TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘIKHOA LỊCH SỬ BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM CHỦ ĐỀ 1: Nói về tính đa tuyến, toàn bộ và toàn d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LỊCH SỬ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC
VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ 1: Nói về tính đa tuyến, toàn bộ và toàn diện của lịch sử Việt Nam, Giáo sư Phan Huy Lê nhận định: “Lịch sử chống ngoại xâm là một đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam và giữ vai trò định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược và đô
hộ của nước ngoài Chính cuộc đấu tranh sống còn này đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc” (Phan Huy Lê, Lịch sử và văn hóa Việt Nam: Tiếp cận bộ phận, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr.17) Bằng những thu hoạch trong chuyên đề “Lịch sử chống ngoại xâm Việt Nam thời kì
trung đại”, anh, chị hãy bình luận và chứng minh nhận định trên.
Sinh viên thực hiện: Lê Doãn Nhật Anh Lớp: A – K.69
MSV: 695602001
HÀ NỘI, tháng 8 năm 2022
Trang 2Minh chứng Turnitin
Trang 3Mục lục
Trang 4Mở đầu
1 Ý nghĩa
Đã là người Việt Nam thì trách nhiệm tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử của dân tộc ta không chỉ trong lúc còn trên ghế nhà trường
mà phải luôn trau dồi Học lịch sử không phải chỉ để ghi nhớ một số những sự kiện lẻ tẻ, một vài chiến công trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc mà phải biết, chú ý tiếp nhận những nét đẹp về đạo đức, đạo lý làm người Việt Nam Đó là gốc của tất cả sự nghiệp vĩ đại dù lớn hay nhỏ, thành công hay thất bại trong lịch sử dân tộc, ý nghĩa của nó không chỉ nằm ở quá khứ hay hiện tại mà còn có giá trị đến tương lai Nhìn lại truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta suốt chiều dài lịch sử, ta thấy trong đó những
sự hi sinh, đau thương mất mát và cả niềm vui, hạnh phúc sau những chiến thắng bảo vệ được nền độc lập đất nước Để có được dải đất hình chữ S với bao thắng cảnh, non nước hữu tình thì cha ông ta đã phải đổ không biết bao xương máu, những giọt máu ấy tích lũy qua hàng ngàn năm để rồi kết tinh lên tinh thần của người Việt, “máu đỏ da vàng” kiên cường bất khuất
Đặc điểm nổi bật khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam đó là quá trình bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững bờ cõi và nền độc lập Tổ quốc, tự do cho nhân dân trước sự dòm ngó từ các thế lực bên ngoài đặc biệt là phương Bắc Trong cuộc đấu tranh sống còn, định đoạt sự tồn vong của dân tộc thì những phẩm chất tốt đẹp nhất, những tinh hoa người Việt được thể hiện Những bộ óc chỉ huy thiên tài cùng những dũng tướng với bao chiến công bất diệt đã đem lại những kinh nghiệm quý giá, đó là những kinh nghiệm phát huy sở trường của ta và những kết tinh trong nghệ thuật quân sự Đây là những bài học kinh nghiệm quý báu, giá trị và ý nghĩa to lớn cần nghiên cứu kĩ và vận dụng ở hiện tại cũng như tương lai
Việc tìm hiểu, làm rõ những yêu cầu của chủ đề bài luận mang ý nghĩa củng cố kiến thức, kĩ năng tổng quan về các cuộc kháng chiến trong lịch sử dân tộc nói chung và những phẩm giá cao quý, sự sáng tạo của người Việt trong quá trình bảo vệ đất nước nói riêng
2 Mục tiêu và nhiệm vụ
Mục tiêu của việc tìm hiểu chủ đề này nhằm làm rõ quá trình bảo vệ độc lập dân tộc, lựa chọn và phân tích những phẩm giá tiêu biểu, sự sáng tạo trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Để đạt được mục tiêu đó, trên cơ sở tiếp cận, tổng hợp các nguồn tài liệu, chủ đề sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: khái quát quá trình kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, những phẩm giá tiêu biểu được kết tinh của người Việt và sự thông minh, sáng tạo trong việc xây dựng nghệ thuật quân sự mang nét riêng của dân tộc
1
Trang 5Giải quyết vấn đề này cũng phục vụ cho người viết trong việc nghiên cứu về sau và giảng dạy các chủ đề thuộc chương trình giáo dục phổ thông 2018
1 Những vấn đề chung trong quá trình bảo vệ độc lập dân tộc 1.1 Những tác động đến quá trình bảo vệ độc lập dân tộc
- Vị trí địa chiến lược của Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía Đông Nam châu Á, ven biển Thái Bình Dương,
là cầu nối giữa châu Á – châu Đại Dương, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Đông Nam
Á lục địa – Đông Nam Á hải đảo và giữa 2 khu vực Đông Nam Á với Đông Bắc Á Sự ảnh hưởng từ văn hóa đậm nét từ 2 nền văn minh cổ đại của thế giới là Trung Hoa ở phía Bắc
– Bắc Trung Bộ và Ấn Độ ở phía Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Về kinh tế, đất nước ta có núi rừng trùng điệp, có sông ngòi dày đặc, có biển cả bao
la, có đồng bằng bát ngát, khối lượng tài nguyên khoáng sản phong phú, thổ nhưỡng đỏ và vàng ở vùng đồi núi nhất là đất đỏ ba dan, phù sa các châu thổ nhất là sông Cửu Long và sông Hồng Giới sinh vật, động vật phong phú…chưa kể các khoáng sản quý hiện đang ẩn náu trong thềm lục địa Quá tình phát triển dân tộc ta đã kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước với chăm lo củng cố quốc phòng, sẵn sàng đánh giặc giữ nước vừa phát triển phồn thịnh vừa sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ chiến tranh xảy ra
Về chính trị, do phát triển địa lý ngã ba đường khu vực Đông Nam Á và những biến động lịch sử liên tục diễn ra nên Việt Nam đã tiếp nhận nhiều thành phần dân tộc khác nhau, do đó Việt Nam là quốc gia thống nhất đa dân tộc Hiện nay là 54 thành phần dân tộc, tộc người Người Việt Kinh là 87% các dân tộc thiểu số bằng 13% Mật độ dân cư giữa các vùng miền phân bố không đồng đều nhau nhưng đã sớm có ý thức xây dựng nhà nước, xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội, đề ra các luật lệ, phép tắc để quản
lý bảo vệ và xây dựng đất nước
Những yếu tố thuận lợi đó đã góp phần tạo nên vị trí địa chiến lược của đất nước khiến dân tộc ta luôn bị nước ngoài dòm ngó và phải đánh đổi một nửa thời gian xây dựng
và phát triển đất nước để tiến hành kháng chiến chống lại các thế lực xâm lăng từ bên ngoài
- Hoàn cảnh lịch sử:
Nước ta tiếp giáp biên giới với Trung Quốc, một quốc gia láng giềng lớn, mạnh và mang tham vọng rất lớn Nhìn vào lịch sử Trung Quốc nói chung và lịch sử nước ta nói riêng, có thể thấy tư tưởng “bành trướng Đại Hán” rất lớn bởi gần 90% dân số Trung Quốc
là người Hán, họ luôn muốn áp đặt tư tưởng của bản thân lên phần còn lại Quan niệm
“ngũ phương – nhị tầng” với Trung Hoa là trung tâm thế giới, xung quanh họ tất cả đều là
“man di, mọi rợ”, họ coi sứ mệnh của mình là phải lan tỏa, truyền bá văn hóa – tư tưởng ra
Trang 6xung quanh thông qua cả con đường tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ, thôn tính nước khác, nô dịch dân tộc nhỏ yếu và con đường giao lưu hòa bình Chính tư tưởng mở rộng, bành trướng đó đã ảnh hưởng rất mạnh đến quan điểm, cách nhìn của các vương triều Trung Hoa đối với Việt Nam thông qua 3 hằng số không bao giờ thay đổi: quan niệm nước lớn – nước nhỏ, một dải biên giới núi liền núi, sông liền sông và ân oán kéo dài không thể phân biệt trong lịch sử hai nước Nhìn vào lịch sử Việt Nam có thể khẳng định nếu nước ta không nằm cạnh một người láng giềng lớn với tham vọng mạnh
mẽ như Trung Quốc thì lịch sử nước ta có lẽ đã đi theo hướng khác
- Tính cách của người Việt: Có một vài quan điểm cho rằng người Việt là một dân tộc
hiếu chiến, thích chiến tranh nên họ phải tiến hành kháng chiến nhiều như vậy Cá tính của người Việt ương ngạnh, không khuất phục, không chịu sự thống trị của ngoại bang dù phải chịu hy sinh, mất mát quyết không chịu mất nước, giữ gìn độc lập dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”1, có thể nói đây là chân lý được đúc kết qua rất nhiều thời kì chống ngoại xâm của nước ta
1.2 Khái quát lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam thời kì trung đại
Hiện nay, khi luật pháp quốc tế đã được xây dựng Lãnh thổ trở thành một khái niệm
cơ bản của luật pháp quốc tế và phần nào giới hạn được tham vọng bành trướng lãnh thổ của các nước lớn Tuy nhiên, vào thời kỳ trung đại, khi mà còn lâu lắm luật quốc tế về lãnh thổ mới ra đời, chủ quyền biên giới, lãnh thổ của một nước nhỏ nằm cạnh một nước lớn, đặc biệt là nước lớn vốn có truyền thống bá quyền sẽ luôn bị đe dọa
Trước thời kì trung đại, cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là cuộc kháng chiến chống quân Tần Đó là cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ, từ năm 214 –
208 TCN của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của vua Hùng và Thục Phán Sau cuộc kháng chiến chống Tần là cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống chiến tranh xâm lược của Triệu Đà, từ năm 184 – 179 trước công nguyên, nhưng bị thất bại Từ đây, đất nước ta rơi vào thảm họa hơn một nghìn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ (thời kì Bắc thuộc) Trong giai đoạn từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến đầu thế kỷ thứ X, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa với mục tiêu chống xâm lược, giành độc lập từ tay chính quyền phương Bắc và chống lại sự đồng hóa Hán tộc thông qua các luồng di cư, truyền bá văn hóa Hán diễn ra Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa diễn ra sau đó biểu hiện cho tinh thần đấu tranh không ngừng nghỉ, liên tục của nhân dân ta
Đến năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ tự xưng Tiết độ sứ, bắt đầu thời kì tự chủ của dân tộc, quá trình đi từ tự chủ đến độc lập của dân tộc trong giai đoạn 905 – 938 Năm 938, hành động phản bội Dương Đình Nghệ của Kiều Công Tiễn dẫn tới hoạ xâm lăng của quân Nam Hán, Ngô Quyền là một danh tướng của Dương Đình
Trang 7Nghệ đã đứng lên lãnh đạo quân dân ta, kiên quyết đánh giặc, bảo vệ chủ quyền dân tộc Trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền cùng quân và dân ta đã nhấn chìm toàn bộ đoàn thuyền của quân Nam Hán, khiến Hoàng Thao phải bỏ mạng, vua Nam Hán phải bãi binh, hoàn thành sứ mệnh chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỉ nguyên độc lập, tự chủ
Thời nhà Đinh, công cuộc xây dựng đất nước đang được xúc tiến thì năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại Lúc bấy giờ, ở Trung Quốc, nhà Tống đã thành lập và đang phát triển cường thịnh ở châu Á đương thời Nhân dịp suy yếu của nhà Đinh, nhà Tống quyết định phát động cuộc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt (quốc hiệu của nước ta lúc đó) với
âm mưu thôn tính nước ta Trong khi vua Đinh còn nhỏ, chưa đủ khả năng và uy tín tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến, vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, triều thần và quân sĩ
đã suy tôn Lê Hoàn, người đang giữ chức thập đạo tướng quân lên làm vua Lê Hoàn lên ngôi, lập nên triều đại nhà Tiền Lê và đảm nhiệm sứ mạng lịch sử, tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống
Tuy bị đại bại trong lần xâm lược năm 981, nhà Tống vẫn chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm lược nước ta Khoảng giữa thế kỉ XI, vua Tống Thần Tông ra lệnh chuẩn bị lực lượng đánh Đại Việt lần nữa, nhằm giành thắng lợi ở Đại Việt để tạo thế uy hiếp nước Liêu, nước Hạ Trước nguy cơ xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt, lúc đó nắm giữ binh quyền trực tiếp lãnh đạo kháng chiến, nhận thấy không thể để bị động đối phó, đợi quân giặc tiến công sang, mà phải chủ động tiến công trước để đẩy kẻ thù vào thế bị động Lý Thường Kiệt đã chủ động đưa quân tiến công sang đất Tống tiêu diệt lực lượng ở các căn
cứ xuất phát của kẻ thù, rồi rút về phòng thủ đất nước Biết quân Tống sẽ kéo quân sang phục thù, Lý Thường Kiệt đã cho khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt để chặn giặc; đồng thời, triển khai lực lượng, bố trí thế trận chống giặc ngoại xâm Trận phản công Như Nguyệt (tháng 3/1077), quân và dân Đại Việt đã quét sạch quân xâm lược Tống ra khỏi biên cương của Tổ quốc
Từ năm 1225, nhà Trần thay thế nhà Lý đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo công cuộc dựng nước và giữ nước (1226 - 1400), đã lãnh đạo nhân dân ta ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông trong vòng 30 năm (1258 – 1288) đã giành thắng lợi vẻ vang, bổ sung những nét đặc sắc vào nền nghệ thuật quân sự Việt Nam Kháng chiến chống quân Nguyên
– Mông không chỉ là cuộc đọ sức quyết liệt giữa một đế quốc đầu sỏ mạnh nhất thế giới lúc đó với một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên quyết đứng lên chống xâm lược để bảo vệ đất nước, mà còn là cuộc đấu tranh gay gắt về tài trí giữa hai nền nghệ thuật quân sự của Đại Việt và quân xâm lược Nguyên – Mông
Vào cuối thế kỉ XIV, triều đại nhà Trần từng bước suy tàn, Hồ Quý Ly là một quý tộc
có thanh thế đã phế truất vua Trần, lập ra vương triều mới, triều đại nhà Hồ Tháng 5 –
1406, dưới chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh đã đưa quân xâm lược nước ta Trong
4
Trang 8tác chiến, nhà Hồ quá thiên về phòng thủ, coi đó là phương thức cơ bản, dẫn đến sai lầm
về chỉ đạo chiến lược Mặt khác, lòng dân không theo do tiến hành cải cách không hợp thời, đi ngược lại, động chạm đến quyền lợi dân chúng, không giải quyết được khủng hoảng cuối thời Trần và quá trình tổ chức phản công chiến lược không đúng thời cơ, bị tổn thất nặng, nên bị thất bại Đất nước ta một lần nữa bị phong kiến phương Bắc đô hộ Mặc
dù chiếm được Đại Việt, nhưng giặc Minh không khuất phục được dân tộc ta, các cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân yêu nước vẫn liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là khởi nghĩa Lam Sơn Sau 10 năm (1418 – 1427) chiến đấu bền bỉ, ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành chiến tranh giải phóng, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi, sự “hồi sinh” của dân tộc Thắng lợi vĩ đại đó chứng tỏ nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng của ông cha ta đã đạt đến đỉnh cao và để lại nhiều bài học lịch sử quý giá Sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược, Lê Lợi lên ngôi, lập nên triều Hậu Lê (triều Lê Sơ), đây là giai đoạn hưng thịnh nhất của phong kiến Việt Nam
Trong những thế kỉ sau đó, nguy cơ ngoại xâm tạm thời lắng xuống nhưng những cuộc nội chiến của các thế lực phong kiến đã chia cắt đất nước Đến thế kỉ XVIII, giai cấp thống trị suy thoái, khởi nghĩa nông dân nổ ra Vì quyền lợi giai cấp mà các tập đoàn phong kiến lần lượt “rước voi về dày mồ”, một lần nữa nhân dân tập hợp dưới ngọn cờ của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ kháng chiến cứu nước Năm 1785, phía Nam, 5 vạn quân xâm lược Xiêm do Nguyễn Ánh (dòng dõi chúa Nguyễn) dẫn về cứu viện thất bại năm 1785 trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút Ở phía Bắc, năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (Quang Trung) tiến quân ra Bắc đánh bại khoảng 29 vạn quân Thanh do vua Lê Chiêu Thống cầu viện tiến vào nước ta Nền hòa bình lặp lại trong khoảng thời gian ngắn trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858
Nhìn lại lịch sử, nhân dân Việt Nam gần như liên tục đấu tranh để giải phóng dân tộc, bảo tồn cuộc sống và bản sắc văn hóa của mình, tần số chống ngoại xâm cao cũng dẫn đến thời gian tiến hành chống ngoại xâm nhiều Khoảng gần 3000 năm dựng nước thì thời gian để chống ngoại xâm gần một nửa, đây là trường hợp hiếm trên thế giới, là nhân tố lặp
đi lặp lại nhiều lần Như vậy, lịch sử chống ngoại xâm là một nhân tố tác động sâu sắc đến toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược của nước ngoài cùng với sự ra đời và phát triển của nền quân sự Việt Nam
5
Trang 92 Quá trình rèn luyện phẩm giá và sự sáng tạo trong chống ngoại xâm của nhân dân
2.1 Trong cuộc đấu tranh sống còn, nhiều phẩm giá được rèn luyện
2.1.1 Lòng yêu nước
Trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc thể hiện tình yêu dành cho quê hương, đất nước không hoàn toàn giống nhau nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chủ nghĩa yêu nước là những biểu hiện khát vọng và những hành động luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết Đối với nhân dân Việt Nam, bắt nguồn từ những tình cảm của người thân trong gia đình, tình yêu đôi lứa đến những tình cảm với làng xóm nơi “chôn rau cắt rốn”, qua quá trình lao động, giao lưu, trao đổi thường xuyên diễn ra tạo nên hạt nhân cơ sở của lòng yêu nước
Thách thức lớn đầu tiên đối với người Việt đặt ra khi quân Tần xâm lược, một cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ thử thách tình cảm yêu nước của nười Âu Việt và người Lạc Việt Sự gắn kết của nhân dân Lạc Việt và Âu Việt đã đánh bại quân xâm lược, nhà nước
Âu Lạc ra đời đánh dấu bước phát triển mới của lòng yêu nước
Cuộc đấu tranh gian lao, quyết liệt của nhân dân ta trong hơn 1000 năm Bắc thuộc chống sự đô hộ của phong kiến phương Bắc để giành quyền tự chủ, vừa bảo vệ di sản văn hóa của tổ tiên đã nâng cao và phát triển hơn nữa lòng yêu nước Bước phát triển thể hiện trong thời gian này như câu chuyện con Rồng cháu Tiên, quả bầu mẹ, lan truyền, các miếu thờ các vị anh hùng dân tộc dựng cờ khởi nghĩa chống đô hộ được xây dựng đã gắn kết thêm và khắc sâu trong tâm thức người Việt để từ đó tạo nên truyền thống yêu nước Việt Nam
Chính truyền thống yêu nước đó là động lực để đến thế kỉ X, đất nước được tự chủ, độc lập, các phong tục, tín ngưỡng cổ truyền được giữ gìn Mặc dù vậy, các triều đại phương Bắc vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta, nhiệm vụ giữ nước được đặt ra thường xuyên Những thắng lợi của các cuộc kháng chiến thời kì quân chủ không chỉ tăng thêm niềm tự hào dân tộc với bao chiến công oanh liệt mà còn khắc sâu tình yêu Tổ quốc
từ miền núi đến đồng bằng, tạo nên tinh thần đoàn kết, một lòng bảo vệ Tổ quốc Nhân dân ngày càng hiểu nền độc lập và tự chủ của Tổ quốc gắn liền với cuộc sống hằng ngày của họ, không thể quên lãng vì một lợi ích bản thân nào đó Truyền thống yêu nước dần mang yếu tố nhân dân, vì dân và thương dân, như tinh thần “sát thát” tràn đày hào khí Đông A thời nhà Trần, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn khẳng định “ khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách để giữ nước”
2.1.2 Tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân tộc
Trong tiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua thời gian dài chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Lịch sử thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm
Trang 10gương kiên trung, bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: từ Bà Triệu “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”; Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; Nguyễn Huệ “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”…Tuy nhiên, một số kẻ trong giai cấp thống trị vì quyền lợi bản thân, tham vọng quyền lực mà đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân, phản bội Tổ quốc như Trần Ích Tắc, Trần Kiện đầu hàng quân Nguyên, Lê Chiêu Thống vì nỗi sợ mất đi quyền lực mà cầu viện nhà Thanh đã đẩy nhân dân vào cảnh chiến tranh, Những thành phần bạc nhược
ấy luôn bị đời đời coi thường, khinh rẻ
Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảng tinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù
2.1.3 Lòng yêu thương, độ lượng và sống có nghĩa tình
Đây là giá trị nhân văn sâu sắc được sinh ra từ trong chính những đau thương, mất mát qua các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống hàng ngày của cư dân nông nghiệp lúa nước Lòng yêu thương và sống có nghĩa tình biểu hiện trong sự tương trợ, giúp
đỡ nhau như trong kháng chiến là kết hợp giữa quân triều đình và các tù trưởng vùng biên
từ đó có thông tin để đưa ra những kế hoạch tác chiến phù hợp Sự khoan dung, vị tha cho những người đã từng lầm đường lạc lối để lấy công chuộc tội như cho phép Trần Khánh
Dư phục chức để tham gia kháng chiến chống giặc bởi ông là người có tài dù trước đó phạm tội, được cho về quê, hay ông thất bại trong trận Vân Đồn, nhà vua cho về trị tội nhưng ông xin ở lại để lập công chuộc lỗi, Tha thứ cho những người bên kia chiến tuyến
đã thức tỉnh lương tri như sự đảm bảo tính mạng không bị xâm phạm, khơi dậy ở họ lòng yêu giang sơn, Tổ quốc, điều này thể hiện rõ nhất trong cách đối xử của ta với binh lính đầu hàng
Trong lịch sử, nhân dân ta luôn đề cao và coi trọng việc giữ gìn hòa hiếu với các nước thông qua các chuyến đi sứ thời bình, trong thời chiến sẽ tận dụng mọi cơ hội để có thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình các xung đột nhằm giảm thiệt hại trong nhân dân
dù nguyên nhân xâm lược từ phía kẻ thù Tiêu biểu như Lý Thường Kiệt giảng hòa với tướng Quách Quỳ trong cuộc kháng chiến chống Tống lần 2 (1075 – 1077) vừa để giữ thể diện cho nhà Tống, vừa giúp đất nước sớm thoát cảnh chiến tranh, an tâm phát triển sản xuất Đối với tù binh bị bắt giữ hoặc những người dẫn quân xin hàng, quân ta đối xử theo nghĩa thường, khi đến hạn tiến hành trao trả tù binh, cấp ngựa, thuyền và lương thực cho