PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH (Lê Anh Trà) Câu 1: Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào? Vì sao Người có vốn tri thức sâu rộng như vậy? Trả lời Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sâu rộng: Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga Am hiểu về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc Lí do: Người đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, cả phương Đông và phương Tây Người đã làm nhiều nghề Niềm ham học hỏi và tìm hiểu các nền văn hóa, nghệ thuật Người tiếp thu văn hóa có chọn lọc, phát huy văn hóa dân tộc và biết phê phán những tiêu cực Câu 2: Lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông của Bác Hồ được biểu hiện như thế nào? Trả lời Biểu hiện của lối sống rất bình dị, rất phương Đông, rất Việt Nam của Bác Hồ: Ở tại một chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao, chỉ vỏn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc, đơn sơ. Trang phục hết sức giản dị, gồm có bộ quần áo bà ba, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như các chiến sĩ ở Trường Sơn. Ăn uống đạm bạc với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa. Tư trang ít ỏi, một chiếc vali con với vài bộ áo quần, vài vật kỉ niệm của cuộc đời dài. Câu 3: Vì sao có thể nói lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao? Trả lời Lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao: Học Văn Chị Hiên THCS Khóa học Văn lớp 9 miễn phí 2 Giản dị ở tư trang, nơi ở, trang phục, đồ ăn thức uống Thanh cao ở tư tưởng, tinh thần, không màng đến những giá trị vật chất tầm thường, cuộc sống giống như những nhà hiền triết xưa. Câu 4: Nêu cảm nhận của em về những nét đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh.
Trang 1PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
(Lê Anh Trà) Câu 1: Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào?
Vì sao Người có vốn tri thức sâu rộng như vậy?
Trả lời
Vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất sâu rộng:
- Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga
- Am hiểu về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc
Lí do:
- Người đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, cả phương Đông và phương Tây
- Người đã làm nhiều nghề
- Niềm ham học hỏi và tìm hiểu các nền văn hóa, nghệ thuật
- Người tiếp thu văn hóa có chọn lọc, phát huy văn hóa dân tộc và biết phê phán những tiêu cực
Câu 2: Lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông của Bác Hồ được biểu hiện
như thế nào?
Trả lời
Biểu hiện của lối sống rất bình dị, rất phương Đông, rất Việt Nam của Bác Hồ:
- Ở tại một chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao, chỉ vỏn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc, đơn sơ
- Trang phục hết sức giản dị, gồm có bộ quần áo bà ba, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như các chiến sĩ ở Trường Sơn
- Ăn uống đạm bạc với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa
- Tư trang ít ỏi, một chiếc vali con với vài bộ áo quần, vài vật kỉ niệm của cuộc đời dài
Câu 3: Vì sao có thể nói lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao?
Trả lời
Lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao:
Trang 2- Giản dị ở tư trang, nơi ở, trang phục, đồ ăn thức uống
- Thanh cao ở tư tưởng, tinh thần, không màng đến những giá trị vật chất tầm thường, cuộc sống giống như những nhà hiền triết xưa
Câu 4: Nêu cảm nhận của em về những nét đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh
Trả lời
Phong cách Hồ Chí Minh được làm nên từ lối sống giản dị mà thanh cao, kết tinh từ tầm tư tưởng sâu sa, là một tấm gương sáng để chúng ta noi theo Từ phong cách của Người, ta học tập được lối sống có văn hóa, giản dị, tiết kiệm, liêm chính, chủ động hội nhập, tiếp thu với văn hóa khu vực và quốc tế nhưng luôn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH
(Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két) Câu 1: Hệ thống luận điểm và luận cứ của tác phẩm:
- Luận điểm 1: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân và cuộc chạy đua vũ trang đe dọa Trái Đất
- Luận điểm 2: Sự tốn kém và vô lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân
+ Luận cứ 1: Cuộc chạy đua vũ trang là một sự tốn kém rất lớn, có sức hủy diệt ở mọi lĩnh vực
+ Luận cứ 2: Cuộc chạy đua vũ trang là một sự vô lí, nó đi ngược lí trí của con người và lí trí của tự nhiên
- Luận điểm 3: Lời kêu gọi nhân loại cần đứng lên ngăn chặn nguy cơ diễn ra chiến tranh hạt nhân
+ Luận cứ 1: Chúng ta có trách nhiệm đem tiếng nói mình chống lại sự leo thang của vũ khí hạt nhân
+ Luận cứ 2: Lời đề nghị mở một nhà băng lưu giữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân, để lên án những thủ phạm đã gây ra điều đau khổ cho nhân loại
Câu 2: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và toàn bộ sự sống trên trái đất
được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng lập luận:
Trang 3- Đưa câu hỏi gây chú ý và dẫn vào vấn đề của tất cả “chúng ta”: “chúng ta đang
ở đâu?”
- Đưa ra ngày tháng cụ thể “ngày 8 – 8 – 1986”, số liệu chính xác “50000 đầu đạn”, “4 tấn thuốc nổ”
- Cách so sánh hình ảnh “thanh gươm Đa-mô-clét”
=> Tất cả đã gây ấn tượng mạnh, vừa cụ thể, vừa bao quát, kích thích suy nghĩ nơi người đọc về sự hệ trọng đối với vấn đề chiến tranh hạt nhân
Câu 3: Chứng cứ về sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân:
- Sự tốn kém: mỗi chương trình vũ khí hạt nhân tốn hàng trăm tỉ đô la, so sánh gấp hàng trăm nghìn với chi phí y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục
- Sự vô lí: số tiền cho hủy diệt sự sống lại lớn gấp trăm lần số tiền phát triển, phục hồi sự sống Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí con người và tự nhiên
Câu 4: Có thể nói: “Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí con người mà còn
đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa” bởi: lí trí con người và lí trí tự nhiên là tạo ra và phát triển sự sống trong quá trình hàng trăm triệu năm nhưng chiến tranh hạt nhân lại có thể xóa bỏ, hủy diệt sự sống chỉ trong một tích tắc sau một cái bấm nút
Lời cảnh báo của nhà văn đặt ra để mọi người hiểu được sức hủy diệt kinh hoàng,
vô nhân đạo của vũ khí hạt nhân Đồng thời đó cũng là nhiệm vụ cho toàn thể nhân loại Chúng ta phải đoàn kết, đấu tranh xây dựng một thế giới hòa bình không có vũ khí hạt nhân
Câu 5: Văn bản được đặt lên là “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” nhằm nhấn mạnh
đến nhiệm vụ đấu tranh của con người trước hiểm họa chiến tranh hạt nhân Cuộc đấu tranh ấy không dễ dàng, cần đến sự đồng sức, đồng lòng của toàn nhân loại, là cuộc đấu tranh cam go quyết liệt
TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM Câu 1: Bố cục của văn bản: 3 phần
- Phần 1: (mục 1 đến 7): thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới
- Phần 2: (mục 8, 9): Điều kiện thuận lợi cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trang 4- Phần 3: (mục 10 đến 17): những nhiệm vụ cơ bản và cấp bách
=> Các phần trong văn bản hợp lí, chặt chẽ Các phần trước làm cơ sở để phần cuối là kết luận rút ra Các đề mục rõ ràng, có tên gọi cụ thể
Câu 2: Thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới:
- Trẻ em - nạn nhân của hiểm họa chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài
- Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp
- Trẻ em phải đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh tật, ma túy
=> Thật đau xót trước thực tế cuộc sống còn quá đỗi khó khăn của trẻ em trên thế giới, nhận thức được điều kiện sống thuận lợi của bản thân, trân trọng hơn cuộc sống hiện tại
mà mình đang có
Câu 3: Điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới
hiện nay:
- Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế
- Công ước về quyền trẻ em ra đời
- Bầu không khí chính trị trên thế giới thay đổi từ đối đầu sang đối thoại
Câu 4: Tính toàn diện của nội dung phần “Nhiệm vụ”:
- Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng
- Quan tâm đến trẻ em tàn tật và khó khăn
- Bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ
- Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở
- Chú trọng kế hoạch hóa gia đình
- Bảo đảm tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Nỗ lực hợp tác quốc tế
- Nâng cao nhận thức trẻ em về giá trị và nguồn gốc bản thân
=> Những nhiệm vụ toàn diện, đề cập đến mọi vấn đề trong đời sống và có tính khả thi
Câu 5: Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, sự quan tâm của cộng đồng
quốc tế đối với vấn đề này:
- Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế, liên quan trực tiếp đến tương lai nhân loại
Trang 5- Vấn đề này đang được quốc tế dành sự quan tâm thích đáng với các chủ trương, nhiệm vụ cụ thể, toàn diện
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Nguyễn Dữ) Câu 1: Bố cục của truyện:
Trương Sinh và Vũ Nương, tình cảnh xa cách và đức hạnh của Vũ Nương trong gia đình
nghiệt của Vũ Nương
Phi Vũ Nương được giải oan
Câu 2: Vũ Nương được miêu tả trong những hoàn cảnh khác nhau và qua đó bộc lộ
những đức tính tốt đẹp:
dung tốt đẹp
để lúc nào vợ chồng phải đến bất hòa dù Trương Sinh có tính đa nghi, phòng ngừa vợ quá sức
nuôi con nhỏ, hiếu thuận với mẹ chồng, chung thủy chờ chồng
chồng không chuyển ý, nàng phải tìm đến cái chết bi thảm
xin quay lại trần gian trong chốc lát rồi vĩnh biệt
Câu 3: Nguyên nhân dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ Nương:
Trang 6• Do lời nói ngây thơ của bé Đản bởi đêm đêm, Vũ Nương ngồi dưới ngọn đèn khuya trỏ bóng mình trên vách bảo đó là cha Đản, bé Đản ngộ nhận
và vô tình mang đến nỗi oan cho người mẹ
• Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nương con nhà kẻ khó còn Trương Sinh con nhà hào phú
có quyền tự bảo vệ mình, chữ trinh là quan trọng hàng đầu
Nương phải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến tự vẫn
=> Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến phải chịu nhiều bất công, không thể tự minh oan cho mình, luôn phải chịu đựng, bất lực dưới chế độ nam quyền hà khắc
Câu 4:
chuyện Chi tiết chiếc bóng là đầu mối câu chuyện tạo sự bất ngờ, tăng kịch tính Tác giả có sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” bằng cách thêm bớt những chi tiết độc đáo
nhân vật cùng đặc điểm tính cách và nội tâm sâu kín
Câu 5:
mất
Trang 7• Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng nghĩa, nặng tình, quan tâm đến chồng con, khao khát được phục hồi danh dự
ước mơ về lẽ công bằng ở đời của nhân dân ta
xa cách ở giữa dòng, âm dương vẫn chia lìa, hạnh phúc vĩnh viễn rời xa Đây là giấc mơ nhưng cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả Nó để lại dư vị ngậm ngùi và bài học thấm thía về hạnh phúc gia đình
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH (trích “Vũ trung tùy bút” - Phạm Đình Hổ) Câu 1:
cận:
• Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ: diễn ra thường xuyên, huy động rất đông người hầu hạ, bày đặt nhiều trò giải trí lố lăng và tốn kém
thiên hạ về tô điểm cho nơi ở của chúa
miêu tả tỉ mỉ vài sự kiện để khắc họa ấn tượng
cổ mộc quái thạch”, nhưng âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn, dấu hiệu của sự tan nát, đổ vỡ, điều chẳng lành, ấy chính là “triệu bất tường”
Câu 2:
nghĩa dâng lên chúa
Trang 8• Vu vạ cho các nhà giàu trong kinh thành tội giấu vật cung phụng, khiến
họ phải bỏ của ra kêu van chí chết
an, mất mát của người dân và của chính tác giả
phú và sinh động, vừa khách quan, chân thực, vừa có thái độ và cảm xúc chủ quan của tác giả
Câu 3:
người cụ thể, cho nên thường có cốt truyện và nhân vật
thực, qua đó tác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ - Hồi thứ mười bốn
(Ngô Gia văn phái) Câu 1:
Trung và nghĩa quân Tây Sơn, sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh
và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống
vua tôi Lê Chiêu Thống
Câu 2:
Trang 9• Tinh thần dân tộc, ý thức giữ gìn nền độc lập lâu bền, cuộc sống yên bình cho nhân dân
quyết đoán, tự tin
• Trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn ra trông rộng, tham vọng lớn lao
• Tài điều binh khiển tướng, thường phạt nghiêm minh, thu phục lòng người, tài quân sự kiệt xuất
=> Đại diện cho tình thần, ý chí, sức mạnh của phong trào Tây Sơn, của cả dân tộc
chiến trận, cảm xúc ngợi ca, ngưỡng mộ, nhãn quan hiện thực và tinh thần tự hào dân tộc
Câu 3:
kịp mặc áo, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết
thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối; hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều; chạy về nước, trên đường đông nghịt như chợ, đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi
hào…
Trang 10• Lối trần thuật sinh động, giọng điệu có phần mỉa mai khi kể về sự chủ quan, ngạo mạn của Tôn Sĩ Nghị và vua Lê, giọng ngậm ngùi khi nói về cảnh ngộ bi thảm của ông vua cuối cùng nhà Lê
Câu 4:
Sự khác biệt của ngòi bút tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy:
đạp lên nhau
miêu tả bề bộn, phong phú
châm biếm hài hước
mang, bế tắc của những kẻ thất bại
• Bút pháp tả thực, miêu tả chi tiết
Lí do có sự khác biệt: bởi 1 bên là thái độ của tác giả đối với quân ngoại xâm hống hách, hung tàn, 1 bên là thái độ đối với đời vua cuối cùng của 1 triều đại lớn của dân tộc
TRUYỆN KIỀU (Nguyễn Du) Câu 1: Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời của Nguyễn Du ảnh hưởng đến
việc sáng tác “Truyện Kiều”:
thơ sung túc, yên ấm Nhưng cảnh sống yên bình ấy không kéo dài, ông sớm mồ côi cha (10 tuổi) và mẹ (13 tuổi) phải sống nương nhờ vào người anh trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản Những mất mát này có ảnh hưởng lớn đến tính cách của Nguyễn Du
Trang 11• Khi vương triều Lê - Trịnh sụp đổ, gia đình Nguyễn Du cũng bị li tán Ông lưu lạc nhiều nơi, từng trải qua cuộc sống nghèo khổ, bế tắc rồi trở về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh Những trải nghiệm nhân sinh rộng lớn, vốn sống phong phú giúp nhà văn dễ dàng thấu hiểu, thảm thông với nỗi đau khổ của con người trong kiếp sống nhân gian
Ông từng hai lần được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc (năm 1813 và 1820) nhưng lần thứ hai chưa kịp đi thì bị bệnh và qua đời
bình yên, bằng phẳng Những thăng trầm lịch sử, những biến cố gia đình và những trải nghiệm cá nhân đã đưa tác giả đến gần hiện thực, hiểu sâu sắc bản chất hiện thực, thấm thía hơn nỗi đau khổ, bất hạnh của con người trong xã hội đương thời
Câu 2: Sách giáo khoa trang 78 + 79
CHỊ EM THÚY KIỀU Câu 1:
Kiều, trong đó Thúy Kiều được làm nổi bật hơn
Câu 2:
hoa cười ngọc thốt, mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Câu 3:
Trang 12• Về nhan sắc của Thúy Kiều: đôi mắt trong như nước mùa thu (làn thu thủy), nét mày thanh tú như dáng núi mùa xuân (nét xuân sơn), hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
khuôn mặt được miêu tả qua những hình ảnh ước lệ nhưng Kiều lại là phần hơn,
là vẻ đẹp tuyệt sắc, tuyệt tài, đặc biệt tạo ấn tượng sâu sắc ở đôi mắt
Câu 4:
Kiều:
mĩ thời trung đại, cầm (đánh đàn, viết nhạc), thi (làm thơ), họa (vẽ tranh) đều tinh thông, vượt trên mọi người
sầu
Câu 5:
của Thúy Kiều “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là dự báo số phận của
2 người Nếu “thua”, “nhường” nghiêng về diễn tả hành động, biểu đạt trạng thái
bị động, chấp nhận ở vị thế thấp hơn, kém hơn, thì “ghen”, “hờn” lại phản ánh tâm lý bất an, thường gắn liền với những hành động phản ứng tiêu cực Những
từ ngữ được sử dụng cho thấy chủ định của Nguyễn Du: từ ngoại hình ngụ ý tính cách, dự báo số phận Cuộc đời binh yên, không sóng gió của Thúy Vân, cuộc đời trắc trở, thăng trầm của Thúy Kiều
Câu 6:
Bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật hơn Đặt chân dung Thúy Kiều sau chân dung Thúy Vân, Nguyễn Du không chỉ muốn nhắn nhủ với người đọc về cách nhìn Kiều trong tương quan đối sánh mà còn muốn dùng thủ pháp đòn bẩy để làm nổi bật, tôn lên
vẻ đẹp tuyệt đỉnh của nàng Nhan sắc hoàn hảo, lý tưởng của Thúy Vân đóng vai trò làm nền để vẻ đẹp xuất sắc, hơn người, khác biệt của Thúy Kiều được tỏa sáng Dung
Trang 13lượng câu thơ dùng để miêu tả Thúy Kiều nhiều hơn so với Thúy Vân, các phương diện
về Thúy Kiều cũng được tác giả miêu tả, khẳng định toàn diện hơn
CẢNH NGÀY XUÂN Câu 1:
mông
điểm xuyết trên nền cỏ xanh
• Kết hợp tượng trưng, ước lệ và tả thực: diễn tả thời gian, tác giả dùng hình tượng “con én đưa thoi”, vừa có ý nghĩa ẩn dụ vừa mang tính tượng trưng Hoa lê và cỏ cũng là những hình ảnh quen thuộc của mùa xuân nhưng được miêu tả sống động, chân thực
ảnh, không nhiều đường nét và rất ít màu sắc mà vẫn làm toát lên cái hồn của cảnh kích thích tưởng tượng của người đọc về vẻ đẹp tươi mới, rạng
rỡ mà thuần khiết của thiên nhiên mùa xuân
Câu 2:
tro tiền ⇒ đa phần là từ ghép, cặp danh từ sóng đôi gợi lên sự đông vui, tấp nập
hoạt động tất bật, náo nhiệt của ngày hội
hoan của người đi hội
Trang 14• Cảm nhận về lễ hội: tiết thanh minh vào đầu tháng 3 khí trời mát mẻ, tác giả đã rất tài tình khi tách 2 từ lễ và hội ra làm đôi để gợi tả 2 hoạt động diễn ra cùng 1 lúc: “lễ tảo mộ” và “hội đạp thanh” Không khí lễ hội tưng bừng nhộn nhịp, rộn
rả âm thanh, náo nức tiếng cười, đậm không khí vui tươi hạnh phúc của ngày xuân, của tuổi trẻ
Câu 3:
người xuất hiện cùng với cảnh vật
• Thanh thanh: miêu tả khung cảnh với những đường nét, hình ảnh nhỏ nhắn, xinh xắn, hài hòa, gợi cảm giác dễ chịu
• Nao nao: trạng thái tâm lý kết hợp các sắc thái buồn, lo âu, bồn chồn, tâm trạng hóa dòng nước, thiên nhiên cũng rung động, xao xuyến như tâm hồn con người
=> đoạn thơ 6 câu nhưng có đến 5 từ láy, từ nào cũng được sử dụng đích đáng, góp phần gia tăng tính tạo hình, tạo nhạc cho câu thơ, khiến bức tranh thiên nhiên hiện lên sinh động với âm thanh, đường nét, chuyển động Các từ láy có sự tượng ứng về sắc thái biểu đạt, diễn tả trạng thái tương đồng của cảnh vật, gợi tả tâm trạng con người
của con người Nguyễn Du không những vẽ cảnh mà còn vẽ lên được cả tâm cảnh Không còn cái ồn ào, rộn rã bề bộn âm thanh và đường nét, cảnh được miêu tả bằng những nét thanh, mỏng, nhẹ Những xao động của lòng người khiến cho cảnh vật thơ mộng cũng man mác sầu giăng Đó là nỗi vương vấn của ngày vui sắp hết, đó dường như cũng là linh cảm về điều không lành sắp đến
Câu 4: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du:
Trang 15• Thời gian: theo diễn biến của cuộc du xuân
hội hè và kết lại là cảnh con người giữa thiên nhiên
người trong cuộc
tả, chấm phá và miêu tả chi tiết
• Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sâu sắc và tinh tế
KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH Câu 1:
chiều cao qua cái nhìn của Kiều Cảnh “non xa”, “trăng gần” gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông trời nước Từ trên cao lầu nhìn
ra thì thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt, trời đất càng bao
la thì hình ảnh lầu Ngưng Bích càng trở nên nhỏ bé Cái lầu trơ trọi ấy giam hãm
1 thân phận cô động, không 1 bóng hình người thân, không 1 người bầu bạn Những hình ảnh mang tính ước lệ, gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian
và qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều
và đêm Kiều chỉ có 1 mình thui thủi, nàng rơi vào cảnh cô đơn tuyệt đối Trong hoàn cảnh ấy, Kiều thấy bẽ bàng cho thân phận mình, nàng ớn lạnh cho sự lẻ loi, nỗi cô đơn dồn tới lớp lớp khiến tấm lòng Kiều như bị chia sẻ, tâm trạng như đang bị vò xé
ai
Câu 2:
thiêng liêng của đêm thề nguyền đính ước Nay nàng nhận ra mình như
Trang 16trở thành kẻ bội ước, day dứt và xót xa Nàng nhớ người yêu với 1 tâm trạng đau đớn và tha thiết khôn nguôi
không thể phụ dưỡng song thân, băn khoăn không biết 2 em có thay mình chăm sóc cha mẹ chu đáo hay không Nàng tưởng tượng nơi quê nhà đã
có sự đổi thay, cha mẹ ngày một già yếu Nhớ cha mẹ Kiều luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ
lý, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du Với cha mẹ một phần nào đó Kiều đã báo hiếu bằng việc bán mình cứu cha và em Còn với Kim Trọng mối tình đầu đẹp đẽ ấy, nàng luôn day dứt vì mình đã phụ tình chàng Kim…
nàng đã quên đi bản thân mình mà hướng về những người yêu thương nhất Trái tim của Kiều thật giàu đức hi sinh Nàng là một người con hiếu thảo với tấm lòng thủy chung son sắt, tấm lòng vị tha đáng quý, một nhân cách đánh trận trọng
Câu 3:
thực nhưng cũng là tâm cảnh Mỗi biểu hiện của cảnh là ẩn dụ về tâm trạng con người Mỗi cảnh lại khơi gợi ở Kiều một nỗi buồn khác nhau Khi nỗi buồn ấy tác động vào cảnh khiến cho cảnh trở nên buồn hơn, cảnh tình tương hợp
ngọn nước mới xa… đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau Điệp ngữ
“buồn trông” được kết hợp các từ láy tượng hình và tượng thanh diễn tả nỗi buồn như dần tăng lên, dâng lên tầng tầng, lớp lớp, nỗi buồn trong vô vọng và vô tận
MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU Câu 1: Ngoại hình và tính cách của Mã Giám Sinh:
trên ngồi tót sỗ sàng; Đắn đo cân sắc cân tài, ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ; Cò kè bớt một thêm hai, …)
Trang 17• Tính cách: thể hiện bản chất con buôn, bất nhân, xem con người chỉ như một món hàng hoá có thể mua bán, thậm chí cò kè bớt xén; giả dối từ việc giới thiệu
lí lịch cho đến trình bày mục đích mua Kiều: “Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều – Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?” …
=> Con người kệch cỡm, sỗ sàng của tên buôn người bất nhân
Câu 2: Hình ảnh Thúy Kiều:
duyên với chàng Kim
là nỗi đau đớn đến tột cùng Từ một cô gái khuê các, sống trong cảnh "trướng gấm màn che" bỗng dưng nàng bị ném vào cuộc đời ô trọc, bầm dập
đoạn, cha và em bị đánh đập, cửa nhà tan nát thế nhưng nàng phải đánh đàn, phải làm thơ để cho Mã Giám Sinh vừa lòng, trong lòng thì lại chất chứa lo lắng vì số phận sắp tới của mình
Câu 3: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du
con người bị chà đạp
• Vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và đồng tiền lộng hành; Gián tiếp lên
án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào tình cảnh đau đớn, lên án thế lực đồng tiền bất nhân
THÚY KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN Câu 1:
trọng việc Thúc Sinh đã chuộc mình ra khỏi lầu xanh Việc hai người không vẹn tình vợ chồng là do Hoạn Thư ghen tuông Bởi thế nàng báo ân cho Thúc Sinh
chữ tòng, cố nhân, tạ,… Trong khi đó, khi nói về Hoạn Thư thì lời lẽ nôm na, dùng thành ngữ dân gian: quỷ quái tinh ma, kẻ cắp bà già, kiến bò miệng chén
Trang 18Đây là hai thái độ, một đằng là với người được báo ân thì trịnh trọng, phù hợp với tính cách của một nho sinh ưa chữ nghĩa Còn với Hoạn Thư thì lời lẽ nôm
na, theo kiểu dân gian
Câu 2:
Câu 3:
• Trình tự lí lẽ:
đưa Thúy Kiều – quan tòa về vị trí là người cùng giới, cùng chịu những thiệt thòi
khỏi Như vậy tội của Hoạn Thư là tội của cả giới phụ nữ Nếu kết tội ghen thì phải kết tội cả giới phụ nữ
Quan Âm để biết kinh, khi Kiều trốn đi thì không đuổi theo nữa Hoạn Thư còn khéo lấy lòng rằng thị vẫn kính yêu, nhưng vì chung chồng nên khó mà chiều
gai”, và xin mở lượng khoan hồng
=> Lí lẽ của Hoạn Thư chặt chẽ, khôn ngoan, đã tác động mạnh đến Thúy Kiều Từ chỗ quyết tâm trừng phạt, báo thù, Kiều đã tha bổng cho Hoạn Thư
=> Qua lí lẽ của Hoạn Thư, ta càng thấy Hoạn Thư là người khôn ngoan, đúng như lời luận tội, nhưng cũng có thể hiểu là lời đánh giá chính xác của Thúy Kiều: Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
Câu 4
• Thứ nhất là lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày lí do để cãi tội
bài nào chăng”
Trang 19=> Trong tình huống đó, nếu Kiều vẫn không tha cho Hoạn Thư thì nàng sẽ mang tiếng
là người nhỏ nhen, là người cố chấp khi kẻ tình địch đã biết nhận lỗi, đã cất lời xin
Câu 5
và đền ơn xứng đáng Ai có lỗi thì nàng trừng phạt
chề, nhục nhã, người từng “bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”, nay vẫn thừa lọc lõi, “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, bản chất quỷ quyệt giấu trong vẻ “hồn lạc phách xiêu”, khiến Kiều phải xuôi lòng tha bổng
LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA (trích “Truyện Lục Vân Tiên”, Nguyễn Đình Chiểu) Câu 1:
Truyện Lục Vân Tiên có kiểu kết cấu ước lệ theo khuôn mẫu của truyện truyền
thống: người tốt gặp gian truân, bị kẻ xấu hãm hại nhưng được phù trợ và cứu giúp, cuối cùng được đền đáp xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị Đây là loại truyện thể hiện khát vọng cháy bỏng của nhân dân: ở hiền gặp lành, cái thiện chiến thắng cái ác
Câu 2: Nhân vật Lục Vân Tiên:
cướp động lại được trang bị gươm giáo đầy đủ) => lòng dũng cảm và tính cách trượng nghĩa, tài năng hơn người
• Ân cần hỏi han, an ủi hai cô gái được cứu => chu đáo, tình cảm
chính trực
toán, vô tư, trong sáng
Câu 3: Nhân vật Kiều Nguyệt Nga:
lòng biết ơn hết sức mực thước, chân thành, dịu dàng
Trang 20• Sâu sắc, chín chắn: Kiều Nguyệt Nga ý thức rất rõ ơn nghĩa của Lục Vân Tiên, chàng không chỉ cứu mạng mà còn giúp nàng bảo toàn phẩm giá, danh tiết Nàng cũng ý thức được tình cảnh éo le của bản thân nên khẩn thiết mong Lục Vân Tiên cùng mình về Hà Khê để được báo đáp
muốn đền ơn Với nàng, ơn trọng của Lục Vân Tiên có đền đáp bao nhiêu cũng không đủ Cuối cùng, Kiều Nguyệt Nga đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với chàng trai anh hùng, nghĩa hiệp Tình cảm của nàng cao hơn sự rung động nam
- nữ đơn thuần, nó là hiện thân cho suy nghĩ và lối sống trọng nghĩa - một chuẩn mực đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt đề cao
họ mang nhiệt tình thực thi đạo đức
Câu 5:
Đặc sắc ngôn ngữ: ít từ ngữ HÁn Việt và điển tích, điển cố, mang đậm hơi thở Nam Bộ, mộc mạc, giản dị nhưng sinh động, gần gũi với người dân Nguyễn Đình Chiểu
ít chú ý đến việc trau chuốt, gọt đẽo câu chữ, ngôn từ trong đoạn trích nói riêng, trong
“Truyện Lục Vân Tiên” nói chung không cầu kì, hoa mĩ mà nghiêng về vẻ đẹp tự nhiên, sinh động
LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN Câu 1: Chủ đề của đoạn trích “Lục Vân Tiên gặp nạn”: thể hiện niềm tin vào những
điều tốt đẹp ở đời
Câu 2
Trang 21• Đây là một đoạn thơ đặc sắc Chỉ tám dòng thơ, tác giả đã sắp xếp các tình tiết một cách hợp lí, thể hiện diễn biến hành động rất mau lẹ, có tính toán và rất độc
• Hai câu thơ: "Hối con vầy lửa một giờ/ Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày"
đã ẩn chứa bao ân tình của cả một gia đình vợ chồng, con cái đối với người gặp nạn
cùng sớm hôm chia sẻ cuộc sống đạm bạc nhưng đầm ấm tình người
chất tốt đẹp của con người lao động bình thường Đó là quan điểm nhân dân tiến
bộ của Nguyễn Đình Chiểu
Câu 4
thái độ trân trọng cuộc sống bình dị, tự do, thanh thản của Nguyễn Đình Chiểu:
“Thuyền nan một chiếc ở đời / Tắm mưa trải gió trong vời Hoàng Giang”
nhiên, thảnh thơi giữa sông nước gió trăng Đó cũng là một cuộc sống tự do, tự tại, nhờ cậy vào đôi tay của chính mình
ĐỒNG CHÍ (Chính Hữu) Câu 1: Dòng thứ bảy của bài thơ có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài
thơ được triển khai như thế nào trước và sau dòng thơ đó?
đáo qua ngòi bút của Chính Hữu Dòng thơ được tách riêng độc lập, là một câu