Mở đầu Trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã bao lần kinh qua nhiều cuộc kháng chiến với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn gấp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LỊCH SỬ
- -BÀI TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
ĐỀ BÀI:
“Anh, chị hãy lựa chọn 01 cuộc kháng cuộc kháng chiến thắng lợi và
01 cuộc kháng chiến thất bại để: 1 – Phân tích và chỉ rõ vai trò của “sức dân”
trong thắng lợi và trong thất bại của một cuộc kháng chiến; 2 – Nêu một số
kinh nghiệm “khoan thư sức dân” trong lịch sử ”
Sinh viên thực hiện: Dương Hồng Quân
Mã sinh viên: 695602114
Hà Nội, Tháng 8/2022
Trang 3Mục lục
Mở đầu 4
1 Vai trò của “sức dân” trong kháng chiến chống ngoại xâm 4 1.1 Yếu tố “sức dân” nhìn từ thất bại của triều Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858 – 1884) 5
1.1.1 Triều Nguyễn với những chính sách làm kiệt quệ “sức dân” 5 1.1.2 Triều Nguyễn không biết tận dụng “sức dân” để tổ chức, phát động kháng chiến 6 1.1.3 Triều Nguyễn với việc ngăn cản, tấn công vào phong trào kháng chiến của nhân dân và
để mất nước 7
1.2 Yếu tố “sức dân” nhìn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) 9
1.2.1 Quan điểm đề cao vai trò của “sức dân” ngay trong đường lối kháng chiến 9 1.2.2 Sự đoàn kết toàn dân tạo sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến 10 1.2.3 “Sức dân” với vai trò là chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến 10
2 Một số kinh nghiệm “khoan thư sức dân” trong lịch sử 11 Kết luận 13
Trang 4Mở đầu
Trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã bao lần kinh qua nhiều cuộc kháng chiến với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn gấp nhiều lần để giữ vững được độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Dựng nước
đi đôi với giữ nước trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam Trên hành trình lịch
sử đầy thử thách đó, yếu tố nhân dân trở thành một giá trị quan trọng bậc nhất trong truyền thống quân sự của Việt Nam, nó góp phần quyết định tính thành bại của một cuộc kháng chiến Tìm hiểu
về vấn đề “sức dân” trong những cuộc kháng chiến là một nội dung thú vị, mang nhiều ý nghĩa và để lại những bài học kinh nghiệm cho hoạt động xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Chủ đề “Phân tích và chỉ rõ vai trò của ‘sức dân’ trong thắng lợi và trong thất bại của một
cuộc kháng chiến Nêu một số kinh nghiệm ‘khoan thư sức dân’ trong lịch sử” là một thành phần có
ý nghĩa quan trọng nằm trong chuyên đề: “Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam” Về mặt kiến thức, tìm hiểu chủ đề này có ý nghĩa trong việc củng cố kiến thức,
kĩ năng tổng quan về lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam nói chung và vấn đề chiến tranh nhân dân nói riêng Về mặt nhận thức, chủ đề đưa ra cái nhìn khách quan đối với vai trò của nhân dân trong một cuộc kháng chiến và những chính sách từ phía nhà nước trong việc phát triển nguồn lực con người Từ đó, bản thân hình thành thái độ tích cực trong việc đánh giá và phân tích nguyên nhân dẫn tới thành công hay thất bại của một cuộc kháng chiến khi xét từ yếu tố sức dân
Mục tiêu của việc tìm hiểu chủ đề này là nhằm làm rõ vai trò của “sức dân” trong kháng chiến chống ngoại xâm và tầm quan trọng của việc chăm lo, phát triển đời sống cho nhân dân; có kĩ năng
xử lí thông tin, tổng hợp các sự kiện và những mối liên hệ lịch sử Để đạt được mục tiêu đó, trên cơ
sở phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu nghiên cứu tiếp cận được, chủ đề sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: Lựa chọn một cuộc kháng chiến thành công và một cuộc kháng chiến thất bại trong lịch sử Việt Nam và phân tích, chỉ rõ vai trò của “sức dân” trong hai cuộc kháng chiến đó; nêu một số kinh nghiệm “khoan thư sức dân” trong lịch sử và rút ra nhận xét, đánh giá về vấn đề này
1 Vai trò của “sức dân” trong kháng chiến chống ngoại xâm
Trong các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, do những nhân tố cơ bản – đấu tranh chống thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm để sinh tồn và phát triển quy định, yếu tố “sức dân”
đã xuất hiện từ sớm và ngày càng phát triển lên trong hoạt động tổ chức kháng chiến cũng như vận động người dân tham gia kháng chiến Dù ở thời nào, mối quan hệ giữa sức dân và nhà nước cũng
vô cùng quan trọng Một mặt, sức dân biểu hiện thông qua từng phương diện cụ thể trong hoạt động
xã hội, ví dụ như việc cung cấp nguồn lực vật chất và tinh thần cho kháng chiến; mặt khác, chính những chính sách của nhà nước, những hoạt động xã hội lại bồi đắp, củng cố và phát triển sức dân
Khi nói về sức dân, ông cha ta đã tổng kết “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân,
có dân thì có tất cả, mà mất dân là mất hết” Biểu hiện rõ nét cho điều này nằm ở sự thành bại của
một cuộc kháng chiến, sự tồn vong của một vương triều gắn bó sâu sắc với vai trò của nhân dân Tôi lựa chọn 2 cuộc kháng chiến đó là: Kháng chiến chống Pháp lần 1 (1858 – 1884) và kháng chiến
Trang 5chống Pháp lần 2 (1945 – 1954) để phân tích vai trò của sức dân Trong nửa cuối thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX, dân tộc Việt Nam phải hai lần tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Kết quả của hai cuộc kháng chiến đó tuy khác nhau nhưng đều để lại những bài học kinh nghiệm lịch
sử về việc tận dụng, phát huy sức mạnh từ nhân dân
1.1 Yếu tố “sức dân” nhìn từ thất bại của triều Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống
Pháp (1858 – 1884)
Từ giữa thế kỉ XIX, nhân dân Việt Nam phải đương đầu với cuộc xâm lược của kẻ thù hoàn toàn mới, hoàn toàn khác trước – một đế quốc phương Tây, hơn hẳn Việt Nam về tiềm lực kinh tế, quân sự, nhất là về khoa học kĩ thuật, đó là thực dân Pháp Nhà Nguyễn đã không những không dựa vào nhân dân để phát động, tổ chức kháng chiến, mà còn có những hành động để mất lòng tin của nhân dân, làm kiệt quệ sức dân, thậm chí ngăn cản và tấn công vào phong trào kháng chiến của nhân dân và để mất nước
1.1.1 Triều Nguyễn với những chính sách làm kiệt quệ “sức dân”
Ngay từ đầu triều đại, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nhà Nguyễn cũng thi hành nhiều chính sách không được lòng dân chúng, tiêu biểu như cách thức tái lập chính quyền ở Bắc Kì và Trung Kì Thêm nữa là một số chính sách hà khắc và cứng nhắc đã ngày càng làm mất lòng dân Triều Nguyễn tỏ ra bất lực trong việc ngăn cản tệ nạn quan tham nhũng và cường hào hà hiếp dân Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, nhất là vào những năm thiên tai, địch họa, mất mùa Nhiều nông dân không sống nổi phải bỏ làng đi xiêu tán khắp nơi Trong khi nhân dân đói khổ thì triều đình lại lãng phí tiền bạc vào việc xây dựng thành quách, lâu đài, lăng tẩm nguy nga Tiếng than ai oán của
nhân dân vang lên khắp nơi: “Con ơi nhớ lấy câu này: Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”; “Vạn
Niên là Vạn Niên nào, Thành xây xương lính, hào đào máu dân”1 Những chính sách này đã làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, suy nhược đất nước và xói mòn sức đề kháng của dân tộc Làn sóng bất mãn của dân chúng với triều đình Nguyễn ngày càng dâng cao Chính những khó khăn nội tại từ việc làm mất lòng dân, tổn hại “sức dân” đã làm cho triều Nguyễn luôn trong tình trạng bất ổn và ảnh hưởng đến tư tưởng kháng Pháp của họ sau này
Hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ diễn ra triền miên của các tầng lớp nhân dân đã nổ ra, đặc biệt là của nông dân Thời vua Minh Mệnh trị vì nổ ra nhiều cuộc nổi dậy nhất và có quy mô nhất, tiêu biểu là hai cuộc khởi nghĩa do Phan Bá Vành lãnh đạo ở Bắc Kì (1821 – 1827), khởi nghĩa do
Lê Văn Khôi lãnh đạo ở Nam Kì (1833 – 1835) Đến thời vua Tự Đức, tình hình càng phức tạp khi một lúc triều Nguyễn phải đối mặt với thực dân Pháp xâm lược, vừa phải chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân Để bảo vệ quyền lợi dòng họ và chính quyền của mình, triều Nguyễn đã lựa chọn hướng giải quyết là thường xuyên huy động quân đội để đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Thậm chí nhiều quan quân còn hà hiếp và trộm cướp của dân Chính vì thế quân và dân có mối bất hòa sâu sắc, không tạo được thế trận lòng dân Một chính quyền, một quân đội để mất lòng dân là
1 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2015), “Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, Tập III - Từ năm 1858 đến năm 1945”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 19
Trang 6mất tất cả Thảm cảnh lịch sử của nhà Hồ cũng đã để lại bài học xương máu đó, Hồ Nguyên Trừng
từng phải đau xót thốt lên: “Tôi không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo” Nhưng nhà Nguyễn
dường như đã quên mất điều đó hoặc có biết nhưng cũng đành bất lực trước hoàn cảnh
1.1.2 Triều Nguyễn không biết tận dụng “sức dân” để tổ chức, phát động kháng chiến
Việc dần dần từ bỏ vai trò lãnh đạo và không biết tận dụng sức dân kháng chiến cũng bộc lộ
rõ trong những hành động của triều Nguyễn từ năm 1862 – 1973 Đầu tiên là cuộc đấu tranh giữa tư tưởng chủ chiến và tư tưởng chủ hòa trong nội bộ triều đình Do phe chủ chiến không đông và không
có phẩm hàm cao nên đã không áp đảo được, bên cạnh đó vua Tự Đức cũng ngả hẳn về phe chủ hòa nên chủ trương nghị hòa đã trở thành quyết sách chung của triều đình Họ dẫn đủ những lí do để bao biện cho quan điểm thủ và hòa của mình một cách mù quáng, như giặc có tàu to, súng lớn, ta không thể đánh lại chúng Vì quá sợ hãi vũ khí của địch mà họ không thấy được con người chứ không phải
vũ khí là quyết định thắng lợi của chiến tranh Do đó, triều Nguyễn đã không phát huy được sức dân
để làm nền tảng cho cuộc kháng chiến chống Pháp
Trái lại với những quan lại đầu triều có tư tưởng hòa nghị, sợ hãi vũ khí địch, khi nhận định
về sức dân, Tiến sĩ Vũ Phạm Khải đã can ngăn vua Tự Đức không chấp nhận hòa ước mà phải chiến
đấu, phải biết tin và dựa vào sức mạnh của dân: “Nếu như bọn Tây dương động binh thì bề tôi lớn
nhỏ sẵn lòng trung nghĩa, căm giặc giết thù… Mọi người đều đồng lòng như thế Vậy thì tuy bọn Tây dương có càn rỡ ngông cuồng đến mấy cũng chỉ dừng chân ở được ngoài biển để dương oai mà thôi Làm sao họ có thể đến xây thành trên đất của ta…”2 Có thể thấy Vũ Phạm Khải đã nhận biết sức mạnh của nhân dân, từ đó chủ trương đoàn kết toàn dân đánh giặc Tuy nhiên, vua Tự Đức đã không chấp nhận quan điểm này
Nếu như nội bộ triều đình Huế còn do dự giữa hòa hay chiến, thì nhân dân chỉ có một tinh thần chung duy nhất, đó là quyết chiến Ở Bắc Kì, tinh thần chiến đấu của nhân dân dâng cao mạnh
mẽ Năm 1859, Phạm Văn Nghị (Đốc học Nam Định) đã gửi “Trà Sơn kháng sớ” lên vua Tự Đức để bày tỏ nguyện vọng quyết tâm kháng chiến của sĩ dân Nam Định và xin phép được vào chiến trường đánh giặc nhưng không được vua Tự Đức phê chuẩn Nhưng với tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm với dân tộc, Phạm Văn Nghị vẫn đứng lên giương cao cờ nghĩa, chiêu binh vào Nam đánh giặc Ở Nam Kì, nhân dân cũng chủ động phối hợp với quan quân triều đình hoặc tự tổ chức đánh giặc ngay từ những ngày đầu Khắp các làng xã, nhân dân tự nguyện đóng góp của cải, tham gia kháng chiến, thành lập nhiều đội nghĩa dũng đánh Pháp Sức dân được bộc lộ rõ nét khi những người
ở Định Tường đã quyên góp được 8.000 cân sắt sống, 2.700 quan tiền và 200 phương gạo để giúp
Tiêu biểu nhất trong hai năm 1861 – 1862, nhiều trung tâm kháng chiến của nhân dân đã xuất hiện Tháng 1 – 1961, Trương Công Định (Trương Định, Quản Định) đã phất cờ khởi nghĩa Nghĩa
2 Nguyễn Văn Huyền (Sưu tầm và biên dịch) (1991), “Vũ Phạm Khải – Đông Dương thi văn tuyển”, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, tr 293
3 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2015), “Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, Tập III - Từ năm 1858 đến năm 1945”, Sđd, tr 43
Trang 7quân Trương Định chiến đấu rất dũng cảm, đánh thắng nhiều trận giòn giã, tạo được uy thế lớn Đặc biệt, ngày 10 – 12 – 1861, nghĩa quân Trương Định đã phối hợp với nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh thắng một trận đánh lớn trên sông Nhật Tảo, đốt cháy tàu Espérance của địch, làm cho quân địch kinh hồn, bạt vía Thanh thế ngày càng lên cao, nghĩa quân thu hút hàng vạn người tham gia
Trong khi quan quân triều đình mải lo chuyện đắp phòng tuyến cố thủ thì các đội nghĩa quân
đã tìm ra nhiều cách đánh địch có hiệu quả như: phục kích, ngăn kè, cắt đường giao thông địch, quấy rối địch, và thu được nhiều kết quả Lối đánh du kích đã làm cho quân Pháp rất lúng túng Một sĩ
quan Pháp lúc đó đã phải thừa nhận: “Thực tế là đâu đâu cũng có các ổ kháng chiến, nó chia nhỏ li
ti ra, có thể hầu như nói được rằng mỗi người dân An Nam là một ổ kháng chiến”4 Có thể thấy sức mạnh tự lực kháng chiến từ nhân dân là rất lớn, dù không gắn với triều đình kháng Pháp thì sức dân vẫn mạnh mẽ Điều quan trọng là triều đình có thể tận dụng được sức dân hay không
Trong khi phong trào kháng Pháp của nhân dân đang lên cao thì triều Nguyễn lại kí Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, chấp nhận cắt đất ba tỉnh miền Đông Nam kì cho Pháp Sự kiện này tạo ra sự thay đổi mới trong cuộc kháng chiến, từ sau Hiệp ước này, triều Nguyễn đã từng bước từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình Từ đây, nhân dân vừa đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp, vừa chống lại thái độ đầu hàng của triều đình Nguyễn
1.1.3 Triều Nguyễn với việc ngăn cản, tấn công vào phong trào kháng chiến của nhân dân và
để mất nước
Sau khi kí Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã xuất hiện quan điểm coi việc dân chúng nổi loạn mới thực sự là mối đe dọa lớn của triều đình hơn là giặc Pháp, triều đình thực hiện hành động tấn công phong trào dân chúng Điều này cũng đã bị Tiến sĩ Vũ Phạm Khải chỉ trích mạnh
mẽ: “Các vị lấy cớ lúc này, các tỉnh Bắc Kì đang nhiều việc đánh dẹp, cho nên việc đánh này chỉ là
giải pháp tạm thời Song, giặc cướp Bắc Kì chỉ là nỗi lo về cái mụn nhỏ, còn cái họa Tây dương mới
là bệnh trong tận tim ruột Nếu chỉ chữa khỏi cái mụn trước mắt mà lại cắt thịt trong tim gan thì có ích gì”5 Điều này cho thấy phần bạc nhược và sai lầm chiến thuật của triều Nguyễn
Để thực hiện những điều khoản đã kí kết với Pháp, triều đình ra lệnh buộc các lực lượng kháng chiến ở Nam Kì đầu hàng, tiêu biểu là “Thông dụ cho Nam Kì nghỉ quân” Đến khi Pháp lộ rõ âm mưu thôn tính nốt các tỉnh còn lại ở Nam Kì thì triều Nguyễn lại thụ động chờ đợi tinh thần chống Pháp của nhân dân nơi đây Sau đó, sự xuống dốc trong tư tưởng của vua Tự Đức và đa số triều thần
vua Tự Đức và lệnh bãi binh đã làm cho nhân dân không còn đủ niềm tin đứng dưới ngọn cờ chiến đấu của triều đình nữa
Để tách Trương Định ra khỏi phong trào kháng chiến, triều đình đã dùng thủ đoạn thăng chức quan đầu tỉnh ở Phú Yên cho ông, và cử Phan Thanh Giản đến thuyết phục bãi binh nhưng điều này
4 Trần Tam Tỉnh (1988), “Thập giá và lưỡi gươm”, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, tr 41
5 Nguyễn Văn Huyền (Sưu tầm và biên dịch) (1991), “Vũ Phạm Khải – Đông Dương thi văn tuyển”, Sđd, tr 293
6 Trần Văn Giàu (Giới thiệu) (1970), “Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ XIX (1858 – 1900)”, Nxb Văn học, Hà Nội, tr 418
Trang 8đã không được Trương Định đồng ý Trương Định đã ở lại sát cánh cùng nhân dân kháng Pháp và chĩa cả mũi nhọn tấn công vào triều đình Nguyễn đầu hàng Sau khi Trương Định mất (1864), cuộc đấu tranh của nhân dân vùng Đồng Tháp Mười lại quy tụ dưới sự chỉ huy của Võ Duy Dương Sợ mất lòng người Pháp sẽ ảnh hưởng đến chủ trương nghị hòa, vua Tự Đức đã theo yêu cầu của thực
dân Pháp ra lệnh cho quan quân Nam Kì lùng sục bắt Võ Duy Dương: “Sai Kinh lược thần và ba
tỉnh thần dò xét, nếu có tên Dương và bọn tòng phạm lén lút ẩn náu trong hạt, phải bắt giao ngay, nếu không thì tư cho chủ súy Pháp tự tìm bắt lấy”7
Trong những năm 1873 – 1874, trong khi nhân dân Bắc Kì khắp nơi nổi dậy chống Pháp mạnh
mẽ và giành được thắng lợi lớn tại trận Cầu Giấy lần thứ nhất thì triều đình lại kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (1874), vội vàng lo thương thuyết thay vì thử kêu gọi lòng yêu nước của dân Trong hơn mười năm hòa hoãn (1874 – 1884), triều Nguyễn đã cố gắng củng cố binh lực nhưng không phải để đánh Pháp mà là để tập trung đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Sau khi Hiệp ước Giáp Tuất được kí kết, tinh thần chống triều đình đầu hàng vốn đã có từ trước nay lại dâng trào quyết liệt hơn Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa năm 1874 của Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo ở Nghệ An Mục đích của khởi nghĩa được xác định rõ ràng:
“Dập dìu súng bắn cờ siêu Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”
Sau đó, vua Tự Đức phải điều động số lượng lớn binh lính đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa này Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa này đã tạo khí thế thúc đẩy nhiều cuộc khởi nghĩa khác bùng lên chống Pháp và chống cả triều đình đầu hàng
Năm 1883, Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai một lần nữa làm nức lòng nhân dân cả nước Khí thế tiến công địch trào dâng mãnh liệt hơn bao giờ hết Nhưng trong hoàn cảnh đó, triều đình vẫn án binh bất động để hòa nhượng với Pháp, thậm chí còn cách chức những quan văn, quan võ dám chống lệnh bãi binh Tiêu biểu cho sự bạc nhược là việc triều Nguyễn kí với thực dân Pháp Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenôtre (1884) Với hai hiệp ước này, Việt Nam chính thức mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp Mặc dù triều Nguyễn đã chính thức đầu hàng, nhưng ngọn lửa kháng chiến từ “sức dân” vẫn bùng cháy dữ dội
Như vậy, điểm mấu chốt trong nhất trong chiến lược quốc phòng là phải xây dựng được thế trận toàn dân đánh giặc thì triều Nguyễn lại để mất lòng dân và quân đội không tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trong nhân dân Chính những nhược điểm đó đã ảnh hưởng đến kết cục của cuộc kháng chiến Dù kháng chiến thất bại nhưng yếu tố “sức dân” ở giai đoạn đó đã làm cho Pháp gặp nhiều tổn thất, khó khăn, mất thời gian khá dài mới có thể chiếm được Việt Nam “Sức dân” qua cuộc kháng chiến này thể hiện sự linh hoạt, không đầu hàng, sẵn sàng đánh cả giặc lẫn triều đình khi
họ quay lưng lại với chủ quyền dân tộc
7 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), “Đại Nam thực lục”, Tập 7, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 1002
Trang 91.2 Yếu tố “sức dân” nhìn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Đêm 22, rạng sáng ngày 23 – 9 – 1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở của Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai Ngày 26 – 9 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu
gọi: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ…
Thà chết tự do hơn sống nô lệ!”8 Từ đây, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược Sức dân ở giai đoạn 1945 - 1954 thể hiện trong chính đường lối kháng chiến - chiến tranh nhân dân; toàn dân đoàn kết; sự đóng góp sức người sức của, là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho kháng chiến; là nguyên nhân quan trọng nhất làm nên thắng lợi
1.2.1 Quan điểm đề cao vai trò của “sức dân” ngay trong đường lối kháng chiến
Sau một thời gian thỏa hiệp, ngày 18 – 12 – 1946, Pháp đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam, yêu cầu giải tán các lực lượng vụ trang và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng Hành động
đó buộc nhân dân Việt Nam chỉ còn một lựa chọn duy nhất: cầm vũ khí tiến hành cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, tự do Trong hai ngày 18 và 19 - 12 – 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị phân tích tình hình và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến Hội nghị còn đề ra những đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến và mấu chốt là “chiến tranh nhân dân”
Ngay trong đêm ngày 19 – 12 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Sáng hôm sau, lời kêu gọi đó được truyền đi khắp cả nước Toàn bộ văn bản “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” cũng chính là tuyên ngôn về tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại, coi trọng sức dân, tận dụng sức dân, chỉ có nhờ nhân dân mới làm nên được thắng lợi sau cùng Hình thức thực tiễn của cuộc chiến tranh vệ quốc, đúng như tên gọi của văn bản quan trọng này, là “toàn quốc kháng chiến” Cuộc chiến tranh toàn quốc mà nhân dân ta thực hiện gồm 3 nhân tố chính: 1- mục đích hòa bình; 2 – lực lượng toàn dân; 3 – trường kì kháng chiến Chỉ có dựa vào sức dân mới có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, chỉ có dựa vào sức dân thì cuộc kháng chiến mới có thể tồn tại trong trường kì
để đi đến hòa bình, thắng lợi mà không bị dập tắt
Bên cạnh đó, ngày 12 – 12 – 1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra “Chỉ thị Toàn dân kháng chiến”, nêu lên một cách khái quát những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến Tiếp
đó, tháng 3 – 1947, Trường Chinh – Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng đã việt một loạt các bài báo đăng trên báo Sự thật để giải thích rõ thêm về đường lối kháng chiến
Tóm lại, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chỉ thị Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ, và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh
đã xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì kháng chiến, tự lực cánh sinh Đây
là đường lối xuyên suốt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) mà yếu tố “sức dân” luôn được đề cập, coi trọng và khẳng định vai trò
8 Hồ Chí Minh (2000), “Toàn tập”, T.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 27
Trang 101.2.2 Sự đoàn kết toàn dân tạo sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bên cạnh những thuận lợi, chính quyền cách mạng non trẻ ở vào thế “ngàn cân treo sợi tóc” Trong bối cảnh đó, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và thực hiện chủ trương tăng cường thực lực cách mạng trên cơ sở dựa chắc vào khối đại đoàn kết toàn dân được tập hợp trong mặt trận Việt Minh và
các đoàn thể cứu quốc Khẩu hiệu: “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”, “Tập trung ngọn lửa đấu
tranh vào thực dân Pháp xâm lược”,… đã thu hút rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, kể cả quan đại
phần chính là dựa vào sự đoàn kết toàn dân
Thông qua các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh đã vận động quần chúng tự nguyện tham gia các phong trào sản xuất, cứu đói, hũ gạo tiết kiệm, bình dân học vụ,… Quyền làm chủ của người dân cũng được thực hiện thông qua Tổng tuyển cử lịch sử đầu tiên bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp mới Chính quyền nhân dân ra đời trong Cách mạng Tháng Tám là của dân, gắn bó với dân, dựa vào dân, thực hiện chức năng chính là động viên và tổ chức toàn dân đem hết tinh thần, lực lượng để bảo vệ sự nghiệp cách mạng, kháng chiến, kiến quốc
Với những chủ trương, chính sách cụ thể, dựa vào lực lượng toàn dân, Đảng đã tập hợp được đông đảo các đồng bào yêu nước, không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo, nam nữ,… trong Mặt trận Việt Minh, Liên Việt từ đó tăng cường thực lực mọi mặt cho kháng chiến Đưa cuộc kháng chiến tiến lên giành được nhiều thắng lợi quan trọng như Việt Bắc Thu – Đông năm 1947, Biên giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954,… đánh bại được kẻ xâm lược và bảo vệ độc lập dân tộc
1.2.3 “Sức dân” với vai trò là chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần, quyết định thắng lợi của cuộc
kháng chiến
Ngay từ những ngày đầu hưởng ứng lời kêu gọi ủng hộ Nam Bộ kháng chiến (26 – 9 – 1945), sức người và sức của từ dân chúng đã được huy động Hàng vạn thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường nhập ngũ Hầu hết các tỉnh ở Bắc bộ và Bắc Trung Bộ đều thành lập các chi đội gửi vào Nam sát cánh chiến đấu cùng đồng bào miền Nam Vũ khí, trang bị tốt nhất đều dành cho bộ đội Nam tiến Nhân dân miền Bắc tổ chức vận động quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men,… ủng hộ đồng bào Nam Bộ
Giai đoạn năm 1945 – 1946, để giải quyết nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào
lập các hũ gạo tiết kiệm, không dùng gạo, ngô để nấu rượu Hưởng ứng lời huy động sức dân, “cứ
10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa Đem gạo đó để cứu dân nghèo”, đồng bào ta đã
tổ chức quyên góp tiết kiệm được nhiều lương thực cứu đói Bên cạnh đó, nhiều khẩu hiệu cổ động
sản xuất đã được đưa ra và thực hiện thành công như “Tấc đất tấc vàng!”, “Tăng gia sản xuất ngay!
Tăng gia sản xuất nữa!”,… đã tạo động lực cho người dân và cùng chính phủ vượt qua nạn đói
9 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2015), “Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, Tập IV - Từ năm 1945 đến năm 1975”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 131