1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bằng những thu hoạch trong chuyên đề “lịch sử chống ngoại xâm việt nam thời kì trung đại”, anh (chị) hãy bình luận và chứng minh nhận định trên

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 196,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ HỌC PHẦN: CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM Chủ đề: Nói về tính đa tuyến, toàn bộ và toàn diện của lịch s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA LỊCH SỬ

HỌC PHẦN: CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Chủ đề: Nói về tính đa tuyến, toàn bộ và toàn diện của lịch sử Việt Nam, giáo sư

Phan Huy Lê nhận định:“Lịch sử chống ngoại xâm là một đặc điểm nổi bật của

lịch sử Việt Nam và giữ vai trò định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược và đô hộ của nước ngoài Chính cuộc đấu tranh sống còn này đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc” (Phan Huy Lê, Lịch sử và văn hóa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận,

Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr.17) Bằng những thu hoạch trong chuyên đề

“Lịch sử chống ngoại xâm Việt Nam thời kì trung đại”, anh (chị) hãy bình luận và

chứng minh nhận định trên

Sinh viên thực hiện: Hoàng Minh Huệ, Năm thứ: 3/4 năm đào tạo

Mã sinh viên: 695602055 Lớp: K69 A.

Hà Nội, tháng 8 năm 2022

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Ý nghĩa của chủ đề: Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng của cả khu vực Đông Nam Á và

Châu Á: vừa gắn liền với lục địa, vừa thông rộng với đại dương, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành đối tượng nhòm ngó của các thế lực ngoại xâm đến từ nhiều phía Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải thường xuyên đương đầu với nhiều đội quân xâm lược lớn mạnh, đặc biệt trong thời kì trung đại, ta thường xuyên phải

chống lại một nước láng giềng lớn mạnh với tư tưởng bành trướng xuống phía Nam “Dựng nước đi đôi với giữ nước” đã trở thành quy luật sinh tồn và phát triển của dân tộc, một đặc

điểm hằng xuyên của văn hóa Việt Nam Và chính cuộc đấu tranh sống còn này cũng đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc Việt Nam Để lại nhiều bài học lớn lao cho thế hệ sau này Nhìn vào lịch sử Việt Nam,

giáo sư Phan Huy Lê cũng đã nhận định:“Lịch sử chống ngoại xâm là một đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam và giữ vai trò định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược và đô hộ của nước ngoài Chính cuộc đấu tranh sống còn này đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc” Khi tìm hiểu

về những giá trị to lớn mà các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm mang lại, ta vừa có thể nhận định được những bản chất, đặc điểm và đặc trưng của nó trong tiến trình phát triển của lịch sử vừa có thể cung cấp, bổ sung thêm nguồn tư liệu mới phục vụ cho việc giảng dạy, việc nghiên cứu đồng thời bồi dưỡng thêm tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc

Mục tiêu của chủ đề: từ nhận định của giáo sư Phan Huy Lê, thông qua những tài liệu, tư

liệu lịch sử, những bài báo, bài nghiên cứu… từ đó làm rõ đặc điểm của lịch sử Việt Nam đặc biệt là trong thời kì trung đại, vai trò của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đó góp phần tạo nên những truyền thống đáng tự hào của dân tộc

Nhiệm vụ của chủ đề: Trọng tâm của bài tiểu luận này là tập trung làm rõ 2 vấn đề chính: thứ

nhất, vai trò của các cuộc đấu tranh, kháng chiến chống lại các cuộc xâm lược và đô hộ của nước ngoài đối với non sông, đất nước và dân tộc Việt Nam; thứ hai, chính từ những cuộc đấu tranh ấy, đã rèn luyện cho con người Việt Nam có những đức tính, tính cách tốt đẹp, mang tính truyền thống đặc trưng của dân tộc, đồng thời có thể thích nghi, sáng tạo và phát

huy những thế mạnh vốn có của mình để đưa đến thắng lợi cho dân tộc, bảo vệ từng “tấc đất, tấc vàng” cho non sông đất nước

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

“Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, sau những cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, tiêu biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Bà Triệu, khởi nghĩa Lí Bí,… dân tộc Việt Nam đã chính thức kết thúc thời kì này với chiến thắng Bạch Đằng (938) gắn liền với chiến công hiển hách của Ngô Quyền chống quân Nam Hán Từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ giữa những năm 50 của thế kỉ XIX - mà ta gọi đó là thời kì trung đại, nhân dân ta bước vào thời kì xây dựng quốc gia độc lập, bảo vệ và giữ vững chủ quyền dân tộc Nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm liên tục diễn ra, nhân dân ta quyết không chịu khuất phục, bằng sự đoàn kết đồng lòng của toàn dân và triều đình, đặc biệt là những vị tướng tài thì trong lịch sử trung đại, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm thắng lợi, góp phần nâng tầm vị thế của quốc gia và tiếp tục đưa đất nước phát triển, bảo vệ thành quả của ông cha ta

đã xây dựng.” Và khi nói đến lịch sử thế giới trung đại ở Việt Nam, ta không thể không nói đến hai đặc điểm lớn sau:

1 Việt Nam liên tiếp luôn phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm Vai trò của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và đô hộ trong thời kì trung đại

Thế kỉ X, sau chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng năm 938, xiềng xích Bắc thuộc hoàn toàn bị đập tan Ngô Quyền – vị anh hùng tiêu biểu cho ý chí và khát vọng của dân tộc

đã lãnh đạo nhân dân ta lập nên võ công hiển hách, là người đặt nền tảng cho sự phục hưng đất nước sau thời kì Bắc thuộc Trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, nền độc lập, tự chủ và thống nhất của đất nước ngày càng được củng cố thêm, đặc biệt là từ sau triều Lý được thành lập và quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La, mở ra vận thế mới cho nước Đại Việt đồng thời trong giai đoạn này, nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước gắn liền với bảo

vệ tổ quốc Có thể nói nhân dân Việt Nam đã gần như liên tục đấu tranh để bảo vệ nền độc lập tự chủ, bảo vệ bản sắc văn hóa của mình

Từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống lại

các thế lực bên ngoài, Giáo sư Phan Huy Lê đã nhận định: “Lịch sử chống ngoại xâm là một đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam và giữ vai trò định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược và đô hộ của nước ngoài”.

Có thể liệt kê các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lớn trong lịch sử trung đại theo một danh sách như sau:

1- Kháng chiến chống Tống lần thứ nhất thời Tiền Lê (980 – 981)

2- Kháng chiến chống Tống lần thứ hai thời Lý (1075 – 1077)

3- Kháng chiến chống Mông – Nguyên (1258, 1285, 1287 – 1288)

4- Kháng chiến chống Minh (1406 – 1407)

5- Kháng chiến chống Xiêm (1784 – 1785)

6- Kháng chiến chống Thanh (1788 – 1789)

Cơ đồ và vận thế đất nước ngày càng vững bền là cơ sở để dân tộc Việt Nam bảo vệ nền độc lập, tự chủ của mình trên lên một tầm cao mới Năm 1075, khi nhận được tin nhà Tống tập trung binh lực ở châu Khâm và châu Liêm giáp với biên giới, ráo riết chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, vua tôi nhà Lý đã tập trung binh lực, đề ra chiến lược và thực hiện

kế sách “tiên phát chế nhân” nhằm kiềm chế và đập tan mưu đồ xâm lược của nhà Tống.

Trang 5

Năm sau, tức năm 1076 khi nhà Tống phát binh xâm lăng Đại Việt, giữa lúc cuộc chiến đang vào hồi quyết liệt thì bài “thơ thần” đã vang lên, thổi bùng khát vọng tự do, độc lập, hùng

cường, sánh ngang Nam – Bắc của quân dân Đại Việt: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Đây như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia – dân tộc Việt Nam, tuyên bố

khẳng định quyền độc lập thiêng liêng và quyền bình đẳng của mình, tinh thần đó, khí phách

đó là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến

“Từ năm 1225, nhà Trần thay thế nhà Lý đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo công cuộc dựng nước và giữ nước (1226 – 1400), đã lãnh đạo nhân dân ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên giành thắng lợi vẻ vang Chỉ trong vòng 30 năm, dân tộc ta đã phải liên tiếp đứng lên chống quân xâm lược, cuộc kháng chiến này không chỉ là cuộc đọ sức quyết liệt giữa một

đế quốc đầu sỏ mạnh nhất thế giới lúc đó với một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên quyết đứng lên chống xâm lược để bảo vệ đất nước mà còn là cuộc đấu tranh gay gắt về tài trí giữa hai nền nghệ thuật quân sự của Đại Việt

Đến đầu thế kỉ XV, sau sự thất bại của cuộc kháng chiến do cha con Hồ Quý Ly lãnh đạo, một lần nữa nước ta lại rơi vào ách thống trị tàn bạo của phương Bắc Dưới sự lãnh đạo của

Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các bậc hào kiệt của nước Việt, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng, kiên quyết vùng lên chiến đấu và quét sạch được quân thủ ra khỏi bờ cõi Nong sông đất nước lại được độc lập, nhân dân được tự do, dân tộc Việt Nam được khôi phục quyền tự chủ, bản sắc văn hóa được bảo tồn.”

Cuộc chiến đấu anh dũng, lâu dài của quân và dân Đại Việt đầu thế kỉ XV đã lật đổ hoàn toàn ách thống trị của phong kiến phương Bắc, giành lại độc lập dân tộc sau 20 năm bị cai trị dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Minh Điều này chứng tỏ rằng, đến thế kỉ XV dân tộc Việt Nam đã trưởng thành, có ý thức sâu sắc về chủ quyền lãnh thổ, tư tưởng quân sự của dân tộc

đã có bước phát triển, trưởng thành trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc “Bình Ngô đại cáo” thể hiện lòng tự hào dân tộc, đó là một thiên hùng ca một bức tranh sinh động và trung

thực về hình cảnh của một dân tộc anh hùng đang vươn lên, quyết tâm, chiến đấu vì độc lập

tự do và toàn vẹn lãnh thổ, một dân tộc đã có hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã có năm thế kỉ sống độc lập hoàn toàn với tư cách là một quốc gia tiên tiến ở châu Á, một dân tộc anh hùng mà không thể một thế lực xâm lược nào có thể khuất phục nổi

Từ sau thắng lợi vĩ đại của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XV, cơ đồ, vị thế của Đại Việt ngày càng được củng cố và phát triển Nền văn hiến dân tộc thăng hoa rực rỡ trên nền tảng của một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước được tổ chức quy củ, bờ cõi ngày càng được mở rộng về phía Nam, kéo theo các cộng đồng dân cư khác hội nhập bền vững và hòa bình vào cộng đồng dân tộc Việt Nam Ngay cả khi đất nước rơi vào cảnh bị chia cắt, phân tranh, hết Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhưng nội lực dân tộc vẫn không ngừng được bồi tụ Cho đến cuối thế kỉ XVIII, Việt Nam đã thực sự là một cường quốc ở khu vực Đông Nam Á Việc nhà Tây Sơn tuy còn non trẻ nhưng đã đủ sức đập tan hai cuộc xâm lăng của Xiêm ở phía Nam (1785) và quân Thanh ở phía Bắc (1789) đã cho thấy vị thế, sức

mạnh và ý chí của dân tộc Việt Nam tại thời điểm đó Lời “hịch” được truyền đi trong lễ xuất quân trước tết Kỷ Dậu (1789) đã cho thấy khát vọng độc lập, tự do của dân tộc: “Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Trang 6

“Khi tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược thất bại như của nhà Hồ, Hô Quý Ly,

Hồ Hán Thương và Hồ Nguyên Trừng đứng đầu Mặc dù luôn đề cao ý thức độc lập chủ quyền, tích cực chuẩn bị kháng chiến và quyết tâm kháng chiến đến cùng Nhưng khi phải đối đấu với một nước mạnh như nhà Minh, cũng với những yếu tố chủ quan trong nước như không được lòng dân, tư tưởng chiến thuật sai lầm đã làm cho nước ta một lần nữa rơi vào ách đô hộ của phương Bắc, gây nên nhiều khổ đau cho dân tộc Đồng thời cũng để lại những bài học về xây dựng tư tưởng, chiến thuật,… cho hậu thế sau này

Ta có thể thấy, trong thời kì này, chống ngoại xâm là một nhân tố lặp đi lặp lại nhiều lần với tần số cao và tác động sâu sắc đến tiến trình lịch sử và nó cũng góp phần cho sự ra đời, phát triển của nền quân sự Việt Nam Nhìn lại có thể thấy, khát vọng thường trực, cháy bỏng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là độc lập, tư do, văn hiến và cường thịnh Đó cũng chính là yếu tố cốt lõi của truyền thống yêu nước dân tộc Việt Nam Tạo nền tảng văn hóa chính trị cho cơ đồ đất nước Cội nguồn khát vọng đó nằm ngay trong những mong ước giản dị thường nhật của người dân đất Việt.”

2 Lịch sử chống giặc ngoại xâm đã tạo nên những truyền thống dân tộc tốt đẹp, những con người anh hùng và góp phần sáng tạo thêm những nghệ thuật quân sự đặc sắc cho dân tộc

a Truyền thống yêu nước – giá trị văn hóa bất biến của dân tộc Việt Nam

Tư tưởng yêu nước là một giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc Tư tưởng yêu nước đã ăn sâu bén rễ thấm nhuần vào tình cảm, tâm tư mỗi người dân Việt Nam qua mọi thời đại, giúp cho dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm

lược cho dù chúng có mạnh gấp ta nhiều lần Và đúng như giáo sư Pham Huy Lê nói: “Chính cuộc đấu tranh sống còn này đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao

độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc” Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam mang

đậm tư tưởng dân chủ và nhân văn sâu sắc, yêu nước gắn liền với yêu dân và ý thức cộng

đồng, phản ánh tư tưởng chủ đạo “Nước lấy dân làm gốc” trong văn hóa chính trị Việt Nam

Trong thế kỉ XIII, với cái nhìn vượt trước thời đại của mình, Trần Hưng Đạo đã sử

dụng “Khoan thư sức dân” để làm kế sâu rễ bền gốc, “cử quốc nghênh địch”, định hướng và

phát huy cao độ lòng yêu nước của toàn nhân dân nên cả ba lần đều đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông Những năm đầu thế kỉ XV, tương tự, Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong cuộc

chiến chống ách đô hộ của quân Minh đã chăm lo xây dựng và thống nhất các yếu tố “dân giàu, nước mạnh, binh cường”, thực thi nhiều việc làm nhân nghĩa “cốt để dân yên” và “duy trì thế nước yên” Vào thế kỉ XVIII, công cuộc giữ nước đòi hỏi tư duy chiến lược mới là phải chủ động “giữ cho trong ấm, ngoài êm”, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, lòng yêu

nước của nhân ta được phát huy cao độ trong phá bỏ cục diện Trịnh – Nguyễn, thống nhất đất nước, đánh thắng quân xâm lược Xiêm ở phía Nam và quét sạch 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc ra khỏi bờ cõi đất nước Lịch sử đã khẳng định, tư tưởng quân sự của dân tộc ta là tư tưởng tiến công, cũng có thể nói là tư tưởng chiến lược tiến công Lực chọn tư tưởng tiến công là thể hiện tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng quân xâm lược Từ đó mà đã tạo nên sự đoàn kết toàn dân, niềm tin chiến thắng và không chịu khuất phục kẻ thù cho dù

chúng có mạnh và hung bạo đến đâu Ví dụ điển hình có thể nhắc đến ở đây, hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay các tướng lĩnh và binh lính nhà Trần đã nói lên quyết tâm sắt đá của

toàn quân khi được nghe những lời hịch của Trần Quốc Tuấn Đó là ý chính của toàn quân và

Trang 7

toàn dân Cả nước một lòng “dĩ thân tuẫn quốc” (xả thân vì nước), để biến quyết tâm kháng

chiến của triều đình và của quân đội thành quyết tâm đánh giặc của toàn dân, Vua Trần Thái Tông đã mời đại biểu phụ lão trong cả nước về Kinh đô Thăng Long, đặt tiệc ở Diên Hồng hỏi kế đánh giặc Trả lời câu hỏi của nhà vua nên đánh hay không, tất cả đều đồng thanh hô

“Đánh!” Tiếng vang của Hội nghị Bình Than, của Hịch tướng sĩ, của hội nghị Diên Hồng dội

vào lòng yêu nước, chí căm thù giặc vốn có trong tâm tư, tình cảm của từng người, vốn đã gắn bó với triều đình qua các chính sách tiến bộ được ban hành thời đó…

“Ông cha ta đã sớm biết đoàn kết để giữ nước, đã sớm gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó với nhà, với làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt, “nước mất thì nhà tan” là câu nói nói lên ý thức của người dân Việt Nam Từ thế này sang thế hệ khác, ngọn lửa chiến tranh vì đại nghĩa đã tôi luyện truyền thống yêu nước và ý chí độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam Trước họa xâm lăng, thái độ duy nhất của toàn, của cả dân tộc là quyết đứng lên chiến đấu quét sạch hình bóng quân thù

Hay ngay sau khi đánh bại lực lượng kháng chiến của nhà Hồ, quân Minh đã phải đối phó với một loạt các cuộc khởi nghĩa rộng khắp, mặc dù bị thất bại nhưng các phong trào đó đã thể hiện ý thức dân tộc, tư tưởng, quyết tâm chống ngoại xâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam Tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, ý chí quật cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân vẫn luôn nung nấu và bùng cháy dữ dội khi Lê Lợi phát động cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa…

Nhìn lại lịch sử, trong các cuộc đấu tranh chống lại ách đô hộ của ngoại bang, nhân dân

ta luôn đoàn kết thành một khối thống nhất với ý chí quật cường, không khuất phục trước kẻ thù xâm lược hung bạo Trong sự nghiệp giữ nước vĩ đại đó đã xuất hiện những vị minh quân, hiền thần, những nhà lãnh đạo, những danh tướng kiệt xuất, mãi mãi đi vào lịch sử như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung – Nguyễn Huệ,… họ là những anh hùng dân tộc không chỉ có tài thao lược quân sự xuất chúng mà còn là những nhà

tư tưởng - văn hóa đậm chất nhân văn, ngay kẻ thù cũng phải khâm phục.”

Chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng độc lập tự chủ, bảo vệ chủ quyền quốc gia,… là kết quả

của một quá trình vừa dựng nước vừa giữ nước, là kết quả của bao mồ hôi, xương máu mà lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đã đổ xuống trên những chặng dài lịch sử với nhiều thử thách cam go Có lẽ cũng vì thế khát vọng hòa bình luôn thẳm sâu trong tâm thức của người Việt Nam bên cạnh những tư tưởng anh hùng của dân tộc Việt Nam

b Trí thông minh, sáng tạo của dân tộc Việt Nam được phát huy cao độ trong xây dựng nghệ thuật quân sự hình thành từ những cuộc đấu tranh chống ngoại giặc xâm lược thời kì trung đại

“Trong tiến trình lịch sử nói trên, do hoàn cảnh đất nước liên tục có giặc ngoại xâm, dân tộc ta hầu như thường xuyên phải tiến hành các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa và đấu tranh giải phóng Từ thực tiễn xây dựng lực lượng và chiến thắng quân xâm lược tàn bạo Tư duy, tư tưởng quân sự từng bước xuất hiện và phát triển Những giá trị vật chất và tinh thần, những kinh nghiệm xây dựng lực lượng và đấu tranh cứu nước đã tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của một nền tảng tư tưởng, nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo – hệ giá trị văn hóa giữ nước – văn hóa quân sự có một không hai trên thế giới.”

Ý thức độc lập, chủ quyền và thống nhất quốc gia được thể hiện đậm nét ngay từ thế kỉ X Tư

tưởng dựng lực lượng vũ trang theo chính sách “ngụ binh ư nông”, gắn việc binh với việc

Trang 8

nông đã xuất hiện từ thời Lý Quốc sách “ngụ binh ư nông” của nhà nước Đại Việt thời Lý –

Trần đã được vận dụng thành công, tạo nên một lực lượng vũ trang hợp lí, rộng khắp Nhiều quan điểm, tư tưởng tiến bộ xuất hiện trong giai đoạn Lý – Trần, trong khởi nghĩa Lam Sơn,

trong đó nổi bật là tư tưởng “thân dân”, “khoan thai sức dân”, dựa vào dân để xây dựng lực lượng “toàn dân vi binh”, “bách tính giai binh”, và tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm, thực hiện “cử quốc nghênh địch” (cả nước đánh giặc) Lí luận và tư tưởng quân sự “dĩ đoản chế trường”, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã xuất hiện và được

vận dụng thành công trong các cuộc chiến tranh bảo vệ và giải phóng Tổ quốc Tư tưởng chủ động, khéo léo, mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại quân sự đã phát huy tác dụng trong quá trình điều hành chiến tranh, nhất là vào giai đoạn kết thúc cuộc chiến, với mục đích giữ vững hòa hiếu, duy trì hòa bình, xây dựng đất nước,… Mưu kế đánh giặc của nhân dân ta rất mềm dẻo và khôn khéo Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận ngoại giao tạo nên thế trận của ta, phá thế mạnh của giặc Trong đó, ta sử dụng mưu và kế là chủ yếu Mưu là để lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị làm cho chung lúng túng đối phó; Kế

là để điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc chúng phải đánh theo cách của

ta Có thể lấy vài ví dụ để minh chứng cho những nhận định trên như sau:

Nước Đại Cồ Việt thế kỉ X đã phải đối diện với một thực tế: nhà nước quân chủ chỉ đang đi những bước đầu từ vương đến đế, từ mô hình quản lý của chính quyền Tiết độ sứ đến một nhà nước quân chủ tập quyền từ trung ương đến địa phương, quá trình phát triển, trưởng thành này phải diễn ra trong gần một thế kỉ Trong tình hình đó, tư tưởng phòng vệ, phòng ngự tích cực đã xuất hiện trong lĩnh vực quân sự và giúp cho quân dân Đại Cồ Việt vượt qua được mọi thử thách, đẩy lùi quân xâm lược, đặc biệt là quân xâm lược Tống Với tầm nhìn xa trông rộng, với ý thức “biết mình biết người”, nhận định được tầm quan trọng của địa bàn chiến lược vùng cửa ngõ Đông Bắc, phán đoán chính xác hướng tiến quân và đường tiến quân của giặc, Lê Đại Hành đã tập trung sức lực vào việc bố trí lực lượng phòng vệ và chuẩn bị đánh giặc ở sông Bạch Đằng “Nơi hơn 40 năm trước, Ngô Quyền đã từng đánh tan quân Nam Hán Tuy nhiên ông biết quân Tống mạnh hơn nhiều so với quân Nam Hán trước đó nên

tổ chức phòng vệ trong không gian rộng hơn không chỉ trên đường thủy mà cả trên bộ Như vậy, trong vòng 5 tháng từ khi được tin báo có giặc tháng 8/980 đến cuối tháng 1/981, Lê Đại Hành đã tranh thủ thời gian chủ động hoàn tất công việc tổ chức phòng giữ, chốt quân đánh giữ các điểm trọng yếu sẵn sàng đợi giặc tất nhiên để đánh phá được giặc thì không chỉ thể phòng vệ mà còn phải chủ động tiến công Nhưng trước thế giặc mạnh, nếu không tổ chức phòng ngự tốt thì không thể tự vệ được, đừng nói đến chuyện tập kích, tấn công Với sự chuẩn bị chu toàn, dự tính chu toàn, trong kháng chiến chống giặc, đặc biệt với trận quyết chiến ở sông bạch Đằng, trận Tây Kết, Lê Đại hành đã thực hiện thành công ý đồ chiến lược phòng chống giặc, các trận Bạch Đằng, Đồ Lỗ, Lục Giang là những trận tập kích chiến lược nhằm chặn đường tiến, tiêu hao lực lượng quân giặc, buộc chúng phải chùng chình, co cụm

về điểm tập kết ban đầu và tháo chạy khỏi nước ta, từ đây Đại Cồ Việt sạch bóng quân thù.”

Để bảo vệ Thăng Long, Lý Thường Kiệt đã xây dựng tuyến phòng ngự trên sông Như Nguyệt để chặn giặc, khi quân nhà Tống tiến công vượt sông Như Nguyệt không thành, phải chuyển vào phòng ngự, ông đã dùng quân địa phương và dân binh liên tục quấy rối, làm cho địch mệt mỏi, căng thẳng, tạo thời cơ cho quân đội nhà Lý chuyển sang phản công giành thắng lợi Cuộc phản công chiến lược của Lý Thường Kiệt đã làm thay đổi bộ mặt chiến trường, tạo nên một bước ngoặt quyết định của cuộc chiến chống xâm lược của quân dân Đại Việt: từ “đánh” chuyển sang “đàm” với thế mạnh của người chiến thắng, đồng thời khẳng

Trang 9

định sự trưởng thành của nền quân sự Việt Nam vào thời Lý Tư tưởng quân sự được hình thành và xuất hiện cùng với quá trình tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang và những hoạt động của nó trong chiến đấu bảo vệ độc lập của đất nước thông qua các nhà quân sự tiêu biểu của thời đại Vừa mới ra đời, tổ chức 10 đạo quân của Đại Cồ Việt đã đánh thắng giặc Tống lần thứ nhất vào cuối năm 980, đầu năm 981 Chưa đầy một thế kỉ sau, vào năm 1075 – 1077, lực lượng vũ trang quốc phòng của nhà Lý lại tiếp tục đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của giặc Tống, lập nên kì tích trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc, bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền của đất nước

Hay trong tác chiến triệt để khoét sâu điểm yếu của địch là tác chiến ở trường xa, tiếp

tế khó khăn, nên đã triệt phá lương thảo, hậu cần của địch, làm cho quân địch rơi vào cảnh

“Người không có lương ăn, ngựa không có nước uống”, điển hình như đời Trần dùng kế “dĩ đoản chế trường” Chủ trương dựa vào “đoản binh”, tức nội lực – thế mạnh của mình để chế

ngự cái “trường trận” của giặc, đây là việc thông thường của một quân đội nhỏ, ít mà phải chống lại những đội quân xâm lượng đông và hùng mạnh Đây là một tư tưởng quân sự yêu nước truyền thống, lâu đời của dân tộc ta, một biểu hiện độc đáo của nền quân sự Việt Nam Những kỵ binh Mông Cổ quen với cung tên và yên ngựa từ 5 tuổi đã không thắng nổi khi đấu với quân đội Đại Việt với lối đánh hoàn toàn mới lạ.Quân nhà Trần đã không đem kỵ binh nhỏ bé của mình để đối đầu với kỵ binh hùng mạnh của quân Mông – Nguyên, cũng không tung hết sức lực của mình vào trận khi quân đội xâm lược đang tiến công ồ ạt và sung sức Cũng không đem quân tinh nhuệ của mình để giáng đòn quyết định theo kiểu “đá chọi đá” khi quân Nguyên đang ở thế mạnh Chính những lúc đó, đội quân đã từng bách chiến bách thắng trên phần lớn lục địa Âu – Á lại bị quân các lộ, phủ, quân vương hầu và dân binh các làng xã, thổ binh của các tù trưởng quấy rối, chặn đánh liên tục từng tốp nhỏ, làm phân tán, tiêu hoa, hạn chế sở trường của chúng Còn quân triều đình thì thực hiện theo tư tưởng “tránh cái thế mạnh lúc ban mai để đánh cái thế yếu buổi chiều tà” của quân địch Chỉ đến khi quân Mông – Nguyên rải ra củng cố vùng mới chiếm đóng, rời yên ngựa, không còn là kị binh thực

sự, không phát huy được những sức mạnh đột kích và tốc độ tiến công thì chúng bị giáng những đòn tiêu diệt lớn và bất ngờ Trận Đông Bộ Đầu, trận Tây Kết - Hàm Tử, trận Chương Dương – Thăng Long và những trận phục kích lớn ở sông Cầu, Vạn Kiếp đã giáng vào quân giặc khi chúng đã mệt mỏi, hoảng sợ

Cùng là một nghệ thuật “dĩ đoản chế trường” nhưng trong ba cuộc kháng chiến, nhà Trần đã thể hiện theo các cách khác nhau “Lần thứ 3 chống Nguyên, quân đội Đại Việt đã phát huy thế mạnh của mình, đánh vào điểm yếu của địch đó là phát huy tối đa lối đánh giặc trên chiến trường sông nước, ven biển để chế ngự quân địch Chính chiến thuật thủy chiến thông thạo và quen thuộc đã giúp ta khoét sâu vào chỗ yếu là thiếu lương thảo của địch, kế “thanh dã” vườn không nhà trống, luôn được chỉ đạo toàn dân thực hiện một cách triệt để Năm 1288, nhà Trần

đã chủ trương đánh vào đoàn quân vận lương của giặc Chiến công lớn đánh tan đoàn quân lương Trương Văn Hổ ở ngoài biển Vân Đồn của Trần Khánh Dư đã đưa lại hiệu quả lớn, tác động mạnh mẽ vào tinh thần quân Nguyên… Trần Quốc Tuấn đã chủ trương chọn đánh đòn quyết định vào đạo quân rút theo đường thủ trên sông Bạch Đằng, nơi quân ta quen địa hình sông nước và đã được chuẩn bị sẵn, nơi phối hợp tốt giữa thủy binh và bộ binh, nơi địch phải

đi theo đường độc đạo mà kỵ binh không hộ tống được Đòn đánh sấm sét ở cửa sông Bạch Đằng là đòn quyết định kết thúc cuộc kháng chiến của quân dân ta.”

Trang 10

Có thể nói rằng, những người lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến của nhà Trần đã triệt để vận dụng yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” Trong chỉ đạo kháng chiến, Trần Quốc Tuấn đều lợi dụng việc đội quân xâm lược không quen thủy thổ nước ta để hạn chế chỗ mạnh của địch, làm cho địch them mệt mỏi, ốm yếu Bản thân địa hình Đại Việt đã không cho phép kỵ binh Mông – Nguyên thể hiện hết tài năng, sở trường của mình, vung kiếm ào ào trong thế “chẻ tre” như trên các cao nguyên, sa mạc ở Bắc Á và châu Âu

Trong cuộc kháng chiến chống ách đô hộ nhà Minh của Lê Lợi và các đồng minh của

mình, nghệ thuật “mưu phạt công tâm” (Đánh vào lòng người) và “vây thành, diệt viện” cũng được phát huy tới cao độ “Mưu phạt công tâm” là một chiến lược cơ bản trong “Bình Ngô sách”, là sự khởi đầu cho chủ trương kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao của

Nguyễn Trãi Theo đó, khi lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, nghệ thuật này đã được sử dụng với hai phương thức chủ yếu là: thứ nhất không cướp bóc của dân để lấy sự tin tưởng và gây uy tín cho nhân dân; thứ hai, dụ hàng các tướng lĩnh, binh sĩ địch và ngụy quân, thực hiện hòa đàm, khi thì để hòa hoãn tạm thời với địch để bảo toàn lực lượng, khi ưu thế thuộc về nghĩa quân thì dùng lí lẽ để buộc địch chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước “Vây thành, diệt viện” là vây ép, cô lập hoàn toàn địch trong thành, buộc chúng phải kéo viện binh chiến lược

để giải cứu, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt lực lượng địch, kết thúc chiến tranh Ngay sau khi giải phóng nhiều địa bàn chiến lược trọng yếu, nghĩa quân Lam Sơn thừa thăng tiến đánh thành Đông Quan – lực lượng chủ yếu và là sào huyệt cuối cùng của quân Minh Trước thế mạnh của quân ta, địch buộc phải dựa vào thành trì kiên cố để chức cố thủ, chờ quân cứu viện Lúc này, nghĩa quân đứng trước hai lựa chọn hoặc tiến công thành, diệt địch kết thúc chiến tranh hoặc vây hãm quân địch trong thành, nhử viện quân của chúng vào trận địa chuẩn

bị trước để tiêu diệt, khiến địch trong thành không đánh mà tan Nghiên cứu kĩ tình hình, bộ chỉ huy nghĩa quân đã lựa chọn phương án “vây thành, diệt viện”, đây là kế sách đúng đắn,

snags tạo, Nguyễn Trãi đã nhận định “sức dùng một nữa mà công được gấp đôi” “Bởi lẽ, địch trong thành Đông Quan lúc bấy giờ không nhiều, nhưng có thành lũy kiên cố, nếu ta cố sức đánh sẽ mất nhiều thời gian, quân mỏi, chí nhụt, nếu chưa hạ được thành mà viện binh địch kéo đến thì cả phía trước và phía sau đều bị tấn công, ta sẽ từ thế chủ động rơi vào thế bị động Trường hợp đánh thành giành được thắng lợi, thì địch tất đem quân đánh báo thù, nạn binh đao tiếp tục xảy ra, nhân dân thêm khổ cực, mà đất nước cũng khó được vẹn toàn Nếu

ta kiên trì vây thành, tất viện binh lớn của địch kéo sang, ta có điều kiện đánh địch ở nơi chuẩn bị trước để tiêu diệt lớn, quân địch trong thành tất sẽ xin hàng Thực hiện chủ trương

đó, Lê Lợi quyết định dời đại bản doanh lên khu vực Bồ Đề đối diện với thành Đông Quan để trực tiếp chỉ huy vây ép địch Theo đó, nghĩa quân tổ chức đánh nhiều trận tiêu diệt các doanh trại bảo vệ vòng ngoài, siết chặt vòng vây, kiên quyết đánh bại các đợt phản kích của chúng Đúng như dự đoán của ta, để giải vây cho quân đồn trú ở thành Đông Quan, đầu tháng 10/1427, nhà Minh huy động lực lượng dự bị chiến lược chia làm hai đạo tiến vào nước ta, do Liễu Thăng chỉ huy, gồm 10 đạo vạn quân từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến xuống và

5 vạn quân do Mộc Thạch chỉ huy theo đường Vân Nam tiến sang Cả hai đạo quân đều rơi vào thế trận bày sẵn của quân ta nên nhanh chóng bị tiêu diệt.” Như vậy, từ việc xây thành Đông Quan để dẫn đến thắng lợi trận chiến lược Chi Lăng – Xương Giang là nét đặc sắc của nghệ thuật “vây thành, diệt viện” Thắng lợi này không chỉ buộc địch đầu hàng, kết thúc chiến tranh mà còn đánh bại ý chí xâm lược của chúng Sau chiến thắng to lớn này, nhà Minh không dám đưa quân sang xâm lược nước ta một lần nào nữa

Ngày đăng: 04/10/2022, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ quốc phòng Viện lịch sử quân sự Việt Nam , Lịch sử tư tưởng quân sự Viêt Nam, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Viêt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
2. Bộ quốc phòng Viện lịch sử quân sự Việt Nam , Lịch sử tư tưởng quân sự Viêt Nam, tập II, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Viêt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Thu Hằng (21/5/2014), Truyền thống yêu nước – giá tị văn hóa bất biến của dân tộc Việt Nam, trên trang: https://tuyengiao.vn/dien-dan/truyen-thong-yeu-nuoc-gia-tri-van-hoa-bat-bien-cua-dan-toc-viet-nam-64095 truy cập ngày 6/8/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống yêu nước – giá tị văn hóa bất biến của dân tộcViệt Nam
4. Chu Lộc, Phương Thảo, Nghệ Thuật quân sự độc đáo của Nguyễn Trãi trong khángchiến chống quân Minh, trên trang:http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/16460/nghe-thuat-quan-su-djoc-djao-cua-nguyen-trai-trong-khang-chien-chong-quan-minh.html truy cập ngày 9/11/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Thuật quân sự độc đáo của Nguyễn Trãi trong kháng"chiến chống quân Minh
5. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phan Thị Tâm, Trần Bá Chí, Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộtsố trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
7. Hà Thành, “Đánh nhanh, thắng nhanh” – nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh chống quân Thanh (1788 – 1789), trên trang:http://tapchiqptd.vn/vi/an-pham-tap-chi-in/danh-nhanh-thang-nhanh-net-dac-sac-cua-nghe-thuat-quan-su-trong-cuoc-chien-tranh-chong-qua/1819.html truy cập ngày 8/11/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh nhanh, thắng nhanh” – nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự trongcuộc chiến tranh chống quân Thanh (1788 – 1789)
8. GS, TS. Phạm Hồng Tung (16/9/2020), Từ khởi dựng cơ đồ đất nước đến khát vọng trở thành quốc gia – dân tộc hùng cường, trên trang:https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tu-khoi-dung-co-do-dat-nuoc-den-khat-vong-tro-thanh-quoc-gia-dan-toc-hung-cuong truy cập ngày 7/8/2022 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w