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ;ngoài ra nhà trường còn trang bị thêm các phương tiện công nghệ thông tin như: máychiếu, đèn chiếu, máy chụp hình, hệ thống internet không dây phục vụ tốt cho côngtác quản lý và dạy học
Trong công tác giáo dục, trường đã thực hiện tốt chương trình giáo dục mầmnon mới, thường xuyên tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho giáo dục như trò chơi dângian, hát dân ca, đồng giao,… Đặc biệt, nhà trường được Sở Giáo dục và Đào tạoKhánh Hòa xếp loại xuất sắc trong phong trào xây dựng trường học thân thiện - họcsinh tích cực
Trường Mầm non Hồng Bàng hoạt động theo chỉ đạo của Phòng Giáo dục vàĐào tạo Nha Trang và theo quy định của Điều lệ trường mầm non Nhà trường luônchấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nhà trường
đã xây dựng và thực hiện tốt các phong trào thi đua do ngành giáo dục và địa phươngphát động
Trang 22Quản lý tốt công tác chuyên môn, công tác tài chính, tài sản theo quy định.Công tác chăm sóc sức khỏe, bảo vệ an toàn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻcũng được nhà trường chú trọng, thường xuyên tổ chức các hoạt động lễ hội, vui chơinhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
2.2 Mô tả quá trình nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài “Thực trạng béo phì của trẻ 3-4 tuổi tại Trường Mầm nonHồng Bàng - Thành phố Nha Trang”, trong thời gian thực tập 6 tuần (từ ngày 15/03-23/04/2021) tôi đã tiến hành những công việc sau:
-Tìm hiểu thông tin chung về Trường Mầm non Hồng Bàng-Nha Trang nơikhảo sát thực trạng
+ Mục đích: Tìm hiểu các thông tin về cở sở giáo dục mầm non (năm thành lập,quy mô, các thành tựu đã đạt được, tình hình cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sócgiáo dục trẻ, tình hình đội ngũ cán bộ - giáo viên – nhân viên, chất lượng phục vụ củađội ngũ y tế, chăm sóc sức khỏe của trẻ
+ Phương pháp thực hiện: Trò chuyện, trao đổi với với ban giám hiệu trườngMầm non Hồng Bàng- Nha Trang và giáo viên tại nhóm lớp thực tập để nắm được cácthông tin về nhà trường
-Khảo sát tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì ở Trường Mầm non Hồng Bàng – NhaTrang
+ Mục đích để xác định tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tính toán, so sánh vớibảng tiêu chuẩn BMI của WHO (bảng Z-score BMI theo tuổi) để xác tình tỉ lệ thừacân, béo phì của trẻ tại Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang
+ Phương pháp thực hiện:
Cân đo, thu thập và xử lý số liệu về chiều cao, cân nặng, một số thông tin (ngày,tháng, năm sinh, giới tính) của 30 trẻ ở độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non HồngBàng – Nha Trang để làm cơ sở xác định trẻ nào bị thừa cân, béo phì
Tiến hành nhập thông tin và số liệu về chiều cao, cân nặng của trẻ, tính chỉ sốBMI của trẻ, sau đó so sánh đối chiếu bảng tiêu chuẩn BMI của WHO (bảng Z-scoreBMI theo tuổi) để xác định tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tính tỉ lệ thừa cân, béo phìcủa trẻ
-Tìm hiểu nguyên nhân thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi ở Trường Mầm nonHồng Bàng – Nha Trang:
+ Mục đích: Tìm hiểu thói quen về dinh dưỡng và vận động ở trẻ để tìm ranguyên nhân ảnh hưởng, dẫn đến thừa cân, béo phì ở trẻ và từ đó đề xuất các biệnpháp phù hợp để hạn chế tỉ lệ thừa cân, béo phì của trẻ
+ Phương pháp thực hiện: Quan sát, theo dõi thói quen về dinh dưỡng, vậnđộng của trẻ thừa cân, béo phì để làm rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến thừa cân, béo
Trang 23phì ở trẻ Trò chuyện, đàm thoại với giáo viên nhóm lớp và với trẻ để biết thêm nhữngthói quen ăn uống, vận động của trẻ, để phân tích bổ sung cho nguyên nhân dẫn đếnthừa cân, béo phì ở trẻ và từ đó đề xuất biện pháp sao cho phù hợp.
Cuối cùng, trên cơ sở các dữ liệu thu thập được từ tất cả các thao tác nghiên cứunêu trên, đề tài tổng hợp được những thành công và hạn chế của thực trạng thừa cân,béo phì của trẻ 3-4 tuổi Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang, chỉ ra các nguyênnhân chăm sóc, thói quen ăn uống, vận động của trẻ ảnh hưởng đến thừa cân, béo phì
Từ đó đề xuất ra các biện pháp liên quan đến chế độ dinh dưỡng, giáo dục trẻ thóiquen ăn uống và vận động thể lực
2.3 Thực trạng thừa cân, béo phì của trẻ 3-4 tuổi tại Trường Mầm non Hồng Bàng -Thành phố Nha Trang:
Hiện nay, thừa cân béo phì ở trẻ em đang là vấn đề thách thức sức khỏe cộngđồng trên toàn cầu Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng,nhất là ở khu vực đô thị Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, Bộ Y tế tỷ lệthừa cân, béo phì trẻ em tăng từ 8,5% năm 2010 lên thành 19% năm 2020 (gấp hơn 2lần), trong đó ở khu vực thành thị là 26,8% (gấp hơn 3 lần), nông thôn là 18,3% vàmiền núi là 6,9% [2]
Qua quá trình thu thập và xử lý thông tin, số liệu của 30 trẻ được cân đo vàongày 19 tháng 3 năm 2021 thu được kết quả về tình trạng dinh dưỡng và tỷ lệ thừa cân,béo phì theo giới tính của trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trangnhư sau:
Bảng 1: 1Tỷ lệ tình trạng dinh dưỡng của trẻ 3-4 tuổi tại Trường Mầm non Hồng
Trang 24Qua quan sát bảng 1 ta thấy rằng tỷ lệ TCBP của trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở TrườngMầm non Hồng Bàng – Nha Trang là 7 trẻ chiếm tỷ lệ 23,3%, trong đó trẻ thừa cân là
4 trẻ chiếm tỷ lệ là 13,3%, trẻ béo phì là 3 trẻ chiến tỷ lệ 10% Theo kết quả TCBP củatrẻ lớp 3-4 tuổi B Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang so với kết quả điều tradinh dưỡng của Viện Dinh Dưỡng công bố 2020 thì: Tỷ lệ TCBP của trẻ lớp 3-4 tuổi BTrường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang là 23,3%, cao hơn so với mức trung bìnhcủa cả nước (19%) nhưng thấp hơn so với tỷ lệ TCBP của khu vực thành thị (26,8%).Trong khi đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ là 0%, điều này cho ta thấy nhà trường cũngkhá quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng ở trẻ Ngược lại với tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thì
tỷ lệ trẻ TCBP trẻ 3-4 tuổi của trường cũng còn khá cao, nó đang là một nguy cơ tiềm
ẩn và cần có biện pháp giải quyết quyết liệt hơn
Bên canh đó, tỷ lệ thừa cân béo phì còn được phân định theo giới tính, sự chênhlệch về tỷ lệ TCBP giữa trẻ trai và trẻ gái khá rõ Dưới đây là bảng tỷ lệ thừa cân, béophì của trẻ 3-4 tuổi ở Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang theo giới tính:
Bảng 2: Tỷ lệ thừa cân, béo phì theo giới tính STT Tình trạng dinh
dưỡng
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Hình 2: Biểu diễn tỷ lệ TCBP của trẻ theo giới tính
Theo thống kê về tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ theo giới tính ở độ tuổi 3-4 tuổicủa Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang (Bảng 2) ta có thể thấy tỷ lệ trẻ TCBP
ở trẻ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ nam cả về mặt số lương lẫn tỷ lệ Cụ thể có 30 trẻtrong đó có 13 trẻ nam và 17 trẻ nữ, mà trong đó ở trẻ nam có 2/11 trẻ bị TCBP, chiếm
tỷ lệ 15,4%, còn ở trẻ nữ con số trẻ bị TCBP là 5/17, chiếm tỷ lệ 29,4% Như vậy, tathấy tỷ lệ trẻ bị TCBP ở trẻ 3-4 tuổi của Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang có
sự chênh lệch với nhau về giới tính, trẻ gái chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ trai Đứng ở cương
vị của một người làm nghiên cứu thì tôi thấy con số trẻ TCBP ở các nhóm lớp 3-4 tuổi
ở Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang nói riêng và toàn trường nói chung đang
ở mức đáng báo động Theo ý kiến chủ quan của tôi thì một trong những nguyên nhândẫn đến tình trạng TCBP ở Trường Mầm non Hồng Bàng – Nha Trang cao như vậy làxuất phát từ điều kiện kinh tế của gia đình trẻ và môi trường chăm sóc ở trường vớimột chế độ dinh dưỡng khá đặc biệt Sở dĩ tôi đưa ra nhận định này bởi vì TrườngMầm non Hồng Bàng – Nha Trang là một trong những trường nằm ở trung tâm thànhphố, được nhiều phụ huynh quan tâm gửi gắm con em mình Bên cạnh đó, các con em