1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án tiếng việt: Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 52,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN DIỆU MINH CHÂN NHƯ

THIỀN TÍNH TRONG THƠ HAIKU

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

KHOA NGỮ VĂN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN THỊ MAI LIÊN

TS NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

Phản biện 1: PGS TS ĐỖ THU HÀ -Trường Đại học

KHXH&NV- ĐHQG Hà Nội Phản biện 2: PGS TS PHÙNG NGỌC KIÊN – Viện Văn học Phản biện 3: PGS TS NGUYỄN THỊ MAI CHANH – Trường

ĐHSP Hà Nội

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp

tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm 2022.

Trang 3

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Quốc gia Việt Nam Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Nguyen Dieu Minh Chan Nhu (2021), “Approaching Classical JapaneseHaiku Poetry through the Perspective of Ink Painting Art and Application toTeaching Foreign Literature for Literature Pedagogy Students at Dong Thap

University,” Tạp chí Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 5(2), 52-60.

2 Nguyễn Diệu Minh Chân Như (2022), “Cảm nghiệm Thiền trong thơ haiku

và tranh mặc hội cổ điển”, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 19(1), 31-41.

3 Nguyễn Diệu Minh Chân Như (2022), “The technique of emptiness in haiku

poetry and the white space in Japanese ink wash paintings”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, 227(4), 100-108.

4 Nguyễn Diệu Minh Chân Như (2021), “Aesthetic sensibility of ưabi in haiku

poetry and Japanese classic ink wash paintitngs”, Văn học và ngôn ngữ trong thế giới đương đại –Bản sắc và hội nhập, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

Khoa Ngữ Văn, NXB Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 504-517

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

1.1 “Thi trung hữu họa; họa trung hữu thi” là nhận định của Tô Đông

Pha (1037 - 1101) dành cho những bài thơ cũng như những bức họa của VươngDuy (701 - 761) Các nhà phê bình nghệ thuật trước giờ vẫn xem đó là nhậnđịnh khái quát, đề cập đến tính khả dĩ của mối liên hệ giữa thơ và họa, ở TrungQuốc nói riêng và ở phương Đông nói chung Thế nhưng làm rõ mối liên hệ nàylại là một công việc đòi hỏi nhiều công phu nghiên cứu Cơ sở lí luận của mốiliên hệ đó là gì? Những biểu hiện cụ thể của nó ra sao? Xuất phát từ thôi thúctrên, tác giả luận án muốn đi sâu vào tìm hiểu mối liên hệ này, thông qua việcnghiên cứu hai thể loại nghệ thuật cụ thể: Thơ haiku và tranh mặc hội

1.2 Thơ haiku (tiếng Nhật: 俳句, âm Hán Việt: Bài cú) là một thể thơđặc sắc của thi quốc Nhật Bản Ngày nay, trong thế kỉ XXI, từ một thể thơ đặctrưng của Nhật Bản, thơ haiku đã lan tỏa theo hướng toàn cầu hóa Điều đó chothấy, thơ haiku có giá trị rất lớn lao đối với đời sống tinh thần nói chung, cũngnhư đời sống văn học nói riêng của nhân loại Vì vậy, nghiên cứu thơ haiku sẽnắm bắt được linh hồn Nhật Bản vậy

1.3 Tranh mặc hội (sumi-e 水墨画) - cũng còn gọi là tranh thủy mặc - là

một loại tranh vẽ bằng bút lông phổ biến ở Đông Á nhất là Trung Quốc và NhậtBản, là một loại hình nghệ thuật mang hồn cốt Đông Á nói chung và Nhật Bảnnói riêng Tìm hiểu tranh mặc hội cho ta cái nhìn thấu triệt về tâm hồn Đông Á,tâm hồn Nhật Bản

1.4 Thiền (tiếng Nhật: zen-shū (禅宗) nói đầy đủ là Thiền na có nguồngốc từ Ch’an trong tiếng Trung Từ Ch’an có nguồn gốc từ từ Dhyana trongtiếng Sanskrit – có nghĩa là tịch lự Đến thế kỉ XII,Thiền được truyền bá sangNhật Bản với công lao của Thiền sư Eisai Myoan (1141 - 1215), và sau đó làThiền sư Dogen (1192-1333) Sự tập trung tinh lực tu Thiền đem lại hiệu quảtrong mọi lĩnh vực Vì thế mà Thiền thâm nhập, lan tỏa vào mọi ngõ ngách củađời sống văn hóa Nhật Bản, từ đó làm nên tinh hoa của trà đạo, hoa đạo, kiếmđạo, cung đạo, và, đặc biệt là thơ haiku và hội họa

1.5 Cùng nằm trong trường ảnh hưởng của Thiền tông, thơ haiku và tranh

mặc hội có mối tương giao sâu sắc Với cốt tủy là tinh thần Thiền, cả hai ngànhnghệ thuật này đều có những cơ sở chung có thể soi chiếu vào nhau ở các phươngdiện như cảm thức thẩm mĩ, phương thức nghệ thuật và phương diện tiếp nhận,cảm nghiệm Trên cơ sở mối tương giao và những giá trị cốt lõi của hai ngành

Trang 5

nghệ thuật này cùng với niềm đam mê của bản thân ở cả hai lĩnh vực thơ ca vàhội họa Nhật Bản, chúng tôi đã tìm thấy động lực lớn lao thôi thúc mình nghiên

cứu đề tài Thiền tính trong thơ Haiku và tranh mặc hội Nhật Bản, với mong

ước phát huy phần nào giá trị cao quý của hai ngành nghệ thuật này trênphương diện khoa học và thực tiễn sáng tác Tuy nhiên, cho đến nay, nhữngcông trình nghiên cứu khoa học so sánh hai lĩnh vực này ở Việt Nam thực sựcòn ít ỏi, chưa tương xứng với giá trị của nó Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi

chọn đề tài Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội Nhật Bản làm đối

tượng nghiên cứu cho luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án hướng tới mục đích làm sáng tỏ Thiền tính trong thơ haiku trongmối tương quan với tranh mặc hội và thông qua việc so sánh đối chiếu nhữngđiểm tương đồng và khác biệt giữa hai loại hình, khám phá thêm những giá trịthẩm mĩ sâu sắc, mới mẻ của thơ haiku

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án nghiên cứu bốn phương diện của vấn đề:

- Cơ sở lí luận và thực tiễn của mối tương quan giữa thơ ca và hội họatrong văn hóa truyền thống Nhật Bản

- Những tương đồng và khác biệt về mặt cảm thức thẩm mĩ giữa thơhaiku và tranh mặc hội

- Những tương đồng và khác biệt về phương thức biểu hiện của thơ haiku

và tranh mặc hội

- Cảm nghiệm đối với tác phẩm tranh mặc hội và thơ haiku

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là điểm tương đồng và dị biệt giữa thơhaiku và tranh mặc hội Nhật Bản với ba biểu hiện cụ thể: Cảm thức thẩm mĩThiền, phương thức biểu đạt Thiền và nghệ thuật cảm nghiệm Thiền

Phạm vi khảo sát chủ yếu của luận án là các tác phẩm thơ haiku và tranhmặc hội Nhật Bản trong giai đoạn cổ điển (từ thế kỉ XVII đến năm 1868)

4 Các hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Trong luận án, chúng tôi tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa,kết hợp với góc nhìn thi pháp học và mĩ học tiếp nhận

Nhằm giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi ápdụng những pháp sau đây mà tôi cho là phù hợp với đối tượng và lĩnh vực

Trang 6

nghiên cứu:Phương pháp so sánh loại hình, Phương pháp liên ngành, phươngpháp lịch sử xã hội, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp khảo sát,thống kê.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án góp phần làm rõ mối tương quan giữa thơ ca và hội họa trong

nền nghệ thuật cổ điển phương Đông,

Thông qua việc khảo cứu các tác phẩm cụ thể, làm sáng tỏ một số vấn

đề lí luận về Phương pháp nghiên cứu liên ngành và phương pháp so sánh loạihình trong nghiên cứu văn học

Luận án cung cấp một vốn hiểu biết cơ bản nhất, giúp độc giả tiếp nhậntốt các tác phẩm thi họa của nền văn hóa Nhật Bản bằng nghệ thuật cảmnghiệm

Luận án cũng hướng đến việc giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về Thiền

và văn hóa Thiền

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án làm rõ mối tương quan giữa thơ ca và hội họa trên phương diện líluận và khảo sát trên thực tiễn, làm rõ giao điểm giữa thơ haiku và tranh mặchội Thông qua nghiên cứu điểm chung này, luận án làm sáng tỏ những đặctrưng độc đáo của cả hai thể loại thuộc hai ngành nghệ thuật

Luận án khảo cứu những tác phẩm thơ haiku và tranh mặc hội, là nhữngthể loại rất đặc biệt của nghệ thuật phương Đông nói chung, nghệ thuật NhậtBản nói riêng, và dựa trên việc phân tích giá trị tư tưởng và thẩm mĩ, nghiêncứu phong cách biểu hiện của những tác phẩm cụ thể, đề xuất một hướng tiếpcận hiệu quả đối với những tác phẩm này, đó là tiếp cận theo phương thức cảmnghiệm

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận án được triển khai theo bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cảm thức thẩm mĩ Thiền trong thơ haiku và tranh mặc hộiChương 3: Phương thức nghệ thuật Thiền trong thơ haiku và tranh mặc hộiChương 4: Nghệ thuật cảm nghiệm Thiền trong thơ haiku và tranh mặc hội

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thuyết khái niệm Thiền tính

Thiền tính được tác giả luận án hiểu như là một phẩm tính của Thiền, tồntại một cách xuyên thấm ở cả phương diện cảm thức thẩm mĩ lẫn phương thứcsáng tác của tác phẩm, khu biệt các tác phẩm thuộc nghệ thuật Thiền với các tácphẩm thuộc các dạng thức nghệ thuật khác không chịu sử ảnh hưởng của Thiền.Những phẩm tính đó, về phương diện diện cảm thức thẩm mĩ là: đề cao vẻ đẹpgiản phác nguyên sơ cua tạo vật, được nhìn qua cái nhìn trực tiếp thể hội, khôngthông qua tư duy suy lí Các tác phẩm nghệ thuật Thiền do vậy thường cókhuynh hướng từ trong sự cô đơn tịch lặng mà phát lộ vẻ đẹp sâu thẳm mangtính chất tâm linh Từ những đặc trưng sáng tạo nghệ thuật và những đặc thùcủa tác phẩm thuộc nghệ thuật Thiền như trên, người thưởng thức cũng phải cónhững cách thức tiếp nhận phù hợp Ở đây, trong luận án này, chúng tôi đề xuấtmột phương thức tiếp nhận là phương thức cảm nghiệm

1.2 Tình hình nghiên cứu

1.2.1.Trên thế giới

1.2.1.1 Nghiên cứu mối tương quan thơ ca và hội họa

Những câu hỏi về mối liên quan giữa hội họa và các ngành nghệ thuậtnhư văn chương, trong lịch sử nghệ thuật của nhân loại, được giải quyết mộtcách cơ bản trong công trình nghiên cứu vể lịch sử hội họa của tác giả WendyBeckett Công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất mối tương quan thơ ca và hội họa

trên phương diện lí luận, là tác phẩm Laocoon – an Essay upon the Limits of Painting and Poetry của Gothold Ephraim Lessing (1729-1781) được Ellen

Frotingham dịch sang tiếng Anh năm 1873, đã nêu lên quan niệm của tác giảtrong sự phân biệt cốt lõi giữa thơ ca và hội họa Ngoài ra, ta có thể kể đến các

công trình của các nhà nghiên cứu người Nga như Văn học và các loại hình nghệ thuật của A.N Đimitriêva; Các loại hình nghệ thuật của V Kôginốp Đặc

biệt, trong những năm cuối của thế kỉ hai mươi, giáo sư triết học người Pháp,Francoise Jullien viết một công trình nghiên cứu về điểm tương đồng giữa hộihọa và thơ ca dựa trên tư tưởng và mĩ học Trung Hoa

1.2.1.2 Nghiên cứu tương quan thơ haiku và tranh mặc hội

Từ cơ sở mối tương đồng về tính giản đơn, mà trong tập sách nhỏ Hài cú nhập môn, tác giả Harold Henderson đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa thi

pháp hư không trong thơ haiku và khoảng trống không bạch trong tranh mặc

Trang 8

hội Donna Mann và Carol Beehler, hai nhà nghiên cứu viết chung trong công

trình Edo – Art in Japan 1615-1868 sự dung hợp giữa thơ ca và hội họa Nhật

Bản là nghệ thuật thi họa Đó là một hình thức nghệ thuật chịu ảnh hưởng sâu

đậm của Thiền Các công trình như Japanese art của Joan Stanley – Baker; The art of Japan của Elizabeth Benskin cũng chỉ ra: Thi họa là một hình thức đặc

biệt của nền văn nghệ Nhật Bản, hình thành vào khoảng từ thế kỉ thứ XII đến thếkỉ thứ XIV, và được tiếp tục phát triển dưới thời Edo, khi thể thơ haiku ra đời,dưới sự ảnh hưởng gần như xuyên suốt của Thiền tông

1.2.1.3 Nghiên cứu Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội

Các học giả phương Tây trong thế kỉ XX, như Keneth Kraft, AndrewJuniper, R H P Mason & J.G Caiger, C Eliot, nhìn chung, vẫn nêu lên cáchnhìn duy lí về Thiền và ảnh hưởng của Thiền đối với nghệ thuật Riêng Eugen

Herrigel, trong tập tiểu luận Thiền trong nghệ thuật bắn cung đã trình bày một

cách tiếp cận đối với văn hóa Thiền và nghệ thuật Thiền theo đúng tinh thầncủa nó: đó là tinh thần thực chứng Từ những công trình nghiên cứu trên, người

ta bước đầu chứng minh được những mối tương quan quan trọng về giữa Thiềnvới thơ haiku và tranh mặc hội trong dòng chảy văn hóa Nhật Bản

1.2.2 Ở Nhật Bản

1.2.2.1 Nghiên cứu mối tương quan thơ ca và hội họa

Giáo sư Okakura Kakuzo trong tập tiểu luận Ideals of the East đã chỉ ra ra

rằng, trong tiền đề về tính lưỡng lập của nền văn hóa nghệ thuật Nhật Bản, thơhaiku là đặc sản văn hóa của người Nhật và mặc hội là yếu tố du nhập từ nền

văn hóa nghệ thuật ngoại lai là Trung Hoa Tác phẩm Zen Brushwork của

Tanchu Terayama đã chỉ ra thư pháp là một ngành nghệ thuật chịu sự ảnh

hưởng sâu sắc của Thiền Các nhà nghiên cứu Nhật Bản khác như Takashima Shuji, Noriyoshi Tamaru, Noritake Tsuda cũng đã cung cấp những phân tích cụ

thể đối với những tác phẩm cụ thể thuộc nghệ thuật dung hợp giữa thơ ca, hộihọa và thư pháp

1.2.2.2 Nghiên cứu tương quan thơ haiku và tranh mặc hội

Nhà nghiên cứu Kenneth Yasuda, trong công trình nghiên cứu về hội họacủa Nhật Bản, một cũng chỉ ra đặc trưng và sức hấp dẫn mĩ học này của tranhmặc hội, đặc biệt là cảm giác giản đơn cô tịch trong tranh với sự tương đồng hết

sức đặc biệt với tính chất wabi và sabi trong thơ haiku Trong công trình nghiên

cứu của Ueda Makoto về thơ Basho, tác giả đã khẳng định: Cảm giác cô tịchchính là phong vị riêng trong thơ Basho Takashima Suji, khi nghiên cứu về

Trang 9

tranh của Koetsu, đê chỉ ra, thơ haiku vă tranh mặc hội, trong một tâc phẩm mẵng gọi lă nghệ thuật dung hợp

1.2.2.3 Nghiín cứu Thiền tính trong thơ haiku vă tranh mặc hội

Câc công trình nghiín cứu về Thiền ở ở Nhật Bản trong nhiều thập kỉ gđ̀nđđy hđ̀u hết đều có liín hệ với biểu hiện của Thiền trong nghệ thuật Trong

Thiền luận, tâc giả D T Suzuki đê khẳng định tđ̀m quan trọng của Thiền đối

với đời sống văn hóa, đời sống tinh thđ̀n của Nhật Bản nói chung, vă của ÂĐông nói riíng, cũng như nhấn mạnh đến yếu tố kinh nghiệm câ nhđn củaThiền Luận điểm năy được triển khai xuyín suốt trong câc công trình khâc của

ông như: Thiền vă văn hóa Nhật Bản, Thiền học nhập môn, Thiền-Phâp môn vô niệm.v.v Tập tiểu luận Tră đạo của Okakura Kakuzo băn rất rõ về mối tương

quan giữa Thiền, hội họa vă thơ ca vă câc ngănh nghệ thuật khâc như cung đạo,tră đạo trong văn hóa nghệ thuật ở Nhật Bản

1.2.3 Ở Việt Nam

1.2.3.1 Nghiín cứu mối tương quan thi họa

Mối tương quan giữa thơ ca vă hội họa nói chung, đê được quan tđmnghiín cứu ở Việt Nam trong những năm gđ̀n đđy Câc công trình tiíu biểu có

thể kể đến như: Văn học vă câc loại hình nghệ thuật của tâc giả Lí Lưu Oanh Giâo trình Lí luận văn học tập I, do Phương Lựu chủ biín cũng có đề cập đến

sự tương đồng vă khâc biệt giữa văn học vă hội họa Đâng chú ý trong nhómcâc công trình nghiín cứu ở Việt Nam về vấn đề mối liín quan giữa thơ ca vă

hội họa, ta còn có thể kể đến công trình nghiín cứu Vương Duy vă Buson –

“Thi trung hữu họa” của tâc giả Nguyễn Thị Nguyệt Trinh Trong công trình

năy, tâc giả đê xem xĩt mối liín hệ giữa thơ ca vă hội họa như một đặc trưng cơbản của mĩ học phương Đông

1.2.3.2 Nghiín cứu tương quan thơ haiku vă tranh mặc hội

Những công trình nghiín cứu về thơ haiku vă tranh mặc hội ở Việt Namhiện nay hđ̀u hết đều mang tính chuyín sđu trong từng lĩnh vực Về thơ haiku,

có thể kể đến câc công trình tiíu biểu như: Giâo trình Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Cđu chuyện văn chương phương đông của tâc giả Nhật Chiíu; Hợp tuyển văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến giữa thế kỉ XIX của tâc giả Mai

Liín Về tranh thủy mặc, hay tranh mặc hội, ở Việt Nam hiện nay có những

công trình tiíu biểu như: Tổng quan nghệ thuật Đông phương – Hội họa Trung Hoa của Khải K Phạm, Trương Cam Khải, Hoăi Anh vă Nguyễn Thănh Tống

vă Hội họa cổ Trung Hoa, Nhật Bản của Hoăng Công Luận, Lưu Yến

Trang 10

1.2.3.3 Nghiên cứu Thiền tính trong thơ haiku và tranh mặc hội

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Thiền trong tranh mặc hộichưa được công bố nhiều Chủ yếu vẫn là các công trình nghiên cứu về tươngquan giữa Thiền và thơ trong văn hóa phương Đông nói chung và trong văn hóa

Nhật Bản nói riêng như: Thi pháp thơ Đường của tác giả Nguyễn Thị Bích Hải; Nhật Bản trong chiếc gương soi của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu; Nhật Bản từ

mĩ học đến văn chương, tác giả Nguyễn Phương Khánh.

Chương 2 CẢM THỨC THẨM MĨ THIỀN TRONG THƠ HAIKU VÀ TRANH MẶC HỘI 2.1 Khái niệm cảm thức thẩm mĩ Thiền

Bigaku (美学) là khái niệm được hình thành từ thời Edo, tương ứng vớikhái niệm Aesthetic của phương Tây Khái niệm này nêu lên một dạng nhậnthức về cái mà trong đó có sự ảnh hưởng một cách tổng hòa giữa các yếu tố vănhóa, nghệ thuật và tôn giáo mang màu sắc Nhật Bản Một trong những yếu tố

tôn giáo ấy chính là Thiền với những yếu tố như sabi, wabi, yugen - là những

cảm thức về cái đẹp của sự u huyền, tịch tĩnh và vẻ đẹp đơn sơ, mộc mạc

Thiền từ lâu đã thâm nhập vào nhiều phương diện trong đời sống văn hóaNhật Bản đến mức nó không chỉ tồn tại như một tông phái của Phật giáo tạiquốc gia này, mà như một thuộc tính văn hóa và tâm linh, mang đậm dấu ấn củatinh thần và phong cách Nhật Bản Rất nhiều tác phẩm thơ ca và hội họa NhậtBản đã trở thành biểu hiện nghệ thuật cụ thể sinh động của tinh thần Thiền, thởhơi thở của Thiền

Các khái niệm wabi, sabi và yugen, cố nhiên, thuộc về các phạm trù mĩhọc Nhật Bản Các cảm thức này đều có lịch sử hình thành cụ thể Cảm thứcthẩm mĩ yugen hình thành vào thời kì Kamakura (1192 – 1333); cảm thức thẩm

mĩ wabi và sabi được hình thành vào thời kì Muromachi (1333 – 1603) Đây làcác phạm trù mĩ học mang đậm bản sắc dân tộc, có nguồn gốc từ Shinto –Thầnđạo, một tôn giáo cổ của Nhật Bản, nhưng nhìn vào thời gian xuất hiện của cácphạm trù thẩm mĩ trên, ta thấy một sự thực rõ ràng rằng, chúng xuất hiện gầnnhư cùng một lúc với sự xuất hiện của Thiền tông trên đất nước Phù Tang

Phật giáo từ Trung Hoa truyền sang Triều Tiên và Nhật Bản vào khoảngthế kỉ thứ VI Thiền tông được xác định là hiện diện ở Nhật Bản còn muộn hơnnữa: Khoảng thế kỉ thứ XII, với các tên tuổi văn hóa lớn như Thiền sư Eisai,(Vinh Tây: 1141-1216); Thiền sư Dogen (Đạo Nguyên:1200-1253); Thiền sư

Trang 11

Muju (Vô Trú: 1226-1312) Nói về Shinto, hay Thần đạo, ta thấy, mặc dù thuậtngữ Shinto chỉ xuất hiện ở Nhật Bản vào khoảng giữa thế kỉ thứ VI, nhưng,theo Murakami Shigeyoshi, tôn giáo này đã ra đời ở Nhật Bản vào thời kì đồ

đá, và chứng cứ xác thực cho kết luận này là tượng một người phụ nữ mang dấu

ấn tôn giáo của Shinto đã được phát hiện ở khu di tích Kamikuroiwa tỉnhEhime, thuộc thời kì đầu kỉ nguyên Jomon (8000 TCN – 300 TCN) Thần đạo

có ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộcNhật Bản cho đến tận thời kì hiện đại

2.2 Cảm thức wabi (giản phác) trong thơ haiku và tranh mặc hội

2.2.1 Khái niệm wabi

Tinh thần wabi trong thơ haiku thể hiện trước hết ở sự giản đơn của cáchình ảnh, sự vật Về mặt nguyên tắc thẩm mĩ mà nói, sự hiện diện của cái đẹp làkhông có giới hạn Chính ở cái nhìn, cách cảm nhận của tác giả đã phát hiện racái đẹp, dù ở đâu, trong sự vật nào

2.2.2 Thiên nhiên giản dị, đơn sơ và con người chất phác, mộc mạc

Những họa sĩ mặc hội theo Thiền phái, thường chọn những đề tài rất đờithường và đời thực để tái hiện trong tác phẩm của mình, nhằm thông qua đó,biểu đạt tinh thần Thiền Tranh nhân vật trong mặc hội, cũng giống như phongcảnh hay hoa điểu, luôn thấm đẫm tinh thần của sự giản đơn Con người trongmặc hội Thiền phái luôn được biểu hiện với sự chất phác bên trong và sự gầngũi, thân thuộc trong phong cách biểu hiện bên ngoài

Như vậy, đứng về phương diện cảm thức thẩm mĩ, cả thơ haiku cổ điển

và tranh mặc hội Nhật Bản đều có chung một đặc điểm: khả năng phát hiện cáiđẹp ở những sự vật thường tình đơn giản nhất Đây cũng chính là tâm ý củaThiền

2.2.3 Sự giản lược ngôn từ ở thơ haiku và chất liệu đơn sơ trong tranh mặc hội

Tinh thần wabi thể hiện ở chất liệu Chất liệu của thơ haiku là ngôn từ.Ngôn từ là chất liệu phi thực thể Chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc,giấy bút và mực Đường nét, màu sắc vừa mang tính thực thể vừa phi thực thể.Giấy bút mực là chất liệu mang tính thực thể Vậy, dị biệt trong tinh thần wabicủa thơ haiku và tranh mặc hội trước hết, nằm ở sự khác biệt trên phương diệnchất liệu

Thực vậy, trong thơ haiku, cảm thức thẩm mĩ này được biểu hiện bởi sựđơn giản của ngôn từ và sự giản dị của hình ảnh, nhịp điệu Trong tranh mặc

Trang 12

hội, cảm thức thẩm mĩ wabi biểu hiện trước hết ở mặt chất liệu và màu sắc:tranh bao giờ cũng chỉ gồm hai màu đen trắng, với hình ảnh đơn sơ, giản lượcđến cực hạn, và chất liệu thì chỉ bằng giấy mực, với sự mong manh tạm bợ màhàm chứa màu sắc triết lí về sự vô thường của nó Thế nên một bức tranh mặchội, hướng đến sự vận động nhiều hơn là tĩnh tại, đặc tính của vô thường, chỉ cóthể hiển hiện rõ nhất trong sự vận động, và sự động, đến phiên nó, lại hàm chứatinh thần wabi.

Thơ ca, là nghệ thuật của ngôn từ, nên dù là những tác phẩm thơ kiệm lời,

nó vẫn cho phép tác giả trình bày những ý niệm trừu tượng một cách trực tiếpbằng chất liệu được sử dụng để sáng tạo nên loại hình nghệ thuật này, là ngôn

từ Trong khi đường nét và màu sắc, vốn là chất liệu của tranh mặc hội, lạikhông cho phép tác giả trực tiếp đề cập đến những ý niệm trừu tượng Cùngbiểu đạt một sự vật hiện tượng, nhưng tinh thần wabi của một bức tranh khôngnằm ở ý niệm trừu tượng do ngôn từ chuyển tải như trường hợp một bài thơ, mà

ta có thể cảm nhận tính chất của nét bút: cầu kì, công phu hay thẳng thắn, dứtkhoát, để minh bạch về tinh thần của nó Tinh thần wabi của tác phẩm trên thểhiện qua đường nét chắc chắn, không phân vân lưỡng lự Sự đơn giản củađường nét đã ứng hợp một cách hoàn hảo với sự đơn giản của nội dung bứctranh và từ trong sự cộng hưởng này, vẻ đẹp wabi được cấu thành

Cũng nằm trong trường ý niệm về vẻ đẹp của sự giản đơn, cả thơ haiku vàtranh mặc hội đều trình bày cho người thưởng giám nghệ thuật một ấn tượng thịgiác từ một cái nhìn vô tâm Đó chính là cái nhìn đầy Thiền tính Nhưng ấntượng thị giác này khi đi vào thơ haiku và khi đi vào tranh mặc hội cũng rấtkhác nhau Trong thơ haiku, hình ảnh của sự vật có thể được tuyệt đối hóa Gọi

là tĩnh vật tuyệt đối bởi vì đấy là một hình ảnh phi hình dạng, nó không bị giớihạn bởi một hình ảnh cụ thể nào

Một bức tranh khác với một bài haiku Hình ảnh trong tranh nhận lấy mộtsắc thể dạng hình cố định, bất biến được tái hiện kèm theo một bối cảnh cụ thể,nhưng điều mà nó gợi ra, chính là thần thái, là sức sống, là cái vượt ra ngoàigiới hạn của hình, điều này được khơi dậy thông qua cách vẽ của tác giả

2.3 Cảm thức sabi (tịch tĩnh) trong thơ haiku và tranh mặc hội

2.3.1 Khái niệm sabi

Theo từ điển Dagenkai, nguồn gốc đầu tiên của thuật ngữ sabi là động từnghĩa là hoang vắng, thô ráp Theo đó, có các từ sabushiki và sappukei, với hàmnghĩa thiếu sự quyến rũ, khó chịu Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy tính từ

Trang 13

sabushi hoang vắng, yên lặng, gợi cho chúng ta ý niệm về sự cô độc của đờisống Tuy nhiên, từ sabi/sabu cũng liên quan đến các kí tự với ý nghĩa già đi, cũ

2.3.1 Không gian cô tịch, hoang sơ

Trong nhiều tác phẩm thơ haiku, tác giả đã không cho thấy sự hiện diệncủa con người trong tác phẩm Những tác phẩm này rất gần với thơ sơn thủycủa Trung Hoa Cái thấy này phải là cái thấy của sơ tâm, cái thấy uyên nguyênchưa bị óc phân biệt chia chẻ giữa chủ thể và đối thể xen vào Mặt khác, hộihọa là nghệ thuật của sự vô thanh, nên xét ra, về bản chất, hội họa đã ngầmchứa một khía cạnh, một phương diện nào đó của sự tịch liêu Trong tranh mặchội, thì tịch liêu, không chỉ là phẩm chất mà đôi khi còn là đối tượng biểu đạtcủa tác phẩm

Có thể nói, trong thơ haiku và tranh mặc hội, sự tĩnh lặng là thống nhấttrọn vẹn từ nội tâm, đến ngoại cảnh

2.3.2 Tinh thần tịch liêu trong thơ haiku và tính vô thanh của tranh mặc hội

Biểu hiện về cảm giác sabi trong thơ haiku chủ yếu ở sự lắng đọng xúccảm mà bài thơ tạo ra Khác với thơ haiku, trong tranh mặc hội, người nghệ sĩkhó lòng có thể miêu tả âm thanh để làm nổi bật sự im vắng của không gian.Tuy nhiên, tác phẩm tranh mặc hội, bằng sự đơn giản của các nét vẽ đã thu húttất cả sự tĩnh lặng vào bên trong mình và từ sự tĩnh mịch đó, nó để cho hơi thởcủa sự sống nhẹ nhàng trỗi lên

Để khắc họa cảm giác cô đơn tịch liêu, các nhà thơ haiku có thể sử dụngđến những hình ảnh mang tính biểu tượng Trong tranh mặc hội, tuy không cóđược lợi thế của việc sử dụng những biểu tượng mang tính ý niệm như trongthơ ca, nhưng để khắc họa nỗi cô liêu, người nghệ sĩ lại có thể tận dụng nghệthuật phối cảnh không gian của nghệ thuật tạo hình

Tính không, hay Vô, cũng được tranh mặc hội có một phương thức đểbiểu đạt riêng so với thơ haiku Đó là các họa sĩ thường xuyên sử dụng các “lạckhoản” Từ “lạc khoản” ở đây tương đương với từ yohaku trong tiếng Nhật.Một bức tranh, dù là tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật, hay tranh nhân vật, toàn

bộ bức tranh đều có xu hướng được vẽ kín bởi các chi tiết Vì người ta quanniệm nếu còn một chỗ nào trên bức tranh không được vẽ, thì toàn bô bức tranhđược xem như là chưa hoàn thành

2.4 Cảm thức yugen (u huyền) trong thơ haiku và tranh mặc hội:

Ngày đăng: 03/10/2022, 10:23

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w