Hiểu được vấn đề đó nhóm 04 của lớp KNM 212_71SSK020003_52 đã tiến hànhnghiên cứu cũng như đưa ra những giải pháp và hành động thiết thực nhất để hướngđến một tương lai nơi các cá nhân t
Trang 1KỸ NĂNG MỀM TIỂU LUẬN NHÓM CUỐI KÌ II
DỰ ÁN : NGHIÊN CỨU VỀ CỘNG ĐỒNG LGBTQ+ TRÊN
TOÀN THẾ GIỚI Giảng viên hướng dẫn : Thân Thế Tuyên Lớp : 212_71SSK020003_52 Sinh viên thực hiện : Nhóm 04
5 Hoàng Thanh Hào 2173201080356
6 Nguyễn Thị Anh Minh 2173201081794
7 Lê Hoàng Mỹ Hà 2173201080011
8 Nguyễn Đinh Ngọc Hân 2173201080634
Trang 2H VÀ TÊN Ọ Mã sốố sinh viên
Tham gia họp đầy đủ.
Ý kiến đóng góp.
Thời gian hoàn thành
Chất lượng nội dung.
Hoàng Thanh Hào 2173201080356 25 25 25 25 100
Nguyễn Thị Anh Minh 2173201081794 25 25 25 25 100
Trang 3đang diễn ra phức tạp Trường đã sắp xếp để khoa Quan Hệ Công Chúng – TruyềnThông của chúng em được học môn Kỹ năng mềm Riêng lớp em -212_71SSK020003_52 được may mắn có sự dẫn dắt của thầy Thân Thế Tuyên Mởđầu cho bộ môn là chuỗi những tiết học online vì tình hình dịch bệnh, nhưng điều đócũng không gây ảnh hưởng gì đến chất lượng giảng dạy cũng như nội dung bài học màngược lại còn tạo cảm giác cho chúng em được gần gũi và rất hào hứng khi tham dựtiết học này Tuy chúng em là những cô cậu sinh viên năm nhất lần đầu tiên đến vớimôi trường Đại Học còn gặp nhiều bất cập và chưa làm quen được hết với việc họconline nhưng thay vào đó chúng em lại càng thêm phần may mắn khi được thầy truyềnđạt những kinh nghiệm mà thầy đã từng gặp trong cuộc sống, trong công việc cũngnhư ngành nghề mà tụi em đang theo đuổi hay những bí kíp giúp tụi em khắc phụcđược bản thân khiến cho bản thân ngày càng hoàn thiện và trở nên tốt đẹp hơn Mỗitiết học trôi qua khiến chúng em càng thêm yêu thích bộ môn Kỹ năng mềm Nhómchúng em tin chắc rằng mỗi thành viên trong nhóm em nói riêng và từng thành viêntrong lớp nói chung đều có riêng cho mình những bài học tâm đắc qua môn học cùngvới sự dẫn dắt đầy nhiệt huyết của thầy Những kĩ năng này sẽ trở thành bước đệm vàtiền đề để chúng em có thể tiến xa, phát triển, hoàn thiện bản thân trong tương lai vàmang đến những giá trị tích cực cho xã hội
Kỹ năng mềm là một môn học- một kỹ năng vô cùng quan trọng trong cuộcsống nói chung và ngành Quan hệ công chúng- Truyền thông nói riêng Đây là một kĩnăng không thể tự dưng có được mà cần trải qua quá trình học hỏi và áp dụng thực tế
Nghe sơ qua thì có vẻ dễ, nhưng đến khi bắt tay vào học chính là cả một quá trình dàirèn luyện và trau dồi hàng tỷ những kiến thức nhỏ đến lớn Với bài tiểu luận, chúng
em mong thầy đọc và cảm nhận được đầy đủ sự tâm huyết, nhiệt tình, trân trọng quatừng câu chữ mà mỗi thành viên trong nhóm chúng em gửi gắm đến bộ môn cũng nhưgửi gắm đến thầy Nhóm chúng em mong nhận được những lời nhận xét tận tình vàgóp ý từ thầy để chúng em khắc phục được những khuyết điểm và rút kinh nghiệm đểhoàn thiện hơn từng ngày
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Kính chúc thầy có nhiều sức khỏe!
Trang 4MỤC LỤC
Lời Cảm Ơn 2
Lời Mở Đầu 4
Chương 1: Lịch sử hình thành và khái niệm về cộng đồng LGBTQ+ 5
1.1 Lịch sử hình thành 5
1.2 Cơ sở lý luận, 5
1.2.1 Khái niệm về LGBTQ+ 5
1.2.2 Khái niệm về các thuật ngữ 6
1.2.3 Khái niệm về bảng dạng giới 6
1.2.4 Khái niệm xu hướng tính dục 8
Chương 2: Pháp luật đối với những người thuộc cộng đồng LGBTQ+ 9
2.1 Những quy định liên quan đến quyền của LGBTQ+ trong khuôn khổ liên hợp quốc 9
2.2 Tổng quan pháp luât ṭ quốc tế về bảo vê ṭquyền của người đồng tính 9
2.2.1 Cơ sở hình thành 9
2.2.2 Quá trình hình thành 10
2.2.3 Quyền của cộng động LGBTQ+ trong khuôn khổ Liên hợp quốc 10
2.3 Tại những nước không hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới 13
2.4 Tại những nước hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới 14
2.5 Tại Việt Nam 15
2.6 Bất cập trong việc bảo vệ quyền 17
Chương 3 : Thực trạng và thay đổi cách nhìn nhận về cộng đồng LGBTQ+ 17
3.1 Những nét văn hóa LGBTQ+ 17
3.2 Cách nhìn nhận về cộng đồng LGBTQ+ 19
3.2.1 Nguồn gốc của HIV và những bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục khác : 21
3.3 Các hoạt động, đề xuất để lấy lại quyền bình đẳng cho cộng đồng LGBTQ+22 3.3.1 Các hoạt động hiện có : 22
3.3.2 Các hoạt động, đề xuất trong tương lai : 24
3.4 Một số cá nhân nổi bật thuộc cộng đồng LGBTQ+ 27
Kết luận 31
Tài liệu tham khảo 32
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Các vấn đề liên quan đến cộng đồng LGBTQ+ từ lâu đã hiện hữu trong xã hội củaloài người nhưng trên thực tế sự kì thì dành cho những người thuộc cộng đồng này chỉcàng ngày càng được thể hiện rõ hơn khi xã hội ngày càng phát triển và các vấn đề vềmối quan hệ dị tính được xem như là điều tự nhiên còn quan hệ đồng tính là một thứ
gì đó cần được bài trừ và cần phải có những cách xử lý có thể nằm ở mức độ vô cùngtàn bạo
Từ đó, các vấn đề giành lại quyền dành cho các cá nhân thuộc cộng đồng LGBTQ+ đãngày càng được phát triển hơn, quyền bình đẳng cũng như sự hợp pháp hóa hôn nhânđồng giới đã được thông qua ở nhiều nước phát triển Tuy nhiên, đây vẫn còn là vấn
đề gây tranh cãi ở nhiều nước trên thế giới và nhiều người vẫn chưa có cái nhìn cởi
mở về cộng đồng và các nét văn hóa của cộng đồng
Hiểu được vấn đề đó nhóm 04 của lớp KNM 212_71SSK020003_52 đã tiến hànhnghiên cứu cũng như đưa ra những giải pháp và hành động thiết thực nhất để hướngđến một tương lai nơi các cá nhân thuộc cộng đồng LGBTQ+ có thể được là chínhmình mà không phải chịu đựng sự miệt thị, kì thị cũng như bị bài trừ bởi chính nhữngngười xung quanh , bài nghiên cứu này sẽ giúp mọi người có thể hiểu được rằng việccộng đồng LGBTQ+ có mặt tốt và mặt xấu như mọi thứ khác, vấn đề chỉ là ta quakhắt khe cho một thế giới theo khuôn mẫu mà ta được học từ lâu Bài tiểu luận củanhóm đã đặt ra hai tiêu chí rõ ràng trong số các mục tiêu hướng đến phát triển bềnvừng bao gồm sức khỏe cuộc sống tốt và bình đẳng giới
Trang 7CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ KHÁI NIỆM VỀ CỘNG ĐỒNG LGBTQ+
1.1 Lịch sử hình thành
Vào đầu thế kỉ XX, “homosexual” là một cụm từ được sử dụng phổ biến và rộng rãitại Mỹ để chỉ những người đồng tính với ý nghĩa tiêu cực Đến thập niên 50 và 60, từnay dần được thay thế bởi từ “homophile” Thập niên 70, từ “gay” được ra đời vàđược chấp nhận sử dụng bởi chính cộng đồng người đồng tính
Trong thời gian này, do vai trò của người phụ nữ trong xã hội không cho phép họthể hiện tính hướng của bản thân nên mối quan hệ đồng tính luyến ái nữ không đượcbiết đến nhiều Sau sự xuất hiện của một vài tổ chức đấu tranh cho nữ quyền và quyềnbình đẳng cho đồng tính nữ, từ “lesbian” dùng để chỉ “người đồng tính luyến ái nữ”
phân biệt với “gay” – những người đồng tính luyến ái nam
Hai thành phần khác của cộng đồng LGBT là những người Bisexual – Người songtính và Transgender – Người chuyển giới có xung đột với những người đồng tính nam
và nữ về sự khác biệt trong khuôn mẫu định hình cộng đồng Mặc dù những xung độtgiữa các nhóm này tới hiện nay đôi lúc vẫn còn xảy ra do bất đồng quan điểm nhưnghiện tại họ đã hướng tới cùng một mục tiêu xây dựng một cộng đồng lớn với mục đíchthể hiện bản thân và giáo dục xã hội về những nhóm người có xu hướng đặc biệt
Với tiền đề như vậy, thuật ngữ LGBT bắt đầu xuất hiện trong những phát ngôn củanhững nhà hoạt động tại Mỹ vào năm 1988 Năm 1999 chứng kiến sự ra đời của Hiệphội Lịch sử LGBT Sau một vài tranh cãi, cụm từ LGBT đã được chính thức côngnhận bởi cộng đồng Hiện nay từ này không chỉ bao gồm những nhóm người đượcđịnh danh trong tên gọi mà còn cả những nhóm nhỏ hơn
Năm 2016, một số nghiên cứu khảo sát của hãng truyền thống GLAAD, hiện nay thế
hệ trẻ đang ưa chuộng sử dụng từ LGBTQ hơn so với cụm từ nguyên gốc Họ chorằng Queer với định nghĩa thể hiện tính khác biệt về xu hướng tính dục hay bản dạnggiới Điều này sẽ giúp họ thể hiện bản thân một cách linh hoạt hơn Một biến thể kháccủa thuật ngữ này cũng được sử dụng phổ biến hơn là LGBTQ+ với ý nghĩa thể hiệnđược đa dạng các thành phần của cộng đồng Tuy nhiên, trong con mắt của thế hệ lớntuổi hơn thì Queer không phải là một từ mang ý nghĩa tích cực và có xu hướng bàixích thuật ngữ này
Đến nay, có thêm nhiều chữ cái mới và vấn đề vị trí giữa các chữ cái vẫn chưa đượcgiải quyết Nên nhiều người thường dùng LGBTQ+ để biểu thị rằng cộng đồng cònbao gồm những nhóm khác
1.2 Cơ sở lý luận, 1.2.1 Khái niệm về LGBTQ+
LGBTQ+ thể hiện sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại dựa trên xu
hướng tình dục (sexual orientation), bản dạng giới (gender identity), thể hiệngiới (gender expression), thiên hướng tình dục (sexual attraction) Xu hướngtình dục có các nhóm phổ biến: dị tính luyến ái (heterosexual), đồng tính luyến
Trang 8ái (homosexual), song tínhluyến ái (bisexual), toàn tínhluyến ái (pansexual), vô tínhluyến ái (asexual) theo bảndạng giới trái với giới tínhsinh học (biological sex) củamình là người chuyển giới,ngược lại người có bản dạnggiới phù hợp với giới tính sinhhọc là người hợp giới.
LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay(đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyểngiới) và Queer (có xu hướng tính dụng và bản dạng giới khác biệt, hoặc khôngnhận định mình theo bất kì nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạntìm hiểu bản thân)
Dấu + thể hiện sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như:
Non-binary (phi nhị nguyên giới), intersex (liên giới tính)
1.2.2 Khái niệm về các thuật ngữ
LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của một cộng đồng thuộc những người cónhững giới tính khác nhau như:
- Lesbian: đồng tính nữ
- Gay: đồng tính nam
- Bisexual: song tính
- Transgender: chuyển giới
- Q được chia thành hai nhóm
+ Queer: có xu hướng tình dục và bản dạng giới khác biệt hoặc khôngnhận định mình theo kỳ nhãn nào
+ Questioning: trong giai đoạn tìm hiểu bản thân
- “+” thể hiện sự tồn tại của các nhóm khác như: Non-binary (phi nhị nguyên giới),
intersex (liên giới tính)
LGBTQ+ thể hiện sự đa dạng về văn hóa và được hình thành từ xu hướngtình dục ( sexual orientation), bản dạng giới (gender identity), thể hiện giới(gender expression) và thiên hướng tình dục (sexual attraction)
1.2.3 Khái niệm về bảng dạng giới
Thuật ngữ “bảng dạng giới” được Robert J Stoller đặt ra vào năm 1964 Bảndạng giới hay còn gọi là bản dạng giới là nhận thức chủ quan của một người vềgiới tính của họ Bản dạng giới của một người có thể được xác định hoặc khôngvới giới tính được chỉ định sau khi sinh dựa trên giới tính sinh học của họ Bảndạng giới của một người thường được phản ánh trong việc đại diện cho giới tính,
Trang 9nhưng nó không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác nhất mọi trường hợp Mỗingười có thể có những hành vi, thái độ và ngoại hình tương ứng với một vai trògiới cụ thể, nhưng cách họ thể hiện chúng không nhất thiết phản ánh bản dạng giớicủa họ Bảng nhận dạng giới tính của một người có thể là nam hoặc nữ hoặc họ cóthể thuộc nhóm giới tính không kép, bao gồm các nhãn giới khác: vô tính, giới tínhlinh hoạt hoặc họ có thể là lưỡng tính, bán giới tính
Trong hầu hết các xã hội, có sự phân chia các thuộc tính giới tính cho nam và
nữ Nhị phân giới tính được hầu hết mọi người tuân theo và bao gồm các kỳ vọng
về nam tính cũng như nữ tính trong tất cả các khía cạnh của giới và giới tính: giớitính sinh học, bản dạng giới và biểu hiện giới tính Một số người không xác địnhđược một số hoặc tất cả các khía cạnh của giới tính được gán cho họ theo giới tínhsinh học; một trong những người này là người chuyển giới, không có giới tínhhoặc đa dạng về giới tính Một số xã hội thừa nhận sự tồn tại của một hoặc nhiềugiới tính không phải nam và nữ
Các khái niệm về bản dạng giới và xu hướng tình dục là khác nhau Ví dụ, khimột người sinh ra là nam, họ tự xác định giới của mình là nữ ( bản dạng giới ), cósức hấp dẫn tình dục và / hoặc tình yêu với nam, người đó không phải là đồng tínhluyến ái (đây là một người chuyển đổi giới tính khác giới) Mặt khác, một ngườiđồng tính sẽ luôn xem mình là đàn ông (giống giới tính của họ lúc mới sinh), chứkhông phải giới tính của mình là phụ nữ, và họ sẽ luôn có sự hấp dẫn về tình dục
và / hoặc lãng mạn với những người đàn ông một cách dài lâu
- Các loại bản dạng giới thường thấy:
Chuyển giới: bản dạng giới khác với giới tính sinh học.
Người chuyển giới: người chuyển giới không muốn xác định mình theo bất
kỳ giới tính nào
Trans man: người chuyển giới xác định bản thân là nam.
Người phụ nữ chuyển giới: người chuyển giới xác định bản thân là phụ
nữ
Transfemale: người chuyển giới đã được chỉ định giới tính nam khi sinh ra
nhưng họ nhận dạng được nhiều dấu hiệu của nữ bên trong cơ thể nhiều hơn
là nam
Transmasculine: người chuyển giới đã được chỉ định giới tính nữ khi sinh
ra họ nhận biết nhiều dấu hiệu của nam bên trong cơ thể nhiều hơn là nữ
Androgynous / gynoandros: người có danh tính là sự pha trộn ở các mức
độ khác nhau giữa nữ và nam giới
Giới tính trung tính / neutrois / giới tính trung lập: người ngăn chặn các
đặc điểm được gán cho truyền thống là nam tính hoặc nữ tính
Giới tính: người không tin vào giới tính và do đó không đồng nhất với bất
kỳ
Trang 10 Biggenus: người xác định bản thân có hai giới tính (ví dụ: nam tính và bạch
cầu trung tính)
Đa giới / đa giới: người có nhiều hơn hai giới tính.
Chuyển giới: giới tính được chỉ định cho những người giữa hai giới tính,
thường là giới tính nhị phân
Ngoài ra có một thuật ngữ dành cho những người dị tính ủng hộ việc hợp pháp
hóa hôn nhân đồng giới và đấu tranh cho quyền của cộng đồng LGBTQ+ Những
người như thế thương được gọi là Straight ally.
Ngược lại những người có sự kiên quyết trong việc phản đối hôn nhân đồng giới
và bày tỏ sự kì thị sâu sắc được gọi là Homophobes.
1.2.3 Khái niệm xu hướng tính dục
Xu hướng tính dục của cộng đồng LGBTQ+
Xu hướng tính dục là sự hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc là mặt tình dục hoặc cũng cóthể là cả hai được diễn ra trong thời gian dài đối với những đối tượng thuộc giới tínhhoặc khác giới, cùng thuộc giới tính hoặc cùng thuộc giới, thuộc cả hai giới tính hoặc
có nhiều hơn 1 giới Sự hấp dẫn này thường được bào gồm trong 5 giới: dị tính luyến
ái, đồng tính luyến ái song tính luyến ái, toàn tính luyến ái và vô tính luyến ái
Trong đó:
Dị tính luyến ái là bị hấp dẫn về tình cảm và tình dục của người khác giới Xu
hướng tình dục này được mọi người ủng hộ và đây cũng là xu hướng tính dụcphổ biến nhất hành tinh
Đồng tính luyến ái hay còn gọi là đồng tính là bị hấp dẫn mặt tình cảm và mặt
tình dục của người cùng giới Xu hướng tính dục đồng tính luyến ái được chialàm 2 giới chính là đồng tính nam ( thường được gọi là “gay” ) và đồng tính nữ( thường được gọi là les ) Hiện vẫn chưa thể xác định được chính xác số lượngngười theo xu hướng tính dục này nhưng vẫn có thể thấy họ chiếm một lượngkhông hề nhỏ Với việc xã hội ngày càng có nhiều hướng suy nghĩ hiện đại vàtích cực thì những người theo xu hướng tính dục này ngày càng tự tin côngkhai thật giới tính của mình
Song tính luyến ái là người có tình cảm và ham muốn tình dục với cả nam và
nữ Người có sở thích tình dục nghiêng về một giới tính nhất định hơn giới tínhcòn lại nhưng lại không độc nhất cũng tự cho rằng họ là người song tính
Toàn tính luyến ái là chỉ sự hấp dẫn về mặt tình cảm và mặt tình dục với bất kì
một giới tình nào Xu hướng tình dục này có thể nói là một nhánh nhỏ của
“song tính luyến ái”
Vô tính luyến ái những người này không bị hấp dẫn bởi tình cảm hay tình dục.
Vô tính luyến ái khác hoàn toàn với kiêng tình dục và độc thân vì nó có chiềuhướng xuất phát bên trong cơ thể Một số người vô tính vẫn có quan hệ tình
Trang 11dục với người khác nhưng chỉ vì làm thỏa mãn cho đối phương chứ không hề
có ham muốn
Các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được rõ nguyên nhân dẫn đến xu hướng tínhdục này nhưng họ đã đưa ra giả thuyết cho rằng xu hướng tính dục này được xuất hiệnbởi ba nguyên nhân chính đó là do di truyền, nội tiết tố và ảnh hưởng môi trường Tuychưa có giả thuyết nào có thể giải thích được nguyên nhân của xu hướng tính dụcnhưng những các nhà khoa học vẫn ủng hộ các lý thuyết dựa trên cơ sở sinh học
không có bằng chứng nào xác thực được việc nuôi dạy hoặc trải nghiệm tuổi thơ ấu cóảnh hưởng đến xu hướng tính dục Hiện nay ở tất cả các nền văn hóa trên thế giới xuhướng tính dục dị tính luyến ái chiếm đa số còn lại là đồng tính luyến ái và song tínhluyến ái
Chương 2: pháp luật đối với những người thuộc cộng đồng LQBTQw+
2.1 Những quy định liên quan đến quyền của LGBTQ+ trong khuôn khổ liên hợp quốc
Ở những nền văn hóa, trong những giai đoạn lịch sử cũng như thái độ đối với hammuốn tình dục, hành vi tình dục và các mối quan hệ nói chung ở mỗi quốc gia khácnhau thì có những nhận thức, thái độ đối với cộng đồng LGBTQ+ là khác nhau Mỗinền văn hóa có chuẩn mực riêng nên có nhiều nền văn hóa phản đối và có nền văn hóachấp nhận tình yêu và tình dục đồng tính Dẫn đến việc có những thái độ, cách nhìnkhác nhau Đó là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài, đồng thời, sự thay đổi nhậnthức, quan điểm, cách nhìn về người đồng tính, quan hệ giữa những người đồng tínhluôn gắn liền với sự thay đổi nhận thức về tình dục
Xuất phát từ quan niệm nam là phải cưới vợ, nữ thì phải lấy chồng hay trong thếgiới này, nhắc đến “cặp đôi” đồng nghĩa hiểu luôn là một người nam và một người nữnên khi xuất hiện cặp đôi giữa hai người cùng giới tính, giữa người thường với ngườichuyển giới hoặc các nhóm giới tính đa dạng khác Họ cho rằng điều này đi ngược lạivới quy luật tự nhiên, cách nghĩ thông thường của xã hội, nên gán ghép cho nhữngngười cộng đồng LGBTQ+ là “bệnh hoạn”, “biến thái”, “xấu xa” hoặc “bẩn thỉu” “kìdị”, Chính quan niệm này dẫn đến nhiều người từ chối tiếp xúc, giao tiếp với nhữngngười trong cộng động LGBTQ+ cũng như từ chối đọc, nghiên cứu các tài liệu khoahọc về đồng tính vì cho rằng đó là những tài liệu có nội dung lệch lạc và đồi trụy Do
đó, xảy ra tình trạng các bạn trong cộng đồng LGBTQ+ bị kì thị, xa lánh, chửi bới và
tệ hơn đó là bạo hành bởi gia đình, bạn bè, xã hội
2.2 Tổng quan pháp luât ṭ quốc tế về bảo vê ṭquyền của người đồng tính 2.2.1 Cơ sở hình thành
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về quyền và nhân phẩm Mọi ngườiđều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thầnbác ái Đây chính là Điều 1 của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948
Trang 12Nguyên tắc này dựa trên nguyên tắc đạo đức xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trong quákhứ, hiện tại và tương lai đều phải thừa nhận và tôn trọng, đó là “quyền tự nhiên” làtổng thể những quyền mà mỗi người khi sinh ra đã được hưởng Nền tảng của quyền
tự nhiên là các chuẩn mực về sự công bằng và nguyên tắc tự do của con người Trong
đó, người đồng tính, song tính, dị tính cũng như các chủ thể khác trong xã hội, có cácquyền cơ bản gồm quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh phúc
2.2.2 Quá trình hình thành.
Từ đầu thập kỷ 1980, Châu Âu là một trong những nơi đầu tiên nỗ lực thúc đẩy,xây dựng quyền của cộng động LGBT cũng như cộng đồng mở rộng LGBTQ+ sau đóđược mở rộng sang các châu lục khác và trên diễn đàn toàn cầu của Liên hợp quốc Sựphát triển về quyền của người đồng tính trong hệ thống pháp luật ở châu Âu đã đặtnền tảng cho cuộc vận động trên diễn đàn Liên hợp quốc và ở những khu vực khác
2.2.3 Quyền của cộng động LGBTQ+ trong khuôn khổ Liên hợp quốc.
Bắt đầu từ năm 1993, vấn đề quyền của người đồng tính đã được nhắc đến trongHội nghị nhân quyền thế giới lần thứ hai họp tại Viên (Áo) và trong các sự kiện quốc
tế lớn về nhân quyền do Liên hợp quốc bảo trợ những năm sau đó Trên diễn đàn Liênhợp quốc, bên cạnh những quốc gia ủng hộ, khá nhiều quốc gia đã công khai bày tỏ sựphản đối vấn đề quyền của người đồng tính, chủ yếu xuất phát từ những định kiến vềvăn hóa và tôn giáo Đây chính là lý do chính khiến cho khuôn khổ pháp luật quốc tế
về quyền của đồng tính phát triển một cách chậm chạp và hiện vẫn còn lạc hậu khá xa
so với quyền của nhiều nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác Sở dĩ, những quyền nàycần được công nhận bởi luật pháp vì pháp luật là sự cụ thể hóa các quyền tự nhiên củacon người vào một cơ chế rõ ràng và được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước
Thông qua pháp luật các nghĩa vụ sẽ được tôn trọng và thực thi, các quyền trở thànhquy tắc ứng xử bắt buộc và thống nhất chung trong xã hội Có thể thấy việc thừa nhận
và bảo vệ quyền của người đồng tính, một phạm trù của quyền tự nhiên chỉ mang tínhkhả thi khi được pháp luật chính thức hóa và pháp lý hóa Nhắc đến luật pháp, các vănkiện, hiến chương đặt nền tảng cho việc xây dựng quyền của cộng đồng LGBTQ+ thìkhông thể không nhắc đến:
Hiến chương Liên Hợp Quốc
Hiến chương Liên hơp ṭ quốc về quyền bình đẳng con người đã trở thành môt ṭ trongnhững văn kiện quốc tế tạo bước tiền đề để nâng cao quyền của cộng đồng LGBTQ+
trong hệ thống luật pháp quốc tế Các quyền con người được thể hiện ngay trong lờinói đầu của Hiến chương: “Tuyên ngôn một lần nữa tin tưởng vào những quyền cởbản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ” Khôngnhững vậy, tại khoản 3, Điều 1, Hiến chương Liên Hợp Quốc cũng “khuyến khíchphát triển sự tôn trọng trong các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cảmọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [ Điều 1]
Một trong những nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt của hiến chương là bình đẳng,
Trang 13không có sự phân biệt giữa mọi cá nhân xuất phát từ việc phân biệt đối xử về giới tínhgiữa nam và nữ Mục đích đưa ra các nguyên tắc này nhằm yêu cầu có sự đối xử côngbằng không dựa vào giới tính, dân tộc, tôn giáo và khẳng định các quyền tự do và bìnhđẳng giữa mọi cá nhân trong xã hội Là cơ sở để tạo tiền đề xây dựng và bảo vệ cácquyền con người và quyền của người đồng tính.
Mặc dù Hiến chương Liên Hợp Quốc là văn kiện quan trọng trong việc khẳngđịnh, bảo vệ và nâng cao các quyền con người, nhưng hiến chương chỉ nêu ra cácnguyên tắc, nội dung chung về quyền của con người mà chưa đề cập rõ ràng đến cộngđồng LGBTQ+ và chưa có quy định cụ thể để bảo vệ người đồng tính khỏi sự phânbiệt, đối xử này
Về sau, sự ra đời của văn kiện Tuyên bố của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc(Commission on Human Rights, nay đã được thay thế bởi Hội đồng Nhân quyền Liênhợp quốc) về “Xu hướng tính dục và quyền con người” (Sexual Orientation & HumanRights- một trong những văn kiện quốc tế đầu tiên của hệ thống Liên hợp quốc đề cậptrực tiếp đến quyền của LGBTQ+ Văn kiện này được thông qua vào tháng 3/2005, doNew Zealand đề xướng và nhận được sự ủng hộ của 32 quốc gia thành viên Ủy ban
Một số văn kiện pháp lý của Liên Hợp Quốc về quyền của LGBTQ+.
Truớc đây, mặc dù Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948 đã khẳng địnhquyền con người nói chung (trong đó có quyền của người đồng tính nói riêng) cũngnhư sự ra đời của nhiều văn kiện khẳng định quyền của cộng đồng LGBTQ+ nhưng sựphân biệt đối xử, bạo lực đối với người đồng tính vẫn tiếp tục xảy ra trong xã hội
Thậm chí nhiều quốc gia vẫn đang hình sự hóa và xem đồng tính như là một loại tộiphạm Tình trạng này đã kéo dài trong nhiều năm qua và trở thành một trong nhữngvấn đề nhân quyền được Liên Hơp Quốc đặc biệt quan tâm Những lo ngại về vi phạmnhân quyền trong một thời gian dài đã khiến Hội đồng nhân quyền của Liên HợpQuốc xem đây như là vấn đề cần được ưu tiên thảo luận để đưa ra những tuyên bốchung không chỉ về quyền của người đồng tính mà cả quyền của người song tính, vôtính và cả người chuyển giới
Trong những cuộc họp của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 2006 và
2008, những tuyên bố chung về quyền của người đồng tính, xu hướng tính dục và bảndạng giới đã được chính thức đề xuất và thảo luận xoay quanh mối quan tâm về luậtphân biệt đối xử và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc thực thi nhân quyền quốc tế
Và đến ngày 26 tháng 3 năm 2007 Bộ nguyên tắc Yogyakarta đã ra mắt như một Hiếnchương toàn cầu về quyền của người đồng tính tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợpquốc ở Geneva, Thụy Sĩ Bộ nguyên tắc được coi là một trong những văn bản pháp lýđầu tiên về quyền của người đồng tính, áp dụng các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế có tínhràng buộc, đóng vai trò diễn giải của các Hiệp ước quốc tế về quyền con người Bộnguyên tắc Yogyakarta đưa ra các quy định về nội dung các quyền mà người đồng tính
Trang 14đương nhiên được hưởng thụ, ngăn cấm sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tínhdục, ngăn cấm sự xâm phạm trái pháp luật đến đời sống riêng tư, gia đình của ngườiđồng tính, xóa bỏ những rào cản ngăn những người đồng tính tiếp cận, hưởng thụ cácquyền Những người đồng tính sẽ được quan tâm chăm sóc sức khỏe, được hưởng thụcác quyền giáo dục, được pháp luật bảo vệ và được tham gia một cách bình đẳng vàođời sống chính trị - xã hội.
Ra đời ngay vào thời điểm mà vấn đề về quan hệ đồng tính, người đồng tính vàquyền của người đồng tính đang tranh cãi diễn ra trên rất nhiều mặt của đời sống xãhội Khi các kết quả của nghiên cứu khoa học về sự xuất hiện của hiện tượng đồngtính còn chưa có câu trả lời chính thức, nhưng cũng là cơ sở để chúng ta biết rằngđồng tính không như mọi người vẫn nghĩ là bệnh hoạn, là đua đòi, là tệ nạn xã hội,tình dục là thứ mà những người đồng tính quan tâm Có thể nói, sự ra đời của Bộnguyên tắc đã đánh dấu một mốc son trong Lịch sử Nhân quyền của nhân loại
Sự ra đời của Nguyên tắc đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy mạnh
mẽ hơn nữa sự nỗ lực đấu tranh của Liên hợp quốc cho những quyền cơ bản của conngười nói chung, trong đó có người đồng tính Và đối với các quốc gia của thế giới tự
do thì Bộ nguyên tắc cũng trở thành điều kiện đủ để vận động đưa các Nguyên tắcYogyakarta vào trong pháp luật của mỗi quốc gia
Bên cạnh các văn kiện và ấn phẩm kể trên, vấn đề quyền của người đồng tính cònđược đề cập trong một loạt phát biểu của Tổng thư ký Liên hợp quốc và Cao ủy Nhânquyền Liên hợp quốc trong khoảng một thập kỷ gần đây Những phát biểu đó đã nêu
rõ tính chất, yêu cầu bảo vệ nhân phẩm, tính mạng và các quyền bình đẳng của ngườiđồng tính, cũng như sự cần thiết phải có những hành động phối hợp cả ở cấp độ quốcgia và quốc tế trong vấn đề này Cụ thể, trong Phiên họp thứ 19 của Hội đồng Nhânquyền Liên hợp quốc vào tháng 3/2012, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon
đã có bài phát biểu trong đó mô tả những hành vi bạo lực và phân biệt đối xử vớinhững thành viên của cộng đồng người đồng tính, song tính, chuyển giới là “tấn bikịch lớn đối với những ai có lương tri và là vết nhơ đối với lương tâm của chúng ta”
Đây là những phát biểu thể hiện rất rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm của Liên hợp quốc
là ủng hộ các quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới Mặc dù trongnhững năm gần đây diễn biến về sự nhận thức và hành động thúc đẩy quyền của ngườiđồng tính đã phát triển nhanh chóng nhưng vẫn chưa có một điều ước riêng, rõ ràng vềquyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới nói chung và quyền của ngườiđồng tính nói riêng Tuy nhiên, có thể thấy được sự nỗ lực của Liên hợp quốc trongviệc chống lại hành vi vi phạm nhân quyền đối với người đồng tính
Qua đó ta thấy, những văn kiện pháp lý quốc tế có ý nghĩa toàn cầu là sơ sở pháp
lý quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện và bảo vệ các quyền con người nói chung
và quyền của người đồng tính nói riêng Đó chính là cơ sở cho việc xoá bỏ các hành
Trang 15động kì thị, phân biệt giới tính và cơ sở này chỉ mang tính khả thi khi được pháp luậtchính thức hóa và pháp lý hóa.
Trang 162.3 Tại những nước không hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới Hiện nay trên thế giới vẫn còn khá nhiều quốc gia không đồng ý hợp pháp hóa hôn
nhân đồng giới ( chỉ 34 quốc gia hợp pháp hóa tính đến năm 2021 ), ở các quốc gianày bản thân hành vi đồng tính luyến ái sẽ bị coi là hành vi tội phạm Có tới 80 quốcgia/các vùng lãnh thổ xem hành vi này như là tội phạm, có nơi còn áp dụng hình thức
tử hình đối với những người có hành vi đồng tính luyến ái Một số quốc gia kháckhông coi đồng tính luyến ái là tội phạm, nhưng họ cũng không công nhận hôn nhânđồng giới Đối với những quốc gia không hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, có nhiềuquan điểm cho rằng:
Hành vi này đi ngược lại chuẩn mực của xã hội vốn có, làm mất đi truyền
thống hòa thuận gia đình, nối dõi tông đường
Quyền bảo vệ người đồng tính trong quan hệ đạo đức gia đình và quan niệm hônnhân của người Trung Quốc, bên nào nặng, bên nào nhẹ? Từ quan điểm của các tiêuchuẩn đánh giá lợi ích, nó chắc chắn quan trọng hơn đạo đức của hôn nhân Bởi lẽ,quyền của tình yêu đồng giới không nhất thiết phải thông qua sự bảo vệ của pháp luật
Nhưng nếu phủ nhận luân lý truyền thống về hôn nhân thì sẽ làm xáo trộn sự cân bằngnam nữ, vi phạm quy luật sinh sản tự nhiên của con người, làm mất đi sự quân bình
"âm dương trung hòa" trong quan niệm truyền thống, từ đó ảnh hưởng đến tính bổsung, hòa hợp của gia đình truyền thống Trung Quốc, hậu quả thật khó tưởng tượng
Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới không có lợi cho sự phát triển lành
mạnh của trẻ em:
Nếu tình yêu, hôn nhân đồng tính có thể được hợp pháp hóa, thì con cái của họ sẽ bị
vây quanh bởi những tin tức về đồng tính, cũng như khuyến khích trẻ em lựa chọnđồng tính như một người bạn đời còn lại, điều này sẽ làm thay đổi xu hướng tính dụccủa con cái họ Chúng ta không thể để cho những đứa trẻ ngày nay được bình thường,nhưng sau này, vì ảnh hưởng của “tình yêu đồng giới”, bị “tẩy não” bởi quan niệm vềtình yêu đồng giới, khiến chúng không thể đưa ra những quyết định đúng đắn
Hôn nhân không phải là quyền tự do của mỗi cá nhân mà còn là bằng
chứng quan trọng của nền văn minh nhân loại:
Nếu hôn nhân đồng giới được pháp luật cho phép thì có nên cho phép chế độ đa thê
(một nam và một nữ có thể có nhiều hơn một vợ chồng) không? Hôn nhân hợp pháp làmột vấn đề cần hết sức thận trọng mỗi chúng ta phải tính đến điều này trong nền vănminh mà chúng ta đang sống
Nếu một xã hội thoát khỏi những khái niệm lý thuyết đạo đức niềm tin quan niệmgia đình và hình thức sống đã được kế thừa lâu đời này thì xã hội đó chắc chắn sẽ rơivào hỗn loạn Hôn nhân và gia đình sẽ gắn liền với kết cấu được thiết lập của nền vănminh xã hội loài người Do đó càng có nhiều lý do để cống hiến cho việc duy trì sựtôn kính cơ bản này
2.4 Tại những nước hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới
Trang 17Tính đến nay số lượng các quốc gia đã hợp pháp hóa vấn đề hôn nhân đồng giớitrên thế giới vẫn còn là thiểu số trên tổng số các quốc gia trên thế giới Các nước cóthể kể đến như : Mỹ, Hà Lan, Anh, Bỉ và gần đây nhất là Đài Loan.
Tại các nước đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, ta có thể thấy rất rõ việc các cặpđôi thuộc cộng đồng LGBTQ+ Họ được là chính mình, họ được kết hôn, có quyềnđược nhận nuôi hoặc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để có thể có con và trênhết đứa trẻ vẫn phát triển bình thường và có thể nói rằng có phần tốt hơn so với cáchcác cặp đôi dị tính nuôi dạy trẻ nhỏ Theo nghiên cứu mới của một số nhà kinh tế họcchâu Âu, con cái của các cặp vợ chồng đồng tính có thành tích ở trường tốt hơn so vớinhững đứa trẻ được nuôi dạy bởi một người mẹ và một người cha
Một cuộc nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà kinh tế học Deni Mazrekaj,Kristof de Witte và Sofie Cabus trực thuộc trường đại học KU Leuven của Bỉ Họ đã
sử dụng dữ liệu của chính phủ để theo dõi và đánh giá tất cả trẻ em được sinh ra tại HàLan từ năm 1995 Lý do vì Hà Lan là quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hônnhân đồng giới vào năm 2001 và có nhiều chính sách hỗ trợ cho các cặp đôi đồng tính
Kết quả cho thấy những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi các cặp đôi đồng tính cóđiểm kiểm tra cao hơn ở cấp tiểu học và trung học Chưa hết, chúng còn có khả năngtốt nghiệp phổ thông cao hơn khoảng 7% so với trẻ em được nuôi bởi các cặp vợchồng khác giới
Điểm độc đáo của nghiên cứu này là nó theo dõi việc giáo dục xuyên suốt củahàng ngàn trẻ em sinh ra tại Hà Lan từ năm 1995 đến năm 2005 Dữ liệu thu thậpđược bao gồm thông tin về hiệu suất giáo dục của con cái cũng như dữ liệu về thunhập của cha mẹ và gia đình Các nghiên cứu tương tự trước đây thường có cỡ mẫunhỏ, chỉ vài chục trẻ em hoặc sử dụng dữ liệu của Cục điều tra dân số Mỹ vốn khôngđáng tin cậy Ngoài ra Hà Lan cũng được biết đến là một trong những nước đi đầutrong việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, và việc giáo dục cho trẻ nhỏ từ rất sớm
về vấn đề này thực tế không làm ảnh hưởng xấu tới cách các con nhìn nhận về thế giớicũng như là chuyện xu hướng tính dục của một người mà còn giúp các bé có cái nhìnmàu sắc hơn về cuộc sống và hiểu được rằng ta cần phải chấp nhận sự khác biệt củanhau để có thể cùng nhau đi lên
2.5 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa ghi nhận luật cấm quan hệ tình dục đồng tính
Pháp luật Việt Nam chưa bao giờ đưa ra luật cấm đối với người đồng tính, luật HồngĐức cũng không nhắc đến đồng tính Khi pháp xâm chiếm nước ta họ cũng khôngcấm đoán việc đồng tính trên thuộc địa của họ Mại dâm nữ là điều vi phạm pháp luậtnhưng luật pháp lại không nói gì với mại dâm nam Tuy nhiên những hành vi đồngtính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý” Có những trường hợp