Trả lời cho câu hỏi này, tác giả đã thực hiện nghiên cứu: Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2013 để làm luận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của mình
Trang 1-�ω� -LÊ THỊ TRANG NHUNG
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA GIÁ DẦU VÀO LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 -
2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 09 NĂM 2013
Trang 2
-�ω� -LÊ THỊ TRANG NHUNG
MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA GIÁ DẦU VÀO LẠM
PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 – 2013
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Thơ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đề tài “MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA GIÁ DẦU VÀO
LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 – 2013“ là công trình nghiên cứu của
tôi, dưới sự hướng dẫn từ GS.TS Trần Ngọc Thơ Các nội dung và kết quả trongluận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệucủa các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác, và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗitrích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcHội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tác giả
Lê Thị Trang Nhung
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Ngọc Thơ đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy cô đã truyền đạt kiến thức trong suốt các khóa học
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Lê Thị Trang Nhung
Trang 5MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.1 Phương pháp hồi qui tuyến tính 5
1.1.2 Phương pháp VAR 9
1.2 Các nghiên cứu về mức độ truyền dẫn vào lạm phát tại Việt Nam 12
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn 13
1.3.1 Môi trường lạm phát của nền kinh tế 13
1.3.2 Độ chênh sản lượng (output gap 14
1.3.3 Biến động giá dầu 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2 17
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA GIÁ DẦU VÀO LẠM PHÁT VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH ECM 17
2.1 Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2013 17
2.1.1 Mô hình nghiên cứu 17
2.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 19
2.1.3 Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình 19
2.1.4 Kiểm định nghiệm đơn vị 19
2.1.5 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 20
2.1.6 Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johasen 21
2.1.7 Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát trong dài hạn 22 2.1.8 Mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn: mô hình hiệu chỉnh sai số ECM 23
Trang 62.2.1 Giai đoạn giá dầu biến động mạnh 26
2.2.2 Giai đoạn giá dầu cao 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 29
CHƯƠNG 3 ………30
XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀO LẠM PHÁT VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH VAR 30
3.1 Mô hình nghiên cứu 30
3.2 Dữ liệu và các bước thực hiện 31
3.3 Kiểm định nghiệm đơn vị 32
3.4 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 32
3.5 Kiểm định Granger 33
3.6 Hàm phản ứng xung 34
3.7 Phân rã phương sai 36
3.8 Tác động không đối xứng (Asymmetric) của giá dầu 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 41
KẾT LUẬN CHUNG 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 1 45
PHỤ LỤC 2: 46
PHỤ LỤC 3: 46
PHỤ LỤC 4: 47
PHỤ LỤC 5: 48
PHỤ LỤC 6: 48
PHỤ LỤC 7: 48
PHỤ LỤC 8 49
PHỤ LỤC 9: 50
Trang 7PHỤ LỤC 12 55 PHỤ LỤC 13 59
Trang 8- ADF: Augmented Dickey-Fuller
- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
- OPGAP: Độ chênh sản lượng
- OIL: Giá dầu thế giới
- ECM: Error correction model
- VAR: Vector Autoregression Model
- SRPT: Mức độ truyền dẫn của giá dầu trong ngắn hạn (short-run pass through)
- GOS: Tổng cục thống kê Việt Nam
- IFS: Thống kê tài chính
- IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
- IP: Sản lượng công nghiệp
- M2: Lượng cung tiền
- R: Lãi suất ngắn hạn liên quan đến chính sách tiền tệ
- P-P: Phillips - Perron
- VN: Việt Nam
Trang 9- Bảng 2.2: Bảng độ trễ tối ưu
- Bảng 2.3: Kết quả kiểm đồng liên kết theo phương pháp Johasen
- Bảng 2.4: Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát trong dài hạn
- Bảng 2.5: Độ lớn mức truyền dẫn giá dầu theo nghiên cứu của Chou, Tseng (2011)
- Bảng 2.6: Kết quả kiểm định tính dừng của giá trị EC trong phương trình (3)
- Bảng 2.7: Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM
- Bảng 2.8: Giá dầu biến động mạnh và đường Phillips
- Bảng 2.9: Giai đoạn giá dầu cao và đường Phillips
- Bảng 3.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến trong phương trình (7)
- Bảng 3.2: Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR
- Bảng 3.3: Kết quả kiểm định Granger
- Bảng 3.4: Phản ứng tích lũy của biến động giá dầu
- Bảng 3.5: Kiểm định nghiệm đơn vị trong chuỗi thay đổi giá dầu
- Bảng 3.6: Kiểm định Granger với CPI và chuỗi giá dầu chuyển đổi
DANH MỤC HÌNH VẼ
- Hình 1: Biến động giá dầu thế giới và lạm phát Việt Nam từ M1 2001-M6 2013
- Hình 2: Hàm phản ứng xung của cú sốc giá dầu OIL
- Hình 3: Phân rã phương sai của GDP và CPI
- Hình 4: Phản ứng xung của CPI và O+
- Hình 5: Phản ứng xung của CPI và O
Trang 10là 97$/thùng vào năm 2008 cũng là giai đoạn lạm phát tại Việt Nam đạt mức caonhất (19,95%/năm); giai đoạn tiếp theo giá dầu thế giới đi xuống cũng trùng khớpvới mức đi xuống của lạm phát Việt Nam Chính vì vậy, tác giả dựa theo bài nghiêncứu của Chou,Tseng (2011) và Du và cộng sự (2010) để đo lường mức độ truyềndẫn của giá dầu vào lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2001-2013.
Hình 1 : Giá dầu thô thế giới và lạm phát Việt Nam
(Nguồn: IFS)
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào lượng xuất khẩu dầu thô.Việt Nam xuất khẩu khoảng 8-10 triệu tấn dầu thô hàng năm, chiếm khoảng 6-8%doanh số xuất khẩu, đóng góp khoảng 18-20% sản lượng GDP hàng năm, đóng góp25% tổng thu ngân sách Nhà nước Trong khi đó, tiêu dùng năng lượng lại phụthuộc hoàn toàn vào lượng nhập khẩu xăng dầu thành phẩm Từ năm 2009 ViệtNam đã sản xuất được xăng dầu thành phẩm từ nhà máy lọc dầu Dung Quất, ngày
22 tháng 2 năm 2009 nhà máy đã cho ra lò dòng sản phẩm đầu tiên Tuy nhiên,công suất thiết kế của nhà máy mới chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trênthị trường Vì vậy nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào lượng nhập khẩuxăng dầu và biến động giá xăng dầu trên thế giới
Trong khi đó, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất so vớicác nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á Lạm phát năm 2008 của Việt Nam lênđến 19,95%/năm, đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ năm 2000 Mặt khác, giá xăngdầu liên tục gia tăng trong giai đoạn gần đây, điều này ảnh hưởng không nhỏ đếnđời sống người dân Thực tế tại Việt Nam, mỗi lần khi giá xăng dầu tăng thì giá cácmặt hàng tiêu dùng khác tự động tăng theo Liệu giá xăng dầu thế giới có mối liên
hệ gì không với lạm phát tại Việt Nam? Trả lời cho câu hỏi này, tác giả đã thực
hiện nghiên cứu: Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát Việt Nam trong
giai đoạn 2001 – 2013 để làm luận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của mình.
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam
- Độ chênh sản lượng (Output gap)
- Giá dầu thô thế giới
Phạm vi nghiên cứu: dữ liệu từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 6 năm 2013
Trang 123 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên số liệu thực tế thu thập được tác giả so sánh với mục tiêu
- Phương pháp mô hình hoá: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ những phân tích định tính bằng các hình vẽ cụ thể để vấn đề trở nên dễ hiểu hơn;
- Phương pháp phân tích kinh tế lượng:
+ Tác giả sử dụng mô hình ECM để đo lường mức độ truyền dẫn trongngắn hạn từ 2001 - 2013
+ Tác giả sử dụng mô hình đường cong Phillips để đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn từ 2001 – 2013
+ Tác giả sử dụng mô hình VAR để xem xét mức độ tác động của giádầu lên chỉ số CPI từ 2001 – 2013
4 Dữ liệu nghiên cứu
Trong luận văn tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn dữ liệu: Tổng cụcthống kê Việt Nam (GSO), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB),Ngân hàng phát triển Châu Á trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2013
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm các phần sau:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
- Chương 2: Đo lường mức độ truyền dẫn của giá dầu lên lạm phát Việt Nam trong giai đoạn từ 2001-2013 theo mô hình ECM
- Chương 3: Xem xét mức độ tác động của giá dầu lên lạm phát Việt Nam trong giai đoạn từ 2001-2013 theo mô hình VAR
6 Những đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn đã cung cấp phương pháp hồi quy tuyến tính bằng mô hình ECM để đo lường mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn
Trang 13- Thứ hai, tác giả dùng thêm mô hình VAR để xem xét mức độ tác động củagiá dầu lên CPI.
- Hiểu được mối quan hệ thực tế giữa giá dầu và tỷ lệ lạm phát giúp nhà điềuhành chính sách giữ lạm phát ở mức kiểm soát và điều tiết chính sách vớinhững cú sốc này
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Phương pháp hồi qui tuyến tính
Hamilton (1996): Khi xem xét tăng giá dầu trong quá khứ, tác giả thấy có tương
quan giữa giá dầu và suy thoái kinh tế Hầu hết sự gia tăng trong giá dầu kể từ năm
1986 ngay lập tức kéo theo sự sụt giảm Suy thoái kinh tế Mỹ bắt nguồn từ việc giádầu tăng trong chiến tranh Iran-Iraq vào năm 1980 Giá dầu tăng có tác động nhỏhơn tới nền kinh tế sau năm 1973 Khi Iraq xâm lược Kuwwait vào năm 1990 thìbiến động giá dầu là nguyên nhân gây ra suy thoái Thời gian gần đây, tình hình bất
ổn ở Trung Đông là nguyên nhân chính tác động đến nguồn cung dầu và gây ra suythoái tại Mỹ
Barsky, Kilian (2004): Nhận định một sự gia tăng trong giá dầu đưa tới sự suy
thoái, thời kỳ lạm phát cao, giảm sản lượng và tăng trưởng kinh tế thấp Tác giảxem xét vai trò trung tâm của biến động giá dầu trong việc giải thích biến động củanền kinh tế vĩ mô; sử dụng biến động giá dầu khi đánh giá nền kinh tế Mỹ; biếnđộng giá dầu có thể là nguyên nhân giải thích cho lạm phát đình đốn (stagflation)
Rõ ràng có mối quan hệ giữa thực hiện chính sách ở Trung Đông và sự thay đổi củagiá dầu sẽ tác động tới nền kinh tế Mỹ Chính trị tại Trung Đông là một trong nhữngyếu tố gia tăng giá dầu với những biến động trong nhu cầu thị trường dầu và điềukiện nền kinh tế toàn cầu Có sự phù hợp giữa thời gian gia tăng giá dầu và suy
Trang 15thoái Biến động giá dầu không những cần thiết mà còn hiệu quả trong việc giảithích lạm phát đình đốn với GDP thực và cả chỉ số giảm phát GDP Cuối cùng, biếnđộng của giá dầu ít có tác động đến nền kinh tế Mỹ như chúng ta nghĩ.
Chou, Tseng (2011): Tác giả nghiên cứu truyền dẫn giá dầu vào lạm phát CPI ở 12
quốc gia Châu Á mới nổi gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Jordan, HànQuốc, Malaysia, Pakistan, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ bằng môhình đường Phillips Kết quả cho thấy truyền dẫn dài hạn có ý nghĩa với lạm phátCPI ở hầu hết các nước, truyền dẫn ngắn hạn thì không có ý nghĩa Trong dài hạntruyền dẫn ở Thổ Nhĩ Kỳ là cao nhất 0.273, thấp hơn ở khu vực Đông Nam Á(Indonesia là 0.021,Hàn Quốc 0.093, Malaysia 0.001,Philippines 0.072 và Đài Loan0.053)
Để đo lường mức truyền dẫn trong ngắn hạn, tác giả nghiên cứu trên hai khía cạnh:
cú sốc giá dầu biến động mạnh và thời kỳ giá dầu cao, rõ ràng hệ số truyền dẫntrong ngắn hạn thì cao hơn trong suốt thời kỳ giá dầu cao Hệ số truyền dẫn trungbình ở 12 nước là 0.0129 trong thời kỳ giá dầu cao và –0.0047 trong giai đoạn cònlại Điều này thể hiện sự bất đối xứng trong truyền dẫn ngắn hạn của giá dầu, và chỉ
ra rằng giá dầu cao đóng góp đáng kể áp lực lên lạm phát
De Gregorio, Landerretche, Neilson (2007): Tác giả tìm ra bằng chứng về sự sụt
giảm trong truyền dẫn giá dầu suốt 30 năm qua Đầu tiên, tác giả đánh giá ảnhhưởng của giá dầu bằng đường cong Phillip với cú sốc cấu trúc xảy ra ở 34 nướcgồm 24 nước công nghiệp và 12 nước mới nổi Kết quả cho thấy có sự sụt giảmbình quân trong truyền dẫn ở hầu hết các nước công nghiệp và mức nhỏ hơn ở cácnước mới nổi Thứ hai, bằng đánh giá rolling VARs với các mẫu thời gian khácnhau từ 1960-1974 để kiểm tra tính hiệu quả dữ liệu, tác giả thấy tác động của cúsốc giá dầu vào lạm phát thì yếu hơn hầu hết ở 12 nước trong 24 tháng Điều này cóthể giải thích là do sụt giảm biến động dầu trong nền kinh tế toàn cầu, sự giảm trongtruyền dẫn tỷ giá, môi trường lạm phát thấp, tác động của giá dầu hiện tại thì lớn donhu cầu tiêu dùng mạnh
Cú sốc cấu trúc được xác định xảy ra vào năm 1980 sau cú sốc dầu mỏ ở Iran, ướctính truyền dẫn giảm từ 0.15 tới 0.03 Nghĩa là, trước năm 1980 100% gia tăng
Trang 16trong giá dầu làm lạm phát tăng 15% Sau năm 1980, với cú sốc tương tự làm lạmphát tăng ở các nước công nghiệp chỉ còn 3% Tại Mỹ mức sụt giảm truyền dẫn là
từ 0.07 xuống 0.03 sau năm 1981
Khi kiểm soát độ mạnh của dầu, tác giả nhận thấy sự sụt giảm trong hoạt động kinh
tế, từ đó giúp giải thích tác động hạn chế của biến động giá dầu gần đây vào lạmphát Do đó, sự sụt giảm truyền dẫn dầu được giải thích bởi sự sụt giảm truyền dẫn
tỷ giá và giảm độ mạnh của dầu Tuy nhiên, khi kiểm soát các yếu tố trên thì phầnsụt giảm trong truyền dẫn vẫn không giải thích được Giá dầu gần đây cao có thể là
do cầu nhiều hơn cung
Hooker (2002): dựa trên mô hình của Fuhrer (1995) tác giả nghiên cứu truyền dẫn
giá dầu bằng mô hình đường Phillips với dữ liệu từ 1962:Q2 đến 2000:Q1 Tác giảxác định cú sốc cấu trúc trong lạm phát cơ bản của Mỹ và cho thấy tác động của giádầu là đáng kể trước năm 1981, nhưng kể từ đó truyền dẫn là không đáng kể.Nhưng lý thuyết đường cong Phillip đã bỏ qua bằng chứng là giá dầu thì không đốixứng và phi tuyến, cũng như những bất ổn trong cấu trúc này Chính sách tiền tệ ítđiều tiết đối với biến động giá dầu trong giai đoạn từ năm 1979, nhưng có thể giúptạo ra một chế độ nơi mà lạm phát ít nhạy cảm với những cú sốc giá dầu
Sự thay đổi của thị trường năng lượng và biến động nền kinh tế Mỹ những năm
1980 đưa ra một số giải thích cho sự sụt giảm mạnh của truyền dẫn Sự sụt giảmmức độ năng lượng không phải là nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm trongtruyền dẫn ở Mỹ Nếu bỏ qua yếu tố năng lượng tiêu dùng và sản xuất là nhân tốquan trọng thì sự sụt giảm truyền dẫn tập trung vào giá năng lượng, nhưng bằngchứng cho thấy sự sụt giảm truyền dẫn cũng bắt nguồn từ biến động giá các mặthàng khác trong giai đoạn này Giống như Taylor’(2000) sự sụt giảm truyền dẫn bắtnguồn từ môi trường lạm phát thấp là kết quả của thay đổi chính sách tiền tệ, nhưngkhông thể loại trừ khả năng truyền dẫn được hãm bởi các yếu tố khác
Chen (2009): Nghiên cứu truyền dẫn giá dầu vào lạm phát tại 19 nước công nghiệp
(Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Nhật Bản, HàLan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Anh và Mỹ) tronggiai đoạn từ Q2:1962-Q1:2000 bằng mô hình đường Phillips để trả lời cho câu hỏi:
Trang 17(1) Truyền dẫn giá dầu thay đổi như thế nào theo thời gian, (2) có phải sự sụt giảmtruyền dẫn xảy ra ở các nước đã phát triển, (3) những yếu tố nào tác động đến sựthay đổi của truyền dẫn?.Tác giả xem xét: (1): sự thay đổi trong truyền dẫn trướcđây bằng tiếp cận state space để tính toán sự thay đổi từ từ của truyền dẫn giá dầuvào CPI (2): Sử dụng dữ liệu đánh giá tổng thể mức truyền dẫn và xem xét các giảthuyết cho sự thay đổi này.
Kết quả cho thấy trong dài hạn 100% giá dầu tăng sẽ làm lạm phát gia tăng 17%.Truyền dẫn giá dầu trong ngắn hạn trung bình là 0.004925 cao hơn trong dài hạn ởtất cả các nước, ngoại trừ Bồ Đào Nha Dữ liệu từ 1960-2004 còn cho thấy quốc gianhập khẩu nhiều năng lượng có xu hướng truyền dẫn cao hơn Các quốc gia Châu
Âu có mức truyền dẫn cao hơn Mỹ Tác giả đưa ra bằng chứng sự thay đổi trongtruyền dẫn giá dầu từ năm 1970, sự truyền dẫn xảy ra từ từ và có sự sụt giảm trongtruyền dẫn (trung bình 69,772%) ở hầu hết các nước Những yếu tố liên quan đến sựsụt giảm này gồm: (1)Môi trường lạm phát thấp, (2)Thị phần tiêu dùng năng lượngtrong nền kinh tế, (3)Vai trò của biến động tỷ giá, (4)Độ mở giao thương, (5)Vai tròđiều tiết của chính sách tiền tệ
Sự gia tăng đồng tiền trong nước, chính sách tiền tệ linh hoạt, độ mở giao dịch lớn
là nguyên nhân chính đưa đến sự sụt giảm trong truyền dẫn giá dầu Ngoài ra, độlớn của năng lượng có thể giữ vai trò chính trong việc đánh giá truyền dẫn theo thờigian Cuối cùng, trái với Taylor (2000’), tác giả thất bại trong kết luận môi trườnglạm phát thấp có thể mức truyền dẫn thấp hơn
Tác giả kết luận truyền dẫn là khác nhau giữa các nước và có tương quan dương vớinăng lượng nhập khẩu
Bằng chứng qua các bài nghiên cứu trên là truyền dẫn giá dầu vào lạm phát thay đổitheo thời gian
Taylor (2000): Có sự sụt giảm đáng kể trong mức độ truyền dẫn chi phí vào giá của
các công ty, đó là do sự sụt giảm trong quyền định giá của các công ty và có liênquan đến sự sụt giảm trong lạm phát ở nhiều nước Sự sụt giảm có ý nghĩa quantrọng đối với chính sách tiền tệ bởi vì nó ảnh hưởng đến dự báo về lạm phát và ảnhhưởng của những thay đổi trong chính sách tiền tệ đối với lạm phát Tác giả cho
Trang 18rằng sự sụt giảm trong truyền dẫn hoặc quyền định giá là do môi trường lạm phátthấp mà gần đây đã đạt được trong nhiều quốc gia Lạm phát thấp và chính sách tiền
tệ đã đưa đến giảm pass-through thông qua việc giảm trong thay đổi chi phí và giá
dự kiến Mô hình giải thích truyền dẫn tỷ giá rất thấp kể từ những năm 1990 ởnhững nước có lạm phát thấp Mô hình thực nghiệm cũng cho thấy ảnh hưởng củamức kỳ vọng trên truyền dẫn là đáng kể khi xét quan hệ giữa tổng sản lượng và mứcgiá
1.1.2 Phương pháp VAR
Blanchard, Gali (2007): Để giải thích sự khác biệt biến động giá dầu trong nền
kinh tế giữa năm 1970 và năm 2000, tác giả sử dụng mô hình VAR cấu trúc với dữliệu ở các nước công nghiệp (Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Ý và Nhật Bản) với 6 biến đolường gồm giá dầu, lạm phát CPI, chỉ số lạm phát GDP, lạm phát tiền lương, log sựthay đổi trong GDP và việc làm Tập trung vào những tác động khác nhau của biếnđộng giá dầu vào lạm phát và hoạt động kinh tế theo thời gian Đưa ra 4 giả thiết tácđộng đến biến động giá dầu: sự thay đổi tự nhiên của giá dầu, thành phần dầu chiếm
tỷ lệ nhỏ trong sản xuất, thị trường lao động biến động linh hoạt, đổi mới của chínhsách tiền tệ và cả bốn giả thiết đều đóng một vai trò quan trọng Có biến độngngược vào những năm 1970, giá dầu chỉ giải thích một phần trong lạm phát đìnhđốn Tác động của biến động giá dầu thì sụt giảm theo thời gian
Tại Mỹ trước năm 1984 lạm phát CPI thay đổi tức thì và duy trì dương một thời kỳ; lạm phát GDP và tiền lương thì tương tự Sản lượng và việc làm sụt giảm liên tục mặc dù với một độ trễ Giai đoạn sau năm 1984, tác động của biến động giá dầu yếuhơn Tại Pháp sự khác biệt trong giai đoạn trước và sau thể hiện ở cả giá và sản lượng Ở Anh kết quả biến lạm phát không tồn tại ở giai đoạn sau, có một vài bằng chứng cho thấy có sự sụt giảm trong sản lượng và việc làm (mặc dù nhỏ hơn giai đoạn đầu) Có sự gia tăng nhẹ trong sản lượng và việc làm thời kỳ sau 1984 ở Đức Trước năm 1984 ở Ý có ít việc làm hơn Tại Nhật, ảnh hưởng tới lạm phát yếu và không rõ ràng ở cả hai thời kỳ
Trang 19Tác giả tập trung vào ba thành phần thay đổi trong nền kinh tế Thứ nhất, vào năm
1970 công đoàn hoạt động mạnh và tiền lương cao hơn năm 2000 Thứ hai, xem xétvai trò của chính sách tiền tệ Cuối cùng, tác giả xem xét số lượng tiêu dùng dầutrong nền kinh tế, sự gia tăng giá dầu đưa đến các sản phẩm thay thế và giảm thịphần dầu trong tiêu dùng và sản xuất
Kết luận của tác giả gồm năm ý chính sau:
Đầu tiên, những tác động của cú sốc giá dầu phải trùng hợp thời gian với những cúsốc lớn có tính chất khác nhau Bằng chứng là việc gia tăng giá cả hàng hóa khác làquan trọng trong những năm 1970
Thứ hai, các tác động của các cú sốc giá dầu đã thay đổi theo thời gian, với hiệuứng đều đặn nhỏ hơn về giá cả và tiền lương, cũng như về sản lượng và việc làm.Thứ ba, nguyên nhân chính cho những thay đổi này là sự sụt giảm trong tiền lươngcứng nhắc
Thứ tư, nguyên nhân khác cho những thay đổi này là tăng độ tin cậy của chính sáchtiền tệ Tác giả cho thấy phản ứng của lạm phát kỳ vọng với những cú sốc dầu đãgiảm đáng kể theo thời gian
Thứ năm, một nguyên nhân hợp lý thứ ba cho những thay đổi này chỉ đơn giản làgiảm tỉ lệ dầu trong tiêu dùng và sản xuất
Du và các cộng sự (2010): Xem xét mối quan hệ giữa giá dầu và nền kinh tế Trung
Quốc theo tháng trong giai đoạn 1995:1-2008:1 bằng mô hình VAR Kết quả chothấy giá dầu thế giới tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại TrungQuốc Do mức tiêu dùng dầu của Trung Quốc là cao mà phụ thuộc chủ yếu vàonguồn dầu nhập khẩu và cơ chế định giá dầu theo hướng thị trường Mặt khác, hoạtđộng kinh tế của Trung Quốc không ảnh hưởng đến giá dầu thế giới, Trung Quốcvẫn chưa có một sức mạnh giá dầu trong thị trường dầu mỏ thế giới Tác giả thựchiện các bước gồm kiểm định nhân quả Granger, hàm phản ứng xung và phân rãphương sai, kết quả như sau:
Thứ nhất, cải cách về cơ chế giá xăng dầu trong nước đã trải qua trong những thập
kỷ qua ở Trung Quốc đã thay đổi mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và kinh tế vĩ mô
Trang 20của Trung Quốc đáng kể Trước ngày xảy ra cú sốc cấu trúc (2002:1), tác động củagiá dầu thế giới về kinh tế vĩ mô của Trung Quốc là không đáng kể Sau ngày nàymối quan hệ giữa giá dầu thế giới và kinh tế vĩ mô của Trung Quốc trở nên mạnhhơn vì sự cải cách giá dầu Mô hình VAR ổn định trong giai đoạn 2002:1-2008:12
Thứ hai, quan hệ nhân quả Granger cho thấy kinh tế vĩ mô của Trung Quốc khôngảnh hưởng đến giá dầu thế giới, mặc dù Trung Quốc đang trở thành nước quantrọng hơn trong các thị trường dầu mỏ thế giới vì lượng tiêu dùng dầu lớn, nó vẫnchưa đạt được quyền định giá trên thị trường dầu thế giới
Thứ ba, hàm phản ứng xung cho thấy cả GDP và CPI đều có tương quan dương vớigiá dầu thế giới, tác động lớn nhất từ sau 2 tháng và biến mất hoàn toàn sau khoảng
12 tháng 100% gia tăng trong giá dầu thế giới làm GDP, CPI tăng tương ứng là 9%
và 2,08% Tác động của giá dầu vào GDP là không đối xứng
Herrera, Pesavento (2007) : sử dụng mô hình VAR nghiên cứu nền kinh tế Mỹ
trong giai đoạn 1959:Q1 tới 2006:Q4 phát hiện ra cú sốc giá dầu lớn và dài hơn đốivới các biến vĩ mô như: tăng trưởng sản lượng, mức giá chung và đầu tư vào hàngtồn kho trong thời kỳ trước Volcker 1959-1979 Nền kinh tế Mỹ đã trải qua mộtbiến động giảm từ giữa năm 1980 Tác giả đánh giá những thay đổi trong phản ứngcủa nền kinh tế tới cú sốc giá dầu và vai trò của hệ thống chính sách tiền tệ để tínhtoán sự thay đổi của sản lượng, giá cả, hàng tồn kho, doanh số và sự suy giảm tổngthể trong biến động Kết quả cho thấy một phản ứng nhỏ hơn và thời gian ngắn hơncủa hầu hết các biến số vĩ mô trong thời kỳ Volcker-Greenspan Hệ thống chínhsách tiền tệ đã làm giảm biến động trong hoạt động kinh tế những năm 1970, nó đãhầu như không có hiệu lực sau thời kỳ "Great Moderation ' Ước tính sự chậm trễmột năm trong phản ứng chính sách tiền tệ sẽ giảm sự thay đổi của tốc độ tăngtrưởng GDP 27% và 8% trong giai đoạn trước năm 1980 và sau năm 1984 Tác giảtập trung vào biến động giá dầu vì hai lý do sau: Thứ nhất, sự gia tăng giá dầu cóthể là nguyên nhân làm tăng biến động của nền kinh tế Mỹ, có khả năng giải thích
sự gia tăng lạm phát và sụt giảm kinh tế những năm 1970, đặc biệt là lạm phát cao
Trang 21và sự sụt giảm tăng trưởng sản lượng Thứ hai, giai đoạn giá dầu tăng có phần dễdàng xác định hơn những cú sốc cấu trúc khác Giải thích cho cú sốc cấu trúc trong
ba loại: công nghệ tốt hơn, chính sách tốt hơn và môi trường tự nhiên
Khi phân tích đóng góp của biến động giá dầu và hệ thống chính sách tiền tệ tới thời
kỳ “Great Moderation”, thấy rằng một sự gia tăng 10% trong giá dầu thực thì có ảnhhưởng lớn hơn và dài hơn tới tăng trưởng sản lượng, mức giá chung, tăng trưởngdoanh số sản xuất và đầu tư hàng tồn kho trong giai đoạn trước Volcker
Cả phản ứng xung và phân rã phương sai cho thấy rằng sau thời kỳ “GreatModeration”, vai trò của chính sách tiền tệ trong việc giảm nhẹ tác động của cú sốcgiá dầu là nhỏ hơn đáng kể Chỉ trong năm 2006, những đóng góp của hệ thốngchính sách tiền tệ dường như đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích sựđóng góp những cú sốc giá dầu đến biến động kinh tế
1.2 Các nghiên cứu về mức độ truyền dẫn giá dầu vào lạm phát tại Việt Nam.
Trên thế giới đã có nhiều bài nghiên cứu về tác động của giá dầu lên lạm phát,nhưng tại Việt Nam những bài nghiên cứu riêng về ảnh hưởng của giá dầu vào lạmphát chưa có, đa phần là các tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá hoặc các yếu
tố tác động đến lạm phát trong đó có đánh giá ảnh hưởng của giá dầu tới lạm phát.Tác giả Narayan,Narayan (2010) đã có bài nghiên cứu về ảnh hưởng của biến độnggiá dầu lên giá chứng khoán Việt Nam trong thời gian từ 2000-2008 và cho thấy cómối quan hệ đồng liên kết giữa giá dầu, giá chứng khoán và tỷ giá danh nghĩa.Trongdài hạn, tỷ giá và giá dầu đều tác động dương và không có ý nghĩa thống kê với giáchứng khoán, nhưng trong ngắn hạn thì có
Bạch Thị Phương Thảo (2011): tác giả đã sử dụng phương pháp VAR để tính
“Truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số tại Việt Nam giai đoạn 2001-2011”Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá nhậpkhẩu là lớn nhất (IMP), kế tiếp là chỉ số giá sản xuất (PPI) và nhỏ nhất là chỉ số giátiêu dùng (CPI) Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, mà trong đómặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bón, xăng dầu, nhựa, chất dẻo…Tác giả cũng
Trang 22phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới lạm phát và cho thấy lạm phát cũng chịu ảnhhưởng của giá dầu và giá hàng hóa thế giới.
Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Đặng Dũng (2013): Tác giả nghiên cứu lạm phát tại
Việt Nam theo phương pháp SVAR với dữ liệu từ 2001:M1-2011:M6 Kết quả chothấy CPI có chịu ảnh hưởng từ cú sốc giá khu vực nước ngoài, đặc biệt là giá dầu.Tác động của cú sốc giá dầu lên lạm phát trong nước là sau khoảng 6 tháng và daidẳng
Le Viet Trung, Nguyen Thi Thuy Vinh (2011):Tác giả dùng mô hình VAR với dữ
liệu theo tháng từ 1995-2009 đánh giá tác động của giá dầu, tỷ giá thực và lạm pháttrong nền kinh tế Việt Nam Tác giả tìm thấy mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, lạmphát, tỷ giá và hoạt động kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy 10% gia tăng tronggiá dầu thô làm gia tăng hoạt động kinh tế 1,81% và 10% gia tăng trong mức lạmphát CPI sẽ làm tăng 3,7% trong hoạt động kinh tế Ngược lại, tỷ giá tăng 10% sẽlàm giảm rong hoạt động kinh tế là 10,78% Nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng
từ tỷ giá nhiều hơn là từ giá dầu và lạm phát Lạm phát tác động dương tới nền kinh
tế nhưng không có ý nghĩa cao
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn
Tác giả dựa theo bài nghiên cứu của Chou và Tseng (2011) đánh giá truyền dẫn củagiá dầu vào lạm phát theo mô hình đường Phillip với những yếu tố sau:
1.3.1 Môi trường lạm phát của nền kinh tế
Theo Taylor (2000), môi trường lạm phát thấp làm xuất hiện ít chi phí cố định, khảnăng định giá của công ty thấp, vì vậy có thể là nguyên nhân làm cho mức độ truyềndẫn thấp
Xăng dầu được xem là một mặt hàng đặc thù, liên quan đến an ninh năng lượngquốc gia Ngày 15 tháng 10 năm 2009, Chính phủ đã ban hành nghị định số84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Trang 23Nhà nước, khẳng định sẽ trao quyền tự quyết định giá cho các Doanh nghiệp Lợiích của việc thả nổi giá xăng dầu nhằm giảm các khoản thâm hụt do bù lỗ giá dầucủa Chính phủ, nhưng mặt khác các công ty xăng dầu sẽ tăng giá bán Tại thời điểmnghiên cứu, theo Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, hiện Doanh nghiệp đang lãi gần 500đồng/lít xăng A92 Giá xăng thế giới những ngày qua giảm mạnh, Doanh nghiệpxăng dầu đã có lãi nhưng chưa đề xuất giảm giá bán Thị trường xăng dầu Việt Namkhông phải là độc quyền nhưng Petrolimex chiếm lĩnh thị trường với hơn 50% thịphần Do đó, việc tăng giá bán xăng dầu và giữ ở mức cao làm tăng chi phí chongười tiêu dùng và tăng giá các mặt hàng khác Việc bãi bỏ cơ chế kiểm soát giánày có thể sẽ làm gia tăng lạm phát kỳ vọng từ đó làm gia tăng mức độ truyền dẫncủa giá dầu vào giá cả hàng hóa Ngoài ra, việc bãi bỏ kiểm soát giá của các mặthàng khác như sắt, thép, than… cũng làm tăng giá tiêu dùng vì đây là những mặthàng tham gia vào quá trình sản xuất, cấu thành chi phí và giá các mặt hàng khác.
Một yếu tố khác làm gia tăng lạm phát kỳ vọng là việc tăng tiền lương cơ bản dẫnđến tăng lạm phát tiền lương Ngoài ra, độ trễ của lạm phát kỳ trước và yếu tố lạmphát kỳ vọng cũng làm ảnh hưởng tới giá tiêu dùng thời điểm hiện tại
1.3.2 Độ chênh sản lƣợng (output gap)
Mối quan hệ giữa độ chênh sản lượng (output gap) của nền kinh tế và mức độtruyền dẫn của giá dầu vào lạm phát có thể là thuận hoặc nghịch Như kết quả trongbài nghiên cứu của Chen (2009) phần lớn độ chênh sản lượng là dương, chỉ có 3nước là âm; trong khi đó theo Du và cộng sự (2011) 7 trong 12 nước mức truyềndẫn của độ chênh sản lượng là âm Điều này có thể lý giải như sau: Khi sản lượngthực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng, nhu cầu về hàng hóa giảm qua đó có thể làmgiảm giá hàng tiêu dùng Trong trường hợp này, mối quan hệ giữa độ chênh sảnlượng và mức truyền dẫn là nghịch Ngược lại, khi sản lượng thực tế cao hơn sảnlượng tiềm năng, nhu cầu về hàng hóa tăng qua đó làm tăng giá tiêu dùng; mặt kháckhi sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng các doanh nghiệp gặp phải vấn
đề về giới hạn sản xuất, phải thuê thêm lao động, đầu tư thêm máy móc thiết bị làm
Trang 24cho chi phí sản xuất tăng lên, qua đó cũng làm tăng giá tiêu dùng của hàng hóa.Trong trường hợp này, độ chênh sản lượng sẽ có mối quan hệ cùng chiều với mức
độ truyền dẫn
1.3.3 Biến động giá dầu
Trong số các cú sốc cung nghiêm trọng nhất của nền kinh tế thế giới kể từ chiếntranh thế giới thứ hai là sự gia tăng nhanh chóng trong giá dầu và các sản phẩmnăng lượng khác Giá xăng dầu tác động trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế ViệtNam vì xăng dầu vừa là mặt hàng tiêu dùng cuối cùng, vừa là mặt hàng trung giancho quá trình sản xuất Giá xăng dầu cao có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế, ảnhhưởng tới thị trường chứng khoán Việt Nam (Narayan, Narayan 2010)
Khi giá dầu tăng làm giảm tổng cầu do thu nhập thực tế giảm Việc tăng giá dầucũng làm giảm tổng cung vì khi giá năng lượng cao hơn các công ty mua ít nănglượng hơn, do đó năng suất của đồng vốn và lao động giảm và sản lượng tiềm nănggiảm kéo theo sự giảm sút trong tiền lương thực tế
Những nghiên cứu thấy rằng những cú sốc giá dầu đã ảnh hưởng đến sản lượng vàlạm phát (Hamilton, 2004 ; Hooker, 2002) Ngoài ra, giá dầu tăng làm tăng chi phísản xuất đầu vào đưa đến giá hàng hóa và dịch vụ tăng cao
Phần lớn trữ lượng dầu được đặt tại các khu vực bất ổn về chính trị, với những căngthẳng ở Trung Đông, Venezuela và Nigeria Bởi vì các cuộc tấn công khủng bốthường xuyên, sản xuất dầu mỏ của Iraq chịu sự gián đoạn, trong khi nguy cơ củacác vấn đề chính trị tại Ả Rập Saudi tăng lên Thời gian cho những rủi ro này làkhông chắc chắn và khó định lượng và các hiệu ứng sẽ có nhiều ảnh hưởng sâu rộnghơn chỉ đơn giản là giá dầu tăng Trong nền kinh tế mở cửa toàn cầu, một cú sốcdầu có thể có ảnh hưởng khác nhau trên mỗi quốc gia tùy vào thành phần ngànhkinh tế của từng nước, đứng trên vai trò là nhà nhập khẩu dầu hoặc xuất khẩu hoặc
sự khác biệt trong cấu trúc thuế, cách quản lý giá mặt hàng này
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên thế giới các nghiên cứu về truyền dẫn giá dầu vào lạm phát thường sử dụng
mô hình đường Phillips và mô hình VAR Kết quả cho thấy truyền dẫn giá dầu vàolạm phát thay đổi theo thời gian và có sự sụt giảm trong truyền dẫn ớ các nước vàmức truyền dẫn trong dài hạn cao hơn trong ngắn hạn (Chen, 2009; Du và công sự2011; Gregorio và cộng sự 2007)
Những nghiên cứu riêng về truyền dẫn giá dầu vào lạm phát Việt Nam chưa có Tácgiả xem xét truyền dẫn giá dầu vào lạm phát theo mô hình nghiên cứu của Chou,Tseng (2011) dưới mô hình đường Phillip với các yếu tố tác động tới lạm phát làlạm phát kỳ trước, độ chênh sản lượng và biến động giá dầu Ngoài ra, để xem xétthêm tác động của giá dầu vào lạm phát tác giả dùng mô hình VAR dựa trên nghiêncứu của Du và cộng sự (2010)
Trang 26CHƯƠNG 2
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA GIÁ DẦU VÀO LẠM PHÁT
VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH ECM
2.1 Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát Việt Nam trong giai đoạn
2001 - 2013
2.1.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình đường Phillips được Hooker (2002) vận dụng để đánh giá ảnh hưởng củatruyền dẫn giá dầu vào lạm phát Sau đó một số tác giả khác cũng dựa vào mô hìnhnày để nghiên cứu truyền dẫn giá dầu vào lạm phát như LeBlanc, Chinn (2004),Gregorio và công sự (2007) và Chen (2009), Chou, Tseng (2011)
Tác giả dựa theo mô hình nghiên cứu của Chou, Tseng (2011) để ước tính truyền dẫn giá dầu vào lạm phát tại Việt Nam khi xem xét mô hình đường Phillips chuẩn:
Trong đó,
πt = pt – pt-1: là lạm phát CPI (tính bằng sự thay đổi log chỉ số CPI)
UGt : thể hiện sự khác biệt giữa tỷ lệ thất nghiệp thực tế và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
xt : đại diện cho chi phí sản
xuất L: thể hiện độ trễ của mô
hình εt : sai số của mô hình
Trang 27Trong thực tế thì UG thường được thay thế bởi độ chênh sản lượng Và thay đổitrong giá dầu sẽ đại diện cho biến chi phí sản xuất Khi đó, mô hình (1) được thểhiện như sau:
Trong đó:
Do hạn chế về số liệu GDP theo tháng nên yt là log của chỉ số sản xuất công nghiệpViệt Nam, ỹt: thể hiện xu hướng phi tuyến của yt theo tiêu chuẩn lọc Hodrick –Prescott filtered Do đó, yt-ỹt là độ chênh sản lượng oilt: là giá dầu
Giả thiết có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình Do đó, cânbằng dài hạn giữa tỷ lệ lạm phát, giá dầu và độ chênh sản lượng được hiển thị nhưsau:
pt =α + βy yt + β0 ot + εt (3)Nếu phần dư εt là một chuỗi dừng thì có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa cácbiến trong mô hình Điều này thể hiện sự kết hợp tuyến tính của chỉ số giá và cácbiến liên quan thì hội tụ Khi đó, công thức (2) điều chỉnh dưới dạng mô hình hiệuchỉnh sai số để đo lường mức truyền dẫn trong ngắn hạn:
ECt là thành phần hiệu chỉnh sai số, thể hiện truyền dẫn ngắn hạn lệch khỏi cânbằng dài hạn Phương trình (4) cho thấy ngoài ảnh hưởng mất cân bằng do độ lệchcủa chỉ số giá, tỷ lệ lạm phát cũng được phản ánh trong độ chênh sản lượng, biếnđộng giá dầu, và độ trễ của tỷ lệ lạm phát
Hệ số θ1 của biến giá dầu có thể được xem như một phần truyền dẫn giá dầu trongngắn hạn, θ1+ ρβ0 là tổng truyền dẫn trong ngắn hạn (Adolfson, 2001; Chen, 2009)
Trang 28θi đại diện cho mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát Nếu θi = 0 thì khôngxảy ra sự truyền dẫn của giá dầu vào lam phát Nếu θi = 1 hoặc θi > 1 thì sự truyềndẫn là hoàn toàn, nghĩa là 1% thay đổi của giá dầu sẽ làm lạm phát thay đổi 1%.Nếu θi giữa 0 và 1 thì sự truyền dẫn là không hoàn toàn Hệ số θi được kỳ vọngmang dấu dương, tức là khi giá dầu tăng thì lạm phát gia tăng.
2.1.2 Dữ liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu hàng tháng, từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 6 năm 2013 Nguồn dữ liệu và cách xử lý số liệu ban đầu như sau:
- Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam (CPI): Được quy về kỳ gốc (M1 2001 = 100).Nguồn dữ liệu: IFS
- Sản lượng công nghiệp của Việt Nam (IP): Tổng cục thống kê Việt Nam GSO, ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
- Giá dầu thế giới (OIL) Nguồn dữ liệu: IFS
2.1.3 Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình
Để đo lường mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát Việt Nam, tác giả thực hiện các bước như sau:
- Đầu tiên, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính dừng vàkhông dừng của các biến trong mô hình
- Thứ hai, tác giả thực hiện kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johasen
để xem xét mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình nghiên cứu
- Thứ ba, sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để đo lường mức độtruyền dẫn của giá dầu vào lạm phát trong ngắn hạn
2.1.4 Kiểm định nghiệm đơn vị
Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp Augmented Dickey-Fuller (ADF) (bao gồm xu hướng thời gian) cho chuỗi thời gian
Trang 29của các biến lạm phát (CPI), sản lượng công nghiệp (IP) và giá dầu (OIL) để xác định thuộc tính dừng của các biến trong mô hình Kết quả như sau:
Bảng 2.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
2.1.5 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình
Bằng kiểm định trace và maximum-eigenvalue tác giả xác định độ trễ cho mô hình.Kết quả của việc lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình được trình bày ở bảng 2.2 vớicác tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ khác nhau Tiêu chuẩn thông dụng AIC chọn độ trễ là
6 tháng, độ trễ này cũng là lựa chọn của tiêu chuẩn FPE Theo tiêu chuẩn SC và HQ
độ trễ là 2 tháng Độ trễ tối ưu là 2 tháng cũng được các nghiên cứu của Du và cáccông sự (2010) lựa chọn khi nghiên cứu về truyền dẫn giá dầu sử dụng chuỗi dữ liệuthống kê theo tháng
Theo tác giả, tại Việt Nam khi giá xăng dầu tăng, các mặt hàng tiêu dùng tăng giángay nên độ trễ được kỳ vọng là thấp Vì vậy, tác giả lựa chọn độ trễ tối ưu cho môhình ECM là 2 tháng
Trang 30VAR Lag Order Selection Criteria
Endogenous variables: DLNCPI DLNOIL OPGAP Exogenous variables: C
Date: 08/31/13 Time: 00:25 Sample: 2001M01 2013M06
Included observations: 141
* indicates lag order selected by the criterion
LR: sequential modified LR test statistic (each test at 5% level) FPE: Final prediction error
AIC: Akaike information criterion SC: Schwarz information criterion
HQ: Hannan-Quinn information criterion
2.1.6 Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen
Bảng 2.3: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen 1
Kiểm định Trace Kiểm định Max-EigenMối quan Trị riêng Thống kê Giá trị tới Thống kê Giá trị tới
Trang 31Tác giả sử dụng phương pháp Johansen để thực hiện kiểm định giả thuyết khả năngxảy ra các vectơ đồng liên kết giữa các dãy số thời gian không dừng Kết quả chothấy thống kê Trace có một mối quan hệ đồng liên kết ở mức 5%, thống kê Max-Eigen có hai mối quan hệ đồng liên kết ở mức 5% Như vậy, có tồn tại mối quan hệdài hạn giữa các biến lựa chọn trong mô hình.
2.1.7 Mức độ truyền dẫn của giá dầu vào lạm phát trong dài hạn
Do giá dầu, lạm phát và độ chênh sản lượng có mối quan hệ đồng liên kết nên tácgiả xem xét truyền dẫn giá dầu trong dài hạn bằng mô hình thực nghiệm (3) Kếtquả truyền dẫn giá dầu trong dài hạn được thể hiện trong bảng như sau:
Bảng 2.4: Truyền dẫn giá dầu vào lạm phát trong dài hạn
Coefficient -1.559428*** 0.583228*** 0.093621 *
t-Statistic -3,604597 10,19155 1,86378
***, **, * thể hiện mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%
Từ bảng kết quả trên cho thấy, trong dài hạn hầu như tất cả các biến trong phươngtrình đều ảnh hưởng đến lạm phát cụ thể như sau: βy có ý nghĩa thống kê tại mức1%, β0 có ý nghĩa thống kê tại mức 10% Truyền dẫn trong dài hạn là 0.093621nghĩa là khi giá dầu tăng 1% thì sẽ tác động làm lạm phát Việt Nam tăng0,093621%, mức truyền dẫn là không hoàn toàn Nhìn chung, trong dài hạn mứctruyền dẫn tại Việt Nam thấp hơn mức truyền dẫn tại các nước trong khu vực cácnước Châu Á mới nổi theo kết quả nghiên cứu của Chou, Tseng (2011) mức truyềndẫn bình quân là 0.1178 và cũng thấp hơn mức truyền dẫn tại 19 nước công nghiệpbao gồm các quốc gia Châu Âu, Mỹ và Nhật theo tác giả Chen (2009) mức truyềndẫn bình quân là 0.1662 Ngược lại, mức truyền dẫn trên cao hơn mức truyền dẫntại Đài Loan theo Chou, Tseng (2011) là 0.06 khi nghiên cứu về mức truyền dẫn giádầu vào lạm phát tại Đài Loan
Trang 32Bảng 2.5 : Độ lớn mức truyền dẫn giá dầu theo nghiên cứu của
Chou, Tseng (2011)
Tác động của biến độ chênh sản lượng lên lạm phát mang dấu dương và có ý nghĩathống kê Mức truyền dẫn là 0.583228, điều này cho thấy khi sản lượng dài hạn tăng1% sẽ làm giá cả hàng hóa tăng 0,583228%, mức truyền dẫn là không hoàn toàn
2.1.8 Mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn: mô hình hiệu chỉnh sai số ECM
Trước hết để áp dụng mô hình ECM hiệu quả tác giả thực hiện kiểm định tính dừngcủa ECt trong công thức (3) Kết quả EC chỉ không dừng tại mức 1%, nên việc ápdụng mô hình ECM là khả thi
Tác giả sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để tính toán mức độ truyền dẫn củagiá dầu trong ngắn hạn Phần dư ECt được tính từ vec tơ đồng tích hợp theo phươngpháp Johansen trong mô hình (2), phần dư ECt được đưa vào mô hình ECM nhằmđảm bảo mối quan hệ cân bằng dài hạn được thỏa mãn
Trang 33Bảng 2.6: Kết quả kiểm định tính dừng của giá trị EC trong phương trình (3)
Adj t-Stat Prob.*
Phillips-Perron test statistic -3.163952 0.0242
Test critical values: 1% level -3.474567
5% level -2.880853 10% level -2.577147
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Do các biến số ở dạng chuỗi gốc I(0) là dãy số thời gian không dừng, các biến số ởdạng sai phân bậc 1 I(1) là các dãy số thời gian có tính dừng nên ta đưa các biến số
ở dạng sai phân bậc 1 vào mô hình
Theo Adolfson (2001), Chen (2009), truyền dẫn từng phần trong ngắn hạn là θ1,tổng mức truyền dẫn trong ngắn hạn là ω = θ1+ φβ0
Bảng 2.7: Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM
***, **, * thể hiện mức ý nghĩa thống kê là 1%, 5% và 10%
Qua bảng kết quả hồi qui trên, ta thấy một số biến giải thích có ý nghĩa thống kê.Trong ngắn hạn, truyền dẫn từng phần là 0.017350 và tổng mức truyền dẫn của giádầu vào lạm phát Việt Nam là 0.016631 tức là khi xảy ra một cú sốc làm giá dầu
Trang 34thay đổi 1% sẽ làm lạm phát thay đổi là 0,016631% để điều chỉnh về mức cân bằngtrong dài hạn, mức truyền dẫn này là không hoàn toàn Mức truyền dẫn này là caohơn so với mức truyền dẫn ở các nước công nghiệp là 0.0049 (Chen, 2009) và mứctruyền dẫn bình quân ở 12 nước mới nổi là 0.0045 (Chou, Tseng 2011)
Một yếu tố khác tác động lên lạm phát Việt Nam cần chú ý trong mô hình hiệuchỉnh sai số ECM là độ trễ của lạm phát (hay lạm phát kỳ vọng) Qua kết quả môhình cho thấy ảnh hưởng của mức lạm phát ở một tháng trước là 0.466562 cao hơnlạm phát hai tháng trước Có thể khi lạm phát tăng đột ngột ở giai đoạn trước làmcho tâm lý người tiêu dùng kỳ vọng giá cả hàng hóa còn tiếp tục tăng ở giai đoạnhiện tại nên giá tiêu dùng ở giai đoạn hiện tại tiếp tục tăng và cũng có thể do giáhàng hóa đã tăng rồi người bán ít khi hạ giá thành xuống làm cho giá hiện tại tiếptục tăng Theo tác giả cũng có thể do giá dầu biến động tạm thời nhưng các doanhnghiệp đã tăng giá bán ngay kéo theo tăng giá các mặt hàng tiêu dùng, hoặc do giádầu trên thị trường đã giảm mà doanh nghiệp chưa giảm giá bán
Yếu tố phần dư ECt trong mô hình (4) mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê Điềunày khẳng định rằng tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình với độtin cậy 10% của các biến độc lập phía trên trong việc giải thích sự tự vận động củachỉ số giá tiêu dùng trở về vị trí cân bằng dài hạn khi có sự thay đổi của các biếnđộc lập
So sánh bảng 2.4 và bảng 2.7 cho thấy mức truyền dẫn trong dài hạn lớn hơn trongngắn hạn Tác giả cho rằng có thể là do biến động trong giá dầu chỉ là tạm thời vàgiá các mặt hàng chưa kịp điều chỉnh Điều này giống với kết quả nghiên cứu củaChen (2009) với mức truyền dẫn bình quân trong dài hạn là 0.166170 lớn hơn mứctruyền dẫn bình quân ngắn hạn là 0.004925 và cả Chou, Tseng (2011)
Trang 352.2 Truyền dẫn trong ngắn hạn: Giai đoạn giá dầu biến động mạnh và giai đoạn giá dầu cao
Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận rằng đường cong Phillips được xây dựng dựa trên
hệ số không đổi là không đủ để đánh giá ảnh hưởng của truyền dẫn giá dầu đối vớilạm phát Điều này là do thay đổi cơ bản có thể xảy ra trong nền kinh tế của mộtquốc gia hoặc khu vực trong mẫu nghiên cứu Ngoài ra, giá dầu cũng thay đổi mạnhtrong một khoảng thời gian ngắn Hamilton (1996) chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởngđáng kể đối với nền kinh tế chỉ khi có một sự gia tăng đáng kể về giá trong quá khứ.Theo Mork (1989), chỉ có sự gia tăng trong giá dầu ảnh hưởng đến các biến kinh tế
vĩ mô, giảm giá dầu không có ảnh hưởng đáng kể Các nghiên cứu khác đã chỉ rarằng có một mối quan hệ phi tuyến giữa giá dầu và các biến kinh tế (Hooker, 2002;Hamilton, 2003)
Chou, Tseng (2011) cho rằng truyền dẫn giá dầu trong ngắn hạn không đối xứng vàphi tuyến nên tác giả nghiên cứu truyền dẫn giá dầu trong ngắn hạn dưới hai dạng:giai đoạn giá dầu biến động mạnh và giai đoạn giá dầu cao
2.2.1 Giai đoạn giá dầu biến động mạnh
Mô hình đường cong Phillips chỉ ra tính bất đối xứng của truyền dẫn giá dầu trongngắn hạn Vì vậy, tác giả xem xét sự thay đổi trong truyền dẫn ngắn hạn khi giá dầutăng lên đáng kể trong một thời gian ngắn Vì không có tiêu chí cụ thể để xác định
cú sốc giá dầu mạnh mẽ, Chou, Tseng (2011) đã quyết định khi tỷ lệ thay đổi củagiá dầu vượt quá độ lệch chuẩn của trung bình mẫu, điều này cho thấy sự gia tăngbất thường và có thể được coi là một cú sốc giá dầu đáng kể Phương trình (4) đãđược xác định như sau:
Trong đó, Dt là biến giả mô tả cho sự gia tăng đáng kể trong giá dầu Tác giả xácđịnh giá trị trung bình mẫu nghiên cứu là 9,41% Một sự gia tăng trong giá dầu vượt
Trang 36quá 9,41% được xem là cú sốc giá dầu biến động mạnh Dt lúc này bằng 1, ngược lại
Dt =0.Với tiêu chí này, từ 150 quan sát trong mẫu ta có 19 điểm xảy ra cú sốc giádầu mạnh Hệ số truyền dẫn trong ngắn hạn với sự ra tăng nhanh chóng của giá dầu
là θ1+ γ1+ ρβ0 và θ1+ γ1 là ảnh hưởng bình thường trong giá dầu Kết quả ước tínhthể hiện như sau:
Bảng 2.8: Giá dầu biến động mạnh và đường Phillips
Hệ số 0.014339 -0.008129 0.093621* 0.006879 0.013578 0.020457
***, **, * thể hiện mức ý nghĩa thống kê là 1%, 5% và 10%
Kết quả cho thấy mức truyền dẫn trong ngắn hạn là cao hơn khi chịu tác động mạnhcủa cú sốc giá dầu, điều này thể hiện biến động lớn trong giá dầu ngay lập tức đượcphản ánh trong lạm phát, đúng như kỳ vọng của tác giả đối với thị trường tiêu thụxăng dầu tại Việt Nam Mức ảnh hưởng thường xuyên của biến động giá dầu là0.013578, nghĩa là khi giá dầu tăng 1% thì lạm phát tăng 0,013578%, mức truyềndẫn này là không hoàn toàn và cao hơn mức truyền dẫn bình quân của 12 nướcChâu Á trong nghiên cứu của Chou, Tseng (2011) là 0.0056
2.2.2 Giai đoạn giá dầu cao
Chou, Tseng (2011) sau khi sử dụng CPI thế giới để xác định giá dầu thực tế, đã xácđịnh được ba giai đoạn giá dầu ở mức cao là 1990M1-1993M3, 2005M1-2008M12,2009M4-2010M12, tại đây mức giá dầu thực tế cao hơn giá trị trung bình trong mẫunghiên cứu Dựa vào cách xác định trên, tác giả xác định ba giai đoạn giá dầu caoliên quan đến mẫu nghiên cứu là 2006M1-2006M9, 2007M3-2008M10, 2009M6-
2013M6 Biến giả d t = 1 được đưa vào mô hình trong giai đoạn giá dầu cao, giai
đoạn ngược lại d t = 0 Khi đó, tác động của biến giả trong mô hình giá dầu cao đượcxác định như sau: