1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quyền sống và hình phạt tử hình trong pháp luật việt nam

10 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 23,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sống là thuật ngữ mô tả về một sự tin tưởng rằng con người hoàn toàn được quyền có điều kiện và các yếu tố cần thiết để sinh sống và không bị giết bởi một chủ thể khác (con người, nhà nước, các tổ chức....) về các vấn đề nạo phá thai, án tử hình, cái chết nhân đạo, giết người để tự vệ và chiến tranh. Quyền sống là một trong những nội dung quan trọng của Nhân quyền.

Trang 1

A. Mở đầu

Mỗi chúng ta sinh ra đều có những nhu cầu cơ bản vốn sinh ra đã có, không một ai có quyền xâm phạm vào những nhu cầu đó Và nhà nước thùa nhận những nhu cầu đó trong pháp luật hiện hành, tập hợp tất cả chúng lại thành một chế định được gọi là quyền con người Mỗi con người sinh ra điều đầu tiên chúng ta cần luôn là mong muốn được sống Nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền sống đó Ai cũng có quyền sống ngang nhau, vậy tại sao nhà nước lại đặt

ra hình phạt tử hình, một hình phạt tước đi quyền đó? Mối liên hệ giữa quyền sống và hình phạt tử hình là gì? Ở Việt Nam với tội phạm kinh tế, đặc biệt là tội tham nhũng thì có nên bỏ hình phạt này không? Để hiểu rõ hơn về những vấn đề trên em xin viết bài tiểu luận nhỏ trình bày vấn đề

B. Nội dung

I. Quyền sống trong pháp luật pháp luật Việt Nam

1 Khái niệm quyền sống

Quyền sống là thuật ngữ mô tả về một sự tin tưởng rằng con người hoàn toàn được quyền có điều kiện và các yếu tố cần thiết để sinh sống và không bị giết bởi một chủ thể khác (con người, nhà nước, các tổ chức ) về các vấn đề nạo phá thai, án tử hình, cái chết nhân đạo, giết người để tự vệ và chiến tranh Quyền sống là một trong những nội dung quan trọng của Nhân quyền

Quyền sống đầu tiên chính thức được đề cập trong Điều 3 Tuyên ngôn Quốc

tế Nhân quyền (UDHR) Điều này gắn kết quyền sống với các khía cạnh có liên quan khác thành một quyền gọi là quyền sống, tự do và an ninh cá nhân Sau đó được đề cập đến trong các Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về quyền trẻ em Trước đó, trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ cũng

có khẳng định về quyền sống Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc lại trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945 cho rằng: Mọi người sinh ra

đề có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và đây là những quyền không ai có thể xâm phạm được Sau đó, Chủ tịch cũng đề cập đến việc

Trang 2

phát xít Nhật và thực dân Pháp, can thiệp Mỹ là những lực lượng đang vi phạm nhân quyền người Việt Nam

Điều 6 Công ước ICCPR ghi nhận: "Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện" Quyền sống là “quyền cơ bản của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị

vi phạm ”

Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng Hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người Theo cách tiếp cận này, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động

2 Quyền sống trong pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, nhất quán với nguyên tắc tất cả vì tự do và hạnh phúc nhân dân, Ðảng và Nhà nước ta vừa không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tiền đề pháp lý bảo đảm quyền con người, vừa luôn xây dựng các chính sách cụ thể để từng bước cải thiện, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Luật thực định Việt Nam hiện nay có nhiều quy định liên quan đến quyền sống của con người Những khẳng định về quyền sống của con người không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như những văn bản pháp luật, theo đó là những chế tài bảo vệ quyền sống của con người Hiến pháp 2013 và Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 là minh chứng nổi bật và rõ nét cho khẳng định về việc thừa nhận, khẳng định và bảo vệ quyền sống của con người

* Trong Hiến pháp 2013

Trang 3

Quyền sống là một trong những quyền của con người, con người khi sinh ra

và mặc mặc nhiên tạo hóa đã ban cho họ quyền được sống vì họ là con người

Điều này được khẳng định rõ trong Điều 19 Hiến pháp 2013: “Mọi người có

quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Quyền sống là quyền vốn có của con người, ở bất kì nơi

đâu, không phân biệt giai cấp, giới tính, tôn giáo, quốc tịch – là con người sẽ có quyền được sống và được pháp luật bảo vệ Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng suy rộng quyền của con người từ bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của

Mỹ: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng

có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” Pháp luật Việt Nam không

chỉ thừa nhận, công nhận quyền sống của công dân mà còn đưa ra các quy định

để đảm bảo, bảo vệ và làm tốt hơn quyền đó Con người sống phải được thụ hưởng những điều tốt đẹp trong khuôn khổ pháp luật cho phép; con người, công dân được làm chủ trong tất cả các mặt của đời sống xã hội là thước đo cho quyền sống hạnh phúc:

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Có thể thấy, quyền sống quy định trong Hiến pháp năm 2013 đồng nghĩa với việc ràng buộc nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ sự sống của con người mọi lúc, mọi nơi và chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp cần thiết theo Luật định

* Bộ luật Hình sự năm 2015

Trang 4

Nói về quyền sống của con người, nếu như Hiến pháp 2013 có những quy định khẳng định, thừa nhận quyền sống, thì Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 đưa

ra những chế tài quy định tội danh, khung hình phạt đối với những đối tượng xâm phạm đến quan hệ xã hội mà luật Hình sự bảo vệ, trong đó có quyền sống – tính mạng của con người

Khoản 1 Điều 40 quy định: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối

với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này

Có thể thấy, điều khoản trên đã cụ thể hóa những trường hợp phạm tội có thể phải chịu án tử hình - tức là tước đi mạng sống con người Người nào tước đi quyền sống, tính mạng của người khác sẽ phải chịu án tử hình Như vậy, quyền sống của con người được pháp luật bảo vệ, bảo đảm tồn tại Ngoài những trường hợp nêu trên, tổ chức, cá nhân phạm tội mà gây thiệt hại đến tính mạng con người thì chịu những chế tài tương ứng

Điều 123 quy định về Tội giết người:

“1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từu 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết ngừi dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang ti hành công vụ hoặc vì lý do ông vụ của nạn nhân;……”

Ngoài ra, trong Bộ luật Hình sự còn rất nhiều quy định, chế tài nhằm bảo vệ quyền sống của con người như: Điểm a khoản 4 Điều 134 quy địnhĐiểm b khoản 2 Điều 135, Khoản 3 Điều 136, Điểm c khoản 4 Điều 171, Điểm g khoản

2 Điều 192… Có thể nói, Bộ luật Hình sự là cơ sở pháp lý đầy đủ và cụ thể nhất

Trang 5

để Nhà nước, tổ chức, cá nhân tùy theo thẩm quyền căn cứ vào đó mà có những hành động bảo vệ, lên án và trừng phạt những hành vi xâm phạm quyền sống của con người

II. Hình phạt tử hình trong pháp luật pháp luật Việt Nam

Ở nước ta, hình phạt tử hình đã được áp dụng từ thời phong kiến cho đến nay Tuy điều kiện và hoàn cảnh mỗi thời kỳ mà cách thức và mức độ áp dụng hình phạt này có những điểm khác nhau

Hiện nay Việt Nam vẫn còn duy trì hình phạt tử hình trong BLHS Theo quy định tại Điều 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì:

“1 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt

nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3 Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết

án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4 Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân”.

Trang 6

Trong Bộ luật Hình sự 2015 tổng cộng có bảy tội danh đã được xoá bỏ hình phạt tử hình bao gồm: Cướp tài sản; Sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Chiếm đoạt chất ma túy; Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Chống mệnh lệnh; Đầu hàng địch Đồng thời, BLHS cũng đã bỏ tội danh hoạt động phỉ mà trước đây có quy định hình phạt tử hình

Các tội danh hiện còn áp dụng hình phạt tử hình theo BLHS 2015 bao gồm: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Giết người (Điều 123); Tham ô tài sản (Điều 353); Nhận hối lộ (Điều 354); Phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); Chống loài người (Điều 422); Tội phạm chiến tranh (Điều 423); Phản bội Tổ quốc (Điều 108); Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Bạo loạn (Điều 112); Gián điệp (Điều 110); Khủng bố (Điều 299); Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250)

Mặc dù BLHS hiện hành quy định hình phạt tử hình đối với 18 tội danh, nhưng trên thực tế thời gian vừa qua ở Việt Nam các Tòa án chủ yếu áp dụng hình phạt này với tội giết người và các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

BLHS năm 2015 cũng đã bổ sung các quy định mới bao gồm: không áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành án tử hình đối với họ (các khoản 2, 3 Điều 40); không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối

lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (điểm c khoản 3 Điều 40) Ngoài ra, BLHS năm

2015 đã bổ sung trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên: “Đối với người bị kết

án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định

Trang 7

tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm” (khoản 6 Điều 63)

III Mối quan hệ giữa quyền sống và hình phạt tử hình

Cần khẳng định rằng, quyền sống là quyền tối cao nhưng không phải là quyền tuyệt đối tức là quyền sống vẫn có thể bị tước đoạt tính mạng trong trường hợp nhất định Pháp luật cho phép tước đi sự sống của con người nhằm trừng trị, giáo dục, răn đe không phải chính người phạm tội mà giái dục những người khác trong xã hội Về mặt lý luận, hình phạt tử hình không trái với nguyên tắc nhân đạo bởi Bởi đây là hình phạt cướp đi mạng sống người phạm tội nên các quan điểm chống lại hình phạt tử hình thường chỉ trích rằng nó vô nhân đạo đối với người phạm tội Chúng ta cần phải hiểu rằng tính nhân đạo của pháp luật biểu hiện ở

sự dung hòa lợi ích của xã hội và lợi ích của người phạm tội Việc đề cao lợi ích của người phạm tội mà quên đi lợi ích của toàn xã hội không thể xem là thỏa mãn nguyên tắc nhân đạo của pháp luật Một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại đặc biệt cho xã hội và còn tiếp tục đe dọa đến sự an toàn của

xã hội thì việc nhân đạo đối với họ chính là vô nhân đạo đối với toàn thể cộng đồng xã hội Đứng ở góc độ xã hội, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc hơn,

đó là hình phạt tử hình để đảm bảo mục đích phòng ngừa của hình phạt Như vậy, hình phạt tử hình đã thể hiện tính nhân đạo một cách tương đối thông qua khía cạnh xã hội là loại bỏ mối đe dọa nguy hiểm cho xã hội, răn đe và giáo dục người khác không phạm tội hay từ bỏ ý định phạm tội Ngoài ra hình phạt tử hình góp phần nâng cáo phẩm giá con người, đảm bảo chất lượng cuộc sống và đảm bảo an toàn xã hội Chúng ta phải xác định rằng pháp luật đang bảo vệ lọi ích của người bị hại và của cả cộng đồng Trong tình hình hiện nay, tội phạm đang diễn ra hết sức phức nghiêm trọng, nhất là đối với tội phạm về tham nhũng,

ma túy, hiếp dâm, giết người, cướp tài sản Trong những vụ phạm tội này, người phạm tội đã gây thiệt hại hàng nghìn tỉ đồng cho Nhà nước từ các vụ tham

Trang 8

nhũng, nhiều gia đình tan nát vì vướng phải ma túy, nhiều trẻ em bị khủng hoảng suốt đời vì bị hiếp dâm Ở bối cảnh đó, vai trò của hình phạt tử hình sẽ ngày càng được làm rõ Chúng ta hãy hình dung đối với một người phạm tội đặc biệt nguy hiểm nhưng không bị áp dụng hình phạt tử hình Ở trong trại giam, người này có thể đe dọa về tính mạng cho những phạm nhân khác Đó là chưa kể người này thoát khỏi sự kiểm soát của trại giam, cả cộng đồng đặt trong một tình trạng cực kỳ nguy hiểm Kể cả khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt (tù chung thân mà được giảm án), và một ngày họ sẽ được trở về Khi đó những người từng làm chứng chống lại họ, những đối thủ của họ, thậm chí cả những người đã từng xét xử họ… sẽ không có được cuộc sống yên ổn vì lo âu, sợ hãi,

sợ một ngày nào đó bị trả thù Do đó, hình phạt tử hình được xem là điều kiện tốt để mang lại một cuộc sống có chất lượng và an ninh cho toàn xã hội

Pháp luật của Nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, xuất phát từ yêu cầu khách quan về phòng, chống tội phạm, nhất là trong bối cảnh tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, tính chất và mức độ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên chưa thể loại bỏ hình phạt tử hình trong hệ

thống hình phạt Điều 19 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền

sống Tính mạng của con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật”, tức là việc tước đoạt tính mạng người khác phải theo quy

định nghiêm ngặt của pháp luật và chỉ thuộc trường hợp được quy định trong Bộ luật hình sự Mọi hành vi tước bỏ quyền sống của người khác một cách trái pháp luật bằng bất kỳ cách thức, phương tiện nào, với lỗi cố ý hay vô ý thì phạm vào tội giết người/làm chết người Người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015

Nhà nước Việt Nam đang thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong

hệ thống hình phạt Bộ luật hình sự năm 1985 có 44 điều luật quy định khung hình phạt tử hình, Bộ luật hình sự năm 1999 còn 29 điều và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa XII thông

Trang 9

qua ngày 19/6/2009 bỏ hình phạt tử hình ở 08 điều luật còn 21 điều luật có khung hình phạt tử hình; đến Bộ luật hình sự năm 2015 còn 18 điều luật quy định có khung hình phạt tử hình Việc giảm dần các điều luật có quy định hình phạt tử hình là hợp lý, thể hiện sự tương xứng giữa chế tài áp dụng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, phù hợp xu hướng chung trên thế giới thu hẹp dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Đồng thời, những quy định trên thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển văn minh của nhân loại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Đối với mỗi quốc gia thì cơ chế bảo vệ quyền sống và áp dụng biện pháp tử hình có sự khác nhau bởi như nhận định ở trên quyền sống không chỉ là việc duy trì sự sống thông thường mà nhà nước phải có những cơ chế bảo đảm con người được sống theo đúng nghĩa là một “con người” Vì vậy, việc áp dụng hình phạt

tử hình luôn được đặt trên các nguyên tắc nhất định như sau:

Thứ nhất, chỉ được áp dụng hình phạt tử hình đối với những tội ác nghiêm

trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện việt nam hiện nay vẫn còn giữ hình phạt tử hình đối với một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong đó thường áp dụng nhất là đối với các tội như giết người, các tội phạm về ma túy…

Thứ hai, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với các quốc gia thành viên

không được trái với những quy định của ICCPR và của công ước về ngăn ngừa

và trừng trị tội diệt chủng (CPPCG) Việc các quốc gia thành viên tham gia kí kết vào công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị nghĩa là phải tuân theo những nguyên tắc chung của công ước này nhằm mục đích không chỉ bảo vệ quyền sống của công dân ở mỗi quốc gia mà còn là quyền sống của mọi con người trên toàn thế giới

Thứ ba, hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu

lực pháp luật, do một toàn án có thẩm quyền phán quyết Bất kì người nào bị kết

án tử hình đều có quyền xin và quyền được xét ân giảm hoặc thay đổi mức hình phạt

Trang 10

Thứ tư, không được áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi và

không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai

Có ý kiến cho rằng hình phạt tử hình là sự vi phạm quyền được sống của con người được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền Tuy nhiên, việc không áp dụng hình phạt tử hình không có nghĩa là bỏ qua tội ác của những người phạm tội và coi nhẹ nỗi đau của người bị hại và gia đình họ, có thể dụng biện pháp cải tạo khác như tù chung thân Tuy nhiên, hình phạt tử hình là biện pháp có hiệu quả răn đe đặc biệt, không thể thay thế trong việc ngăn ngừa tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như giết người, khủng bố, ma túy… Giết một người

để răn đe nhiều người Tử hình một người phạm tội giết người hoặc gây ra những tội ác nghiêm trọng khác là phù hợp với công lý, đền bù thích đáng nhất cho sự mất mát, khổ đau của những nạn nhân và gia đình họ Nếu việc áp dụng hình phạt tử hình bị coi là làm tổn hại phẩm giá, phi nhân đạo đối với người phạm tội thì việc không áp dụng hình phạt tử hình cũng có thể coi làm tổn hại phẩm giá của người bị hại và phi nhân đạo đối với toàn xã hội Hình phạt tử hình mang lại cho tất cả chúng ta, đặc biết với nạn nhân của tội phạm sự yên bình và không còn bị tội phạm tái xâm phạm Chúng ta phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân của người phạm tội Pháp luật quốc tế cũng không cấm hình phạt tử hình, mà chỉ khuyến khích các nước nên giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình

Tóm lại, giữa quyền sống và hình phạt tử hình luôn có mối quan hệ với nhau, phải luôn đặt quyền sống lên hàng đầu nhưng không có nghĩa quyền sống

là tối cao, là quyền tuyệt đối Đối với những tội phạm đặt biệt nghiêm trọng thì cần có hình phạt tử hình thích đáng để đem lại cuộc sống bình yên cho toàn xã hội

Ngày đăng: 02/10/2022, 21:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w