1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương

111 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Giao Kết Và Thực Hiện Hợp Đồng Cung Ứng Dịch Vụ Tại Công Ty TNHH Tư Vấn Phần Mềm Đông Dương
Tác giả Lê Thị Chúc
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Quốc Chiến
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 229,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHẦN MỀM ĐÔNG DƯƠNG

Ngành: Luật Kinh tế

LÊ THỊ CHÚC

Hà Nội - 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHẦN MỀM ĐÔNG DƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồngcung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương” là công trìnhnghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Mọi số liệu sử dụng phân tích trongluận văn và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan,trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sửdụng trong công trình nghiên cứu này

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Học viên thực hiện

Lê Thị Chúciii

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, học viên đã nhận được sự độngviên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của cácthầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Sau đại họctrường Đại học Ngoại thương và đặc biệt là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy cácchuyên đề của toàn chương trình học Luật kinh tế đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiếncho học viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TSNgô Quốc Chiến – Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và hỗ trợhọc viên trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài để hoàn thành tốt luận văn này.Xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới ban lãnh đạo tại công ty TNHH tư vấn phần mềmĐông Dương đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu và nghiên cứu tại công ty Tôi xin gửilời cảm ơn chân thành tới các anh chị trong công ty TNHH tư vấn phần mềm ĐôngDương, các quý đối tác với công ty đã giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp tài liệu và giảiđáp các vướng mắc trong quá trình nghiên cứu đề tài

Với thời gian nghiên cứu và kiến thức của học viên còn nhiều hạn chế, luận vănchắc hẳn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong quý thầy cô, cácchuyên gia, các bạn đọc đóng góp các ý kiến quý báu để đề tài được hoàn thiện và

có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN … vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ PHẦN MỀM 8

1.1 Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ 8

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 18

1.2 Khung pháp luật Việt Nam về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 19

1.2.1 Các văn bản luật điều chỉnh chung về hợp đồng 19

1.2.2 Các văn bản luật điều chỉnh riêng đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm ……… 20

1.3 Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 23

1.3.1 Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 23

1.3.2 Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 30

Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ PHẦN MỀM TẠI 34

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHẦN MỀM ĐÔNG DƯƠNG … 34

2.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 34

2.1.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 34

2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm ở Việt Nam 37

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương 38

2.2.1 Tổng quan về Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương 38

2.2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương 40

2.2.3 Khó khăn, vướng mắc về thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương ………… 56

2.2.4 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm và thực hiện tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương 58

Kết luận chương 2 60

Trang 6

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ PHẦN MỀM TẠI CÔNG TY TNHH

TƯ VẤN PHẦN MỀM ĐÔNG DƯƠNG 61

3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 61

3.1.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm ……… 61

3.1.2 Đề xuất xây dựng cơ chế hướng dẫn, hỗ trợ các cơ quan, doanh nghiệp thực hiện pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm 64

3.2 xuất Đề một số giải pháp cụ thể tăng cường chất lượng thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương 65

3.2.1 Thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật 65

3.2.2 Nâng cao trình độ pháp lý cho nhân viên 66

3.2.3 Xây dựng hợp đồng phù hợp với pháp luật hiện hành 66

Kết luận chương 3 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 Danh mục các từ viết tắt Tiếng Anh

ICT Information & Communication

PICC Pricinples of international

commercial contracts

Bộ nguyên tắc về hợp đồngthương mại quốc tế

2 Danh mục các từ viết tắt Tiếng Việt

BLDS Bộ luật dân sự

CTCP Công ty cổ phần

GTGT Giá trị gia tăng

TAND Tòa án nhân dân

TMDV Thương mại dịch vụ

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 8

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Luận văn đã tập trung nghiên cứu, phần tích đề tài “Thực trạng giao kết vàthực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm ĐôngDương”, quá trình phân tích, luận văn đã đạt được các kết quả như sau:

Luận văn đã làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về giao kết và thực hiện hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm, cụ thể: phân tích khái niệm và đặc điểm hợpđồng, dịch vụ, hợp đồng dịch vụ, từ đó chỉ ra khái niệm, đặc điểm của hợp đồngcung ứng dịch vụ phần mềm; tổng hợp và phân tích nội dung của pháp luật điềuchỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm từ các văn bản điều chỉnh chung vàđiều chỉnh hoạt động ngành công nghệ thông tin Luận văn tập trung cụ thể và phântích sâu về các yếu tố pháp lý tác động đến hoạt động giao kết và thực hiện hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Từ lập luận về các vấn đề lý luận pháp luật, luận văn tập trung phân tích thựctrạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiệnhợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại công ty TNHH tư vấn phần mềm ĐôngDương Qua phân tích thực trạng thực hiện pháp luật Việt Nam về giao kết và thựchiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, luận văn đã chỉ ra những điểm hạn chế,tồn tại, khó khăn hiện nay của hệ thống pháp luật Việt Nam và việc áp dụng phápluật vào thực tiễn trong ngành công nghệ thông tin nói chung, hoạt động hợp đồngcung ứng dịch vụ phần mềm nói riêng Thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết vàthực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm được phân tích cụ thể tại công tyTNHH tư vấn phần mềm Đông Dương, từ các sự vụ, tranh chấp thực tế, luận văn đãchỉ ra các khó khăn từ yếu tố chủ quan và khách quan dẫn đến những khó khăntrong việc thực thi pháp luật hiện hành vào các hoạt động giao kết và thực hiện hợpđồng của công ty

Luận văn dựa trên những phân tích thực tế về thực trạng pháp luật về giao kết

và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm đã đưa ra một số kiến nghị hoànthiện pháp luật cụ thể là các nội dung nhằm hoàn thiện, bổ sung vào các bộ luật, vănbản pháp luật hiện nay, cơ chế hướng dẫn thi hành pháp luật Bên cạnh đó, luận văn

Trang 9

đề xuất giải pháp cụ thể tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thựchiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại công ty TNHH tư vấn phần mềmĐông Dương tập trung khắc phục các khó khăn đến từ yếu tố chủ quan nội bộ côngty.

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam trong hơn hai thập kỷ tiếp cận, hội nhập, nghiên cứu và phát triểnlĩnh vực công nghệ thông tin đến nay đã có những bước đột phá lớn về thành tựukhoa học công nghệ, về nhân lực và về hoạt động thương mại trong lĩnh vực này Cảthế giới đang cùng hướng đến cuộc cách mạng 4.0 và đó cũng là một trong nhữngmục tiêu lớn của Nhà nước cùng các doanh nghiệp Việt Nam Công nghệ thông tinphát triển tiến đến các hoạt động thương mại, kinh tế về lĩnh vực này cũng được chútrọng

Trong suốt hơn 20 năm nghiên cứu thị trường và đặt nền móng cho lĩnh vựcphát triển phần mềm, đã có gần 60.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành côngnghiệp công nghệ thông tin Tính đến hết năm 2021, Việt Nam đứng thứ 9 ở thế giới

về lĩnh vực gia công phần mềm Rõ ràng, nước ta đang trên đà tăng trưởng và pháttriển mạnh về khoa học công nghệ thông tin Một trong những tác nhân quan trọngđối với sự phát triển ngành này là những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhànước và sự quan tâm, tập trung, quyết liệt của các bộ ban ngành quản lý, phụ tráchtrực tiếp Hiện nay, các văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo của các cấp từ trungương đến địa phương về hoạt động ngành công nghệ thông tin đã được ban hành vàđiều chỉnh các hoạt động cơ bản liên quan đến ngành, tuy nhiên, vẫn còn những hạnchế nhất định

Do nhu cầu của thị trường, cũng như cuộc chạy đua về công nghệ, áp dụngcông nghệ cao vào quá trình kinh doanh, sản xuất hay đời sống ngày càng tăng caodẫn đến hoạt động kinh doanh công nghệ nói chung và kinh doanh dịch vụ phầnmềm nói riêng ngày càng được chú trọng và tăng trưởng mạnh Các doanh nghiệphoạt động lĩnh vực công nghệ thông tin ngày càng nhiều, đi cùng với đó là các hoạtđộng giao dịch, thỏa thuận, ký kết mà chủ thể chính là đối tượng của công nghệthông tin, hay cụ thể hơn là phần mềm thông qua loại hợp đồng là hợp đồng cungứng dịch vụ phần mềm Việc điều chỉnh cụ thể các vấn đề trong hợp đồng cung ứngdịch vụ phần mềm hiện nay pháp luật chưa có văn bản nào cụ thể mà được quy địnhrải rác tại các văn bản khác nhau, chính vì vậy, việc này dẫn đến những tranh chấp,hạn chế trong suốt

10

Trang 11

quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng giữa các bên Mặt khác, các doanh nghiệptrong nước có rất nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu, hiểu biết về luật pháp quyđịnh hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm dẫn đến

hệ quả về pháp lý nghiêm trọng, gây thiệt hại các bên thậm chí giảm vị thế cạnhtranh khi làm việc với các đối tác nước ngoài Thị trường phát triển mà không đi đôivới các chính sách về pháp luật nhằm quản lý, điều chỉnh chặt chẽ sẽ làm mất đi các

cơ hội, cũng như thiếu tính kiểm soát, cân bằng các hoạt động của toàn ngành, cácdoanh nghiệp mất đi động lực để tăng trưởng và cạnh tranh Trước thực trạng cấp

thiết này, học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương”

để trong đó, học viên nghiên cứu làm rõ về quy phạm pháp luật điều chỉnh hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiệnpháp luật trong nước, các giải pháp cụ thể trong việc thực hiện pháp luật ở cácdoanh nghiệp nói chung và nghiên cứu cụ thể trong một doanh nghiệp nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngân hàng Thế giới (World Bank), 2009, Negotiating Trade in services: A

practical Guide for developing countries, cuốn sách đã khẳng định TMDV là một

trong các vấn đề khiến Vòng đàm phán Doha rơi vào bế tắc, khi các nước phát triển

đã có kinh nghiệm phát triển TMDV và các nước đang phát triển còn chưa có kinhnghiệm, vì nguyên nhân đó mà các nước này sẽ gặp nhiều khó khăn khi gia nhậpvào WTO và Hiệp định GATS Cuốn sách này đã đưa ra những chỉ dẫn cần thiết chocác nước đang phát triển khi họ tham gia đàm phán về TMDV

Richard Griffiths, 2010, Service Offerings and Agreements: A Guide for Exam

Candidates, trong bài nghiên cứu, tác giả đã phân tích và đưa ra cách hiểu về dịch

vụ như sau: “Việc cung cấp giá trị đến với khách hàng thông qua các sự tiện lợi

cho khách hàng mà họ muốn chứ không phải chú trọng về chi phí và rủi ro” Trên

cơ sở đó, tác giả đã phân tích kỹ năng quản trị doanh nghiệp đối với các nhà quản lýkhi họ tham gia vào các mối quan hệ liên quan đến dịch vụ và TMDV

Trang 12

2.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Đinh Ngô Thị Khánh Luy, 2018, Hợp đồng cung cấp dịch vụ phần mềm theo

pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ bảo vệ

tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế Trong luận văn, tác giả chỉ ra rõ các kháiniệm đặc điểm và khung pháp luật về hợp đồng cung cấp dịch vụ phần mềm, phântích được các tác động của pháp luật đến việc thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụphần mềm và điểm mới là thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng cung cấp dịch

vụ phần mềm tại Đà Nẵng Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện phápluật và tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng cung cấp dịch vụ phầnmềm

Kiều Thị Thùy Linh, 2017, Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự

Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ bảo vệ tại

Trường đại học Luật Hà Nội Luận án tuy không đề cập chi tiết đến hợp đồng cungứng dịch vụ phần mềm, tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ nóichung, tác giả đã phân tích chuyên sâu về bản chất của dịch vụ, từ đó xây dựng cáckhái niệm dịch vụ, bản chất của hợp đồng dịch vụ Tác giả nghiên cứu toàn diện cácquy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng dịch vụ, phân tích các bản án, vụ việctranh chấp trong hợp đồng dịch vụ, từ các phân tích, nghiên cứu trên, tác giả đưa racác kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hợpđồng dịch vụ, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Hà Công Anh Bảo, 2015, Hợp đồng thương mại dịch vụ và giải quyết tranh

chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ bảo vệ tại Trường

đại học Ngoại thương Luận án cũng không tập trung chuyên sâu nghiên cứu về hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm mà khai thác tập trung về hợp đồng thương mạidịch vụ và các tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam Ngoài việcnghiên cứu và làm rõ các khái niệm, đặc điểm về hợp đồng thương mại dịch vụ, tácgiả phân tích từ tổng quan đến sâu sắc các tranh chấp, xung đột trong hợp đồngthương mại dịch vụ, từ đó tác giả đưa ra được những bài học kinh nghiệm, phươnghướng lựa chọn, giải pháp cho các doanh nghiệp, các kiến nghị đối với Nhà nước vàcác cơ quan tòa án, trọng tài thương mại giải quyết các tranh chấp về hợp đồngthương mại dịch vụ

Trang 13

ThS Đỗ Trường Giang và Vụ Công nghệ thông tin, 2019, Nghiên cứu đề xuất

hướng tiếp cận xây dựng khung pháp lý về công nghệ thông tin hướng tới phát triển kinh tế số tại Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học công nghệ quốc gia Bài nghiên

cứu của nhóm tác giả đã tập trung phân tích thực tiễn ngành công nghệ thông tinhiện nay, từ đó nhóm tác giả đề xuất xây dựng các chính sách chiến lược phục vụphát triển kinh tế số, phát triển các doanh nghiệp công nghệ, các sản phẩm khoa họccông nghệ 4.0, từ đó đề xuất hướng tiếp cận xây dựng khung pháp lý về công nghệthông tin nhằm hướng đến phát triển kinh tế số tại Việt Nam

Đỗ Đức Hồng Hà, 2012, Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong các văn bản

pháp luật chuyên ngành, Tạp chí nghiên cứu lập pháp Điện tử Bài nghiên cứu đã

chỉ ra những bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam đối với các quy định về hợpđồng thương mại Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về các vấn đề về hợp đồng cung ứngdịch vụ thương mại tác giả này cũng đề xuất một số giải pháp hoàn thiện đối với cácquy định về hợp đồng dịch vụ như hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng quảngcáo

2.3.Khoảng trống nghiên cứu

Liệt kê tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam, về cơbản, đã có tương đối nhiều các công trình nghiên cứu về hợp đồng, hợp đồng dịch

vụ và lĩnh vực công nghệ thông tin với các góc độ phân tích dưới các hệ thống phápluật khác nhau Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rất đầy đủ cũng như xây dựng cáccông trình nghiên cứu mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, hiện nay còn tương đối ítcác công trình nghiên cứu cụ thể về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, cụ thểhơn là các vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng cungứng dịch vụ phần mềm Đây là một trong những hoạt động thuộc lĩnh vực đang tăngtrưởng mạnh trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Các hoạt độngthương mại trong lĩnh vực công nghệ thông tin phát triển kéo theo các hệ quả pháp

lý phát sinh về hợp đồng Khoảng trống nghiên cứu được đề cập ở trên là một trong

những căn cứ quan trọng để học viên phân tích, nghiên cứu đề tài: “Thực trạng

giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương”.

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ được những vấn đề lý luận pháp luật về giaokết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ, do đối tượng dịch vụ được tập trungnghiên cứu cụ thể trong công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương là phầnmềm nên phạm vi nghiên cứu đối tượng hợp đồng dịch vụ phần mềm, từ đó mụcđích nghiên cứu cụ thể của luận văn là làm rõ các vấn đề pháp lý về giao kết và thựchiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu, đánhgiá thực trạng pháp luật tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết vàthực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phầnmềm Đông Dương, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giảipháp cụ thể tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợpđồng cung ứng dịch vụ mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu góp phần làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật liên quan đến hợp đồngcung ứng dịch vụ phần mềm

- Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật về giao kết và thực hiện hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm

- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch

vụ phần mềm tại Việt Nam

- Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm ĐôngDương

- Đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiệnhợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Việt Nam

Trang 15

- Đề xuất được các giải pháp cụ thể tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về giaokết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấnphần mềm Đông Dương.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

- Các vấn đề pháp lý và các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

- Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiệnhợp đồng cung ứng dịch vụ tại một doanh nghiệp cụ thể mà đối tượng dịch vụ cụthể hoạt động trong lĩnh vực phần mềm vì vậy, phạm vi nghiên cứu đối với loại hợpđồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của

pháp luật Việt Nam về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, cụ thể trong các vănbản pháp luật: Bộ luật dân sự 2015 (BLDS), Luật thương mại 2005 (LTM),…

Về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt

Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồngcung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được học viên trình bày trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác-Lênin về nhà nước, pháp luật và những quan điềm của Đảng và nhà nước vềphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghia trong thời kỳ đổi mới.Trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu trên, quá trình nghiên cứu và trình bàyluận văn sử dụng các phương pháp như:

Trang 16

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, diễn giải được sử dụng chủ yếu ở Chương

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục 03 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng

cung ứng dịch vụ phần mềm

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về

giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tưvấn phần mềm Đông Dương

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp cụ thể tăng

cường hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứngdịch vụ phần mềm tại Công ty TNHH tư vấn phần mềm Đông Dương

Trang 17

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ

THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ PHẦN MỀM

Để làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng cungứng dịch vụ phần mềm, chương 1 sẽ tập trung nghiên cứu, tổng hợp và phân tíchnhằm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm Bêncạnh đó sẽ chỉ ra, đối chiếu và phân tích các nguồn luật điều chỉnh hoạt động giaokết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

1.1 Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ

1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng

a Khái niệm hợp đồng

Bản chất của hợp đồng được tạo ra từ các giao dịch dân sự, khi các giao dịchdân sự có đối tượng tham gia là hai hoặc nhiều bên thì hợp đồng được tạo ra để làmnhiệm vụ này Vì vậy, có thể hiểu hợp đồng là khái niệm có quy phạm hẹp hơn giaodịch dân sự, nhưng bản chất vẫn sẽ mang bản chất của giao dịch dân sự Theo Điều

116 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý

đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Khái

niệm giao dịch dân sự bao hàm cả hợp đồng và các hành vi pháp lý đơn phương tức

là có thể được tạo ra từ một hoặc nhiều chủ thể tham gia, hệ quả là phát sinh hoặcthay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Hợp đồng trong tư pháp quốc tế được quy định là sự thỏa thuận của các bênlàm phát sinh hệ quả pháp lý; hợp đồng là luật của các bên (luật tư) Theo địnhnghĩa trong tư pháp quốc tế, hợp đồng phải được thỏa mãn đủ hai yếu tố là sự thỏathuận của các bên và phải phát sinh hệ quả pháp lý, hợp đồng được coi là luật màhai bên bắt buộc phải thực hiện kèm theo các chế tài ràng buộc các bên nên như mộtvăn bản luật tư có hiệu lực giữa các bên tham gia ký kết

Trang 18

Từ những năm 1931, năm 1936, Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đã

đề cập đến hợp đồng khi sử dụng khái niệm về khế ước, tuy nhiên các khái niệmnày không bao hàm đầy đủ các giao dịch và chưa định nghĩa được sự ràng buộc của

các bên khi tham gia khế ước “Theo Vũ Văn Mẫu, nguyên tắc tự do ý chí trong luật

hợp đồng là một sản phẩm lịch sử của các lý thuyết về tự do thế kỷ 18, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các BLDS Pháp và Đức” (Ngô Huy Cương, 2013, tr 20) Hai bộ luật

này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi BLDS Pháp năm 1804 bởi thời kỳ Pháp thuộc đãchi phối tương đối các hoạt động văn hóa, kinh tế và giáo dục của nước ta thời bấygiờ Bộ Dân luật năm 1972 đã đề cập đến “sự thỏa thuận” và đi cùng là sự ràngbuộc về quyền và nghĩa vụ dân sự Đây là một trong những sự chuyển biến mới về

tư duy luật pháp, khi khái niệm được đề cập trong luật có sự bao hàm tương đối đầy

đủ Tuy nhiên, năm 1972, khái niệm hợp đồng vẫn chưa được đề cập, mà trong luậtvẫn định nghĩa khái niệm về khế ước Năm 1995, một bước chuyển mới khi BLDS

1995 ra đời, đề cập đến khái niệm hợp đồng dân sự tương đối đầy đủ và ngắn gọnkhi định nghĩa hợp đồng dân sự là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thayđổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Việc sử dụng khái niệm hợp đồng trongBLDS phù hợp với các văn bản luật quốc tế Năm 2015, khi lược bỏ đi cụm từ “dânsự” trong “hợp đồng dân sự”, khái niệm về hợp đồng đã được quy định trong BLDS

2015 với mục tiêu nhằm loại bỏ mọi cách hiểu không chính xác về phạm vi điềuchỉnh và về mặt khoa học, hợp đồng được sử dụng trong BLDS 2015 bao hàm mọiquan hệ hợp đồng trong lĩnh vực dân sự hay hiểu là lĩnh vực tư

Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về

việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Khái niệm hợp đồng

theo quy định của BLDS 2015 đã kế thừa từ các văn bản pháp luật trong và ngoàinước để nêu đầy đủ, ngắn gọn định nghĩa về hợp đồng Khái niệm về hợp đồng trên

là khái niệm chung nhất đối với các loại hợp đồng Xét về hệ quả pháp lý, sự thỏathuận giữa các bên về một việc xác định nào đó chưa đủ để tạo ra một hợp đồng Sựthỏa thuận phải tạo lập một hệ quả pháp lý mới có khả năng tạo thành hợp đồng, ởkhái niệm về hợp đồng được đưa ra ở trên, đã đề cập đến “quyền, nghĩa vụ dân sự”tức đã ràng buộc phải tạo lập hệ quả pháp lý giữa các bên

Trang 19

b Đặc điểm của hợp đồng

Bản chất và khái niệm hợp đồng cho thấy hợp đồng có hai đặc điểm cơ bản:một là, thể hiện sự thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng và hai là, nội dungthỏa thuận là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên thamgia hợp đồng Đây là hai đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng Ngoài ra, hợp đồngcòn có một số đặc điểm khác như:

Nội dung giao kết của hợp đồng là chủ thể, đối tượng và các quyền, nghĩa vụ

mà các bên chủ thể trong hợp đồng cùng thỏa thuận cam kết thực hiện

Hợp đồng khi ký kết phải bảo đảm các lợi ích hợp pháp của các bên, khôngđược trái với đạo đức và các chuẩn mực xã hội

Đặc điểm thứ nhất, hợp đồng thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng.

Ý chí xuất phát từ ý thức tồn tại trong bộ não của con người, thuộc về nhậnthức và suy nghĩ của con người Khi ý chí không được bộc lộ ra bên ngoài bằng mộthành vi cụ thể thì rất khó để người khác có thể hiểu và xác định được ý chí đó Vìvậy, nếu các bên khi trao đổi, thỏa thuận để thể hiện được ý chí của mình cần biểuhiện bằng các hình thức cụ thể để không chỉ hai bên tham gia hợp đồng xác định màkhi các bên thứ ba tham gia vào một giai đoạn bất kỳ cũng sẽ xác định được sựđồng thuận, nhất trí của các bên Các hình thức cụ thể để các bên thông qua đó biểuhiện ý chí của mình có thể bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thểTrước khi thực hiện giao kết hợp đồng, các bên cần xuất phát từ ý định về giaokết hợp đồng đó Sau khi quyết định sẽ đề nghị giao kết hoặc cần thiết để tiến đếngiao kết hợp đồng, một trong các bên hoặc tất cả các bên sẽ biểu hiện ý định thôngqua hoạt động trao đổi, thỏa thuận bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể Sựthỏa thuận dẫn đến thống nhất giữa các bên được thể hiện qua hợp đồng mà hìnhthức có thể bằng lời nói, văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác theo quy định củapháp luật phải phù hợp và thể hiện ý chí tự nguyện của các bên Thông thường, hìnhthức hợp đồng được thể hiện bằng văn bản, trong đó các bên cùng ký kết để bảođảm tính ràng buộc và sự minh bạch trong giao kết, tuy nhiên, điều này là không bắtbuộc, các hình thức khác vẫn có hiệu lực, trừ một số trường hợp đối tượng của hợpđồng thuộc quy

Trang 20

định khác cụ thể của pháp luật Việc giao kết giữa các bên bằng một hình thức bất

kỳ nào đó theo luật định và ý chí của các bên nhằm xác định thể hiện ý chí giữa cácbên, không phải hoạt động pháp lý đơn phương Hợp đồng phải thể hiện sự thỏathuận của các bên tham gia hợp đồng, nếu không thể hiện được sự thỏa thuận củacác bên tham gia hợp đồng, quan hệ hợp đồng không tồn tại và các bên không chịu

sự ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng

Trên thực tế, hình thức của hợp đồng, nhất là trong trường hợp giữa các bênđang hoặc có nguy cơ phát sinh tranh chấp là rất quan trọng để các bên xác địnhngay từ ban đầu Đối với một số loại hợp đồng, pháp luật đã có các quy định cụ thể

về hình thức biểu hiện sự đồng thuận và thống nhất về ý chí giữa các bên là mộttrong các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực Đối với các trường hợp pháp luật cóquy định cụ thể về hình thức hợp đồng, các bên phải biểu hiện sự thỏa thuận củamình bằng hình thức đó Nếu các bên không tuân thủ hình thức mà pháp luật quyđịnh đối với loại hợp đồng mà các bên giao kết, mọi giao kết, thỏa thuận về hợpđồng sẽ được coi là vô hiệu Bên cạnh đó, nếu loại hợp đồng giữa các bên khôngthuộc trường hợp pháp luật quy định cụ thể hình thức thì các bên có quyền tự do lựachọn hình thức biểu hiện sự thỏa thuận và tự chịu mọi trách nhiệm với hình thức đó.Hợp đồng là quy phạm hẹp hơn của giao dịch dân sự, trong đó khái niệm hợpđồng nhấn mạnh đến “sự thỏa thuận của các bên”, sự thỏa thuận là cách thức thểhiện của ý chí, đây cũng là đặc điểm cơ bản nhất mà hợp đồng khác với hành vipháp lý đơn phương Thỏa thuận là một trong các yếu tố cơ bản để các bên tạo ramột hợp đồng, nó thể hiện ý chí của các bên, trong khi đó, hành vi pháp lý đơnphương chỉ thể hiện ý chí của duy nhất một bên chủ thể trong giao dịch dân sự Bảnchất pháp lý của hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương là khác nhau và quy địnhpháp luật điều chỉnh hợp đồng và hành vi pháp đơn phương cũng khác nhau, do đópháp luật về hợp đồng chỉ điều chỉnh hợp đồng và không điều chỉnh hành vi pháp lýđơn phương và ngược lại

Đặc điểm thứ hai, nội dung thỏa thuận là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt

quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng Được hiểu là, nếu thỏa thuậnkhông đạt

Trang 21

được hệ quả nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bênthì thỏa thuận đó sẽ không cấu thành hợp đồng.

Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng phải thể hiện được việc xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên, do đó, có thể suy ra nội dung củathỏa thuận phải cụ thể và rõ ràng Khi thỏa thuận có nội dung cụ thể, rõ ràng, cácbên có thể căn cứ vào đó xác định được quyền và nghĩa vụ của mình và của các bêncòn lại Ngược lại, nếu thỏa thuận với nội dung mơ hồ và không thể hiện sự ràngbuộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên sẽ không tạo thành hợp đồng

Theo BLDS 2015, thỏa thuận chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các bên thamgia hợp đồng và không tạo ra quyền cho bên thứ ba trừ khi các bên thỏa thuận giaokết hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba Khi hợp đồng với mục đích hướng tới việcxác lập quyền của bên thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng của cácbên giao kết, bên thứ ba có thể hưởng lợi ích từ hợp đồng mà không tham gia vàothỏa thuận trong hợp đồng (Khoản 5 Điều 402 BLDS 2015) Đây là một loại hợpđồng chủ yếu được đề cập trong BLDS 2015 Trên thực tế, hợp đồng vì lợi ích củabên thứ ba là loại hợp đồng phức tạp và ngày càng thông dụng

1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ

a Khái niệm dịch vụ

Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóanhưng là phi vật chất, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng các nhu cầuphi vật chất nhưng mang lại lợi nhuận

Khoản 2 Điều 4 Luật giá năm 2012 quy định: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô

hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật” Khái niệm

về dịch vụ được đề cập như trên, được hiểu là dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệtbởi nó có tính vô hình, bên cạnh đó, quá trình sản xuất và tiêu dùng luôn song hành

và không thể tách rời nhau

Theo Philip Kotler và Gary Armstrong đề cập đến bản chất của dịch vụ: “Dịch

vụ (service) là một hoạt động hay một lợi ích mà bên này cống hiến cho bên kia mà,

Trang 22

về cơ bản, nó vô hình và không dẫn đến sự sở hữu bất kỳ thứ gì Sản xuất nó có thể hoặc không hề gắn với một sản phẩm vật chất” (Philip Kotler & Gary Armstrong,

2004, tr 502-503) Ở góc độ này, dịch vụ được hiểu là hoạt động của con người

hoặc của một bên tạo ra lợi ích nhằm cung ứng cho bên kia dưới dạng vô hình vàkhông dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu

Theo Hiệp hội tiếp thị Hoa Kỳ (1960): “Dịch vụ là các hoạt động, lợi ích

hoặc sự thỏa mãn được cung cấp để bán hoặc được cung cấp liên quan đến việc bán hàng hóa.”

Vậy có thể hiểu khái niệm về dịch vụ như sau: dịch vụ do lao động tạo ra,không tồn tại dưới dạng vật chất do một bên cung cấp cho bên khác nhằm mục đíchđáp ứng nhu cầu của sản xuất hay tiêu dùng Dịch vụ được tạo ra bởi các chuỗi hoạtđộng, hành vi có liên kết với nhau theo trình tự mang yếu tố phi vật chất, trực tiếphoặc gián tiếp tạo ra tiện ích, giá trị mà khách hàng có thể cảm nhận được trong vàsau quá trình sử dụng dịch vụ Từ các nghiên cứu về khái niệm dịch vụ dưới nhiều

góc độ tiếp cận khác nhau, khái niệm dịch vụ được đúc kết lại như sau: “Dịch vụ là

hoạt động của con người, được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được và có thể mang tính dân sự hoặc dịch vụ mang tính thương mại Dịch vụ mang tính thương mại nếu nó được đem ra lưu thông, trao đổi trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Nguyễn Thị Mơ, 2004, tr.7) Khái niệm về dịch vụ

được tác giả định nghĩa cụ thể, và bao hàm toàn bộ ý nghĩa khi nhắc đến dịch vụ.Trong đó, dịch vụ có thể mang tính dân sự hoặc thương mại và đề cập rõ khi nào thìdịch vụ mang tính thương mại Ở các khái niệm được phân tích ở trên, thường cáctác giả chỉ đề cập tương đối chung, chưa cụ thể dẫn đến sự mơ hồ với người đọc,còn ở khái niệm mà tác giả Nguyễn Thị Mơ đề cập, đã nêu đầy đủ nội dung, ý nghĩa

và bản chất của dịch vụ

b Đặc điểm của dịch vụ

Từ khái niệm về dịch vụ, dịch vụ sẽ mang các đặc điểm sau:

Thứ nhất, dịch vụ có tính vô hình, đặc điểm này được đề cập ngay trong khái

niệm về dịch vụ Tính vô hình hay nói cách khác là phi vật chất, con người không thể

Trang 23

thông qua các giác quan thông thường cảm nhận được như nhìn, nghe, ngửi, nếm,

sờ Ví dụ khi chúng ta mua dịch vụ khách sạn, thứ mà thực tế chúng ta có thể đượcnhận là sự chăm sóc của nhân viên khách sạn, hoạt động lưu trú, bữa ăn tại kháchsạn,…, đây đều là các hoạt động và dịch vụ có tính phi vật chất bởi khi kết thúcdịch vụ khách sạn, chúng ta sẽ không nhận được sản phẩm hay hàng hóa là vật chất

mà chỉ có thể cảm nhận trong suốt quá trình mua, sử dụng dịch vụ

Thứ hai, dịch vụ có đặc điểm không thể tách rời Đặc điểm không thể tách rời

có nghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc, việc sản xuất dừng thìviệc tiêu thụ, sử dụng cũng kết thúc, khác với hàng hóa, khâu sản xuất và tiêu dùng

có thể tách rời bởi tính hiện hữu của hàng hóa Ví dụ đối với dịch vụ đào tạo hoạtđộng sản xuất sẽ diễn ra đồng thời với hoạt động tiêu thụ, sử dụng mà không thểtách rời nhau

Thứ ba, dịch vụ có đặc điểm không thể cất giữ Dịch vụ không thể được cất

giữ, lưu trữ, mà dịch vụ chỉ có thể thay đổi về thời gian cung cấp theo nhu cầu vàthỏa thuận của các bên tham gia, như vậy thì không có nghĩa là có khả năng cất giữ

vì dịch vụ chỉ có thể được thay đổi về thời gian cung cấp nếu dịch vụ đó chưa đượctiến hành sản xuất, trong trường hợp bên cung cấp dịch vụ đang trong quá trình sảnxuất dịch vụ cung cấp cho bên sử dụng, bên mua thì bên mua không thể cất trữ nó

sử dụng sau hoặc sử dụng ngoài thời gian cung cấp dịch vụ đã thỏa thuận hoặc thực

tế thời gian diễn ra dịch vụ đó Bản chất của việc lưu trữ, cất giữ là có khả năng hiệnhữu, qua đó con người có thể xác định được hình dạng vật chất ngay sau khi đượcsản xuất và từ đó có sự sắp xếp lưu giữ nó Dịch vụ khác với hàng hóa là hàng hóa

có thể lưu kho, cất trữ, bảo quản dưới các hình thức khác nhau thì dịch vụ sẽ kếtthúc ngay khi bên sản xuất dừng cung cấp theo thỏa thuận ban đầu giữa các bên

Thứ tư, dịch vụ có tính đa dạng Dịch vụ được tạo ra dưới dạng phi vật chất,

phụ thuộc vào nhu cầu của người dùng, người sử dụng và khả năng cung cấp củangười cung ứng, sản xuất Vậy nên, dịch vụ sẽ mang đặc điểm đa dạng như cáchthức tạo ra, nơi sản xuất, chất lượng, mục đích được tạo ra,… Dịch vụ sẽ thay đổitùy thuộc vào các bên tham gia vào sản xuất và sử dụng dịch vụ Ví dụ, cùng mộtnhu cầu về dịch vụ du lịch nhưng mỗi nhà cung cấp lại cho người sử dụng đánhgiá, cảm nhận

Trang 24

về chất lượng khác nhau hoặc mang những cách thức khác nhau trong quá trình cungứng.

Thứ năm, dịch vụ có đặc điểm là sự tham gia của người dùng vào hoạt động,

quá trình sản xuất dịch vụ Như đã phân tích ở các đặc điểm trên có đề cập đến hoạtđộng sử dụng, tiêu dùng gắn liền với hoạt động sản xuất dịch vụ mà không thể táchrời được Khác với hàng hóa, người mua, người tiêu dùng có thể không nhất thiếttham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ nhận kết quả cuối cùng là thành phẩm.Người dùng không cần phải có mặt tại địa điểm sản xuất dịch vụ, nhưng vẫn thamgia được vào hoạt động sản xuất dịch vụ Ví dụ, dịch vụ tư vấn pháp lý tại một công

ty tư vấn luật cung cấp cho khách hàng dịch vụ tư vấn pháp lý vụ việc, công ty tưvấn luật có thể thông qua các kênh trao đổi như email, điện thoại, thư tín, trao đổitrực tiếp trong suốt quá trình đưa ra giải pháp pháp lý của vụ việc đến với kháchhàng, trong suốt quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ khách hàng phải cùng thamgia với công ty tư vấn luật để sử dụng dịch vụ thông qua từng bước của quy trìnhsản xuất dịch vụ

1.1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ

a Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ

Hoạt động cung ứng dịch vụ ngày nay trong nền kinh tế thị trường càng diễn

ra sôi nổi với mức tăng trưởng mạnh, thị trường trở nên rộng lớn, nhiều ngành nghề,lĩnh vực dịch vụ mở ra ngày càng hấp dẫn, tính cạnh tranh cũng trở nên khốc liệthơn, khái niệm về hợp đồng cung ứng dịch vụ hay hợp đồng dịch vụ càng trở nênphổ biến Năm 2005 BLDS ra đời cùng với Luật thương mại đã góp phần hoàn thiệnchế độ hợp đồng phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước Trongchương III của Luật thương mại 2005 đã quy định cụ thể hoạt động cung ứng dịch

vụ từ Điều 74 đến Điều 87 Việc sửa đổi hệ thống pháp luật nước ta về hợp đồng nóichung và hợp đồng dịch vụ nói riêng là một tất yếu và trong quá trình hội nhập hiệnnay phản ánh phần nào sự đổi mới về tư duy và quản lý trong hoạt động quản lý nhànước là một thành công, tạo điều kiện và cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư trongnước và ngoài nước

Trang 25

Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó bên cung ứng dịch vụ cónghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và bên sử dụng dịch vụ đó (còn gọi làkhách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụtheo thỏa thuận (Khoản 9 Điều 3 Luật thương mại 2005) Khái niệm về cung ứngdịch vụ theo Luật thương mại đã mô tả cụ thể về hoạt động cung ứng dịch vụ giữabên cung ứng và bên sử dụng thông qua hai nghĩa vụ chính là thực hiện dịch vụ củabên cung ứng và nghĩa vụ thanh toán, sử dụng dịch vụ của khách hàng.

Từ các khái niệm về hợp đồng, hoạt động cung ứng dịch vụ BLDS 2015 đã

đưa ra khái niệm về hợp đồng dịch vụ tại Điều 513 như sau: “Hợp đồng dịch vụ là

sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.” Hợp đồng dịch vụ bản chất là hợp đồng sẽ mang đầy đủ nội dung của một

hợp đồng cơ bản, đối tượng của hợp đồng là dịch vụ, bởi vậy trong khái niệm này,luật đề cập đến điểm khác biệt với hợp đồng cơ bản cụ thể là nghĩa vụ của các bênkhi tham gia hợp đồng dịch vụ, trong đó, một bên thực hiện hoạt động cung ứngdịch vụ cho bên còn lại, bên sử dụng dịch vụ tiến hành thanh toán cho bên cung ứngdịch vụ Ở khái niệm này mặc dù nhắc đến “sự thỏa thuận giữa các bên” nhưng lạichưa nhắc đến việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhaunhư khái niệm về hợp đồng Mặc dù người đọc có thể căn cứ vào các văn bản phápluật khác để hiểu rằng hợp đồng dịch vụ bản chất là một loại hợp đồng, tuy nhiêntrong khái niệm hợp đồng dịch vụ chỉ nêu một điều kiện của hợp đồng mà chưa đềcập đến điều kiện còn lại một cách bao quát và đẩy đủ, thay vào đó là nêu cụ thểmột phần nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào hợp đồng dịch vụ

Phân tích về khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ từ các góc nhìn khác nhau,

khái niệm về hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể được định nghĩa như sau“Hợp

đồng thương mại dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, căn cứ vào qui định của pháp luật, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong việc mua bán, cung cấp, trao đổi dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi” (Hà Công

Anh Bảo, 2015, tr 26) Tác giả sử dụng khái niệm hợp đồng thương mại dịch vụ

tương ứng cho khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ Trong khái niệm trên, tác giả

đã tổng hợp đầy đủ

Trang 26

các nội dung về hợp đồng cung ứng dịch vụ, người đọc sẽ có góc nhìn bao quát, đầy

đủ nhất khi sử dụng khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ, khái niệm khắc phục cácthiếu sót ở các nguồn đã phân tích trên, đồng thời kế thừa, chắt lọc lại các nội dungmang tính bao quát, đầy đủ

b Đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ

Hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng song vụ, trong đó mỗi bên đều có cácnghĩa vụ nhất định với các bên còn lại và có các quyền tương ứng với nhau, đượchiểu là, khi bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng vàngược lại Các quyền và nghĩa vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫnnhau, được thực hiện nhằm đạt mục đích đáp ứng các thỏa thuận trong hợp đồng màcác bên đã ký kết Nghĩa vụ của các bên có tính ràng buộc và có quan hệ mật thiếtvới nhau, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và thiện chí của các bên khi thực hiệncác thỏa thuận với nhau Các bên có thể quy định thứ tự thực hiện nghĩa vụ tronghợp đồng, trong đó điều kiện và cơ sở để bên kia thực hiện được nghĩa vụ của mìnhphụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên phải thực hiện trước Nếu một trongcác bên vi phạm nghĩa vụ thì quyền lợi của bên còn lại sẽ bị ảnh hưởng, có thểkhông được hưởng hoặc không được hưởng đầy đủ quyền tương ứng đã được thỏathuận trong hợp đồng, hệ quả là việc thực hiện hợp đồng bị đình trệ, có thể gây thiệthại cho một bên hoặc dẫn đến chấm dứt hợp đồng

Hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng có đền bù; được hiểu là khi một bênnhận được lợi ích thì phải chuyển cho bên kia một lợi ích tương ứng Đối với loạihợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, với bản chất của đối tượng hợp đồng, bênhưởng quyền sẽ đạt được lợi ích nhất định về tinh thần hay vật chất thuộc mục đíchgiao kết hợp đồng Khi có vi phạm nghĩa vụ xảy ra, bên bị vi phạm sẽ không đượchưởng hoặc không được hưởng đầy đủ quyền tương ứng, dẫn đến không thể đạtđược các lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng và có thể phát sinh các thiệt hại Do đó,với đặc tính của loại hợp đồng có đền bù thì các bên được quyền đảm bảo sự đền bùthỏa đáng trong đó, bên bị vi phạm có quyền được áp dụng các biện pháp, chế tàihợp pháp để bảo vệ quyền lợi của mình đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 27

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

a Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ phần mềm

Khoản 10 Điều 3 Nghị định 71/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật Công nghệ thông

tin về công nghiệp công nghệ thông tin quy định: “Dịch vụ phần mềm là hoạt động

trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, cài đặt, khai thác, sử dụng, nâng cấp, bảo hành, bảo trì phần mềm và các hoạt động tương tự khác liên quan đến phần mềm”.

Dịch vụ phần mềm được định nghĩa là các hoạt động cụ thể liên quan đến phầnmềm Trong đó, 9 loại dịch vụ phần mềm được phân loại bao gồm: dịch vụ quản trị,bảo hành, bảo trì hoạt động của phần mềm và hệ thống thông tin; Dịch vụ tư vấn,đánh giá, thẩm định chất lượng phần mềm; Dịch vụ tư vấn, xây dựng dự án phầnmềm; Dịch vụ tư vấn định giá phần mềm; Dịch vụ chuyển giao công nghệ phầnmềm; Dịch vụ tích hợp hệ thống; Dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh cho sản phẩmphần mềm, hệ thống thông tin; Dịch vụ phân phối, cung ứng sản phẩm phần mềm

và các dịch vụ phần mềm khác (Khoản 3 Điều 9 Nghị định 71/2007/NĐ-CP) Phânloại và liệt kê các loại dịch vụ phần mềm hiện nay tương đối đầy đủ, với phạm viphân loại như trên, các quy định của luật có thể điều chỉnh được các hoạt động dịch

vụ phần mềm trên thị trường hiện nay

Dịch vụ phần mềm mang bản chất của dịch vụ, vì vậy dịch vụ phần mềm sẽmang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ, cụ thể bao gồm: tính vô hình, đặc điểmkhông thể tách rời, đặc điểm không thể cất giữ, tính đa dạng, đặc điểm về sự thamgia của người dùng vào hoạt động, quá trình sản xuất dịch vụ

b Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm là một loại hợp đồng dịch vụ, do đó cóthể hiểu hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm là sự thỏa thuận giữa các bên trong

đó bao gồm bên cung ứng dịch vụ và bên thuê, mua dịch vụ, theo đó bên cung ứngdịch vụ phần mềm cung cấp cho bên kia gói dịch vụ phần mềm, thông qua thỏathuận nhằm xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trongviệc mua bán, cung cấp, trao đổi dịch vụ với mục đích sinh lợi

c Đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Trang 28

Hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm là một loại hợp đồng dịch vụ với đốitượng cung ứng dịch vụ là phần mềm, vì vậy hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềmmang đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng dịch vụ Ngoài những đặc điểm chung vềhợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm còn mang cácđặc điểm riêng là các quy định, chính sách về thuế.

Để khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin trên thịtrường, Nhà nước đã ban hành các chính sách, chủ trường về thuế đối với các sảnphẩm phần mềm được sản xuất tại Việt Nam và các dịch vụ phần mềm do các tổchức, doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam Trong đó, các sản phẩm, dịch vụ này sẽđược áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng Cụ thể,phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm là đốitượng không chịu thuế giá trị gia tăng

1.2 Khung pháp luật Việt Nam về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm bản chất vẫn là hợp đồng dân sự vớicác chủ thể, nội dung rõ ràng vì vậy nó chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luậtquy định, điều chỉnh hợp đồng: Bộ luật dân sự 2015, Luật thương mại 2005, Luậtdoanh nghiệp năm 2020, các văn bản luật này là các văn bản chung nhất điều chỉnh

về các nội dung, đối tượng tham gia vào hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm.Tuy nhiên, hoạt động cung ứng phần mềm với các đặc tính riêng của nó khitham gia vào giao dịch dân sự có các nội dung khác về sở hữu trí tuệ, chuyển giaocông nghệ và lĩnh vực công nghệ thông tin do đó hợp đồng cung ứng dịch vụ phầnmềm chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật luật chuyên ngành tương ứng:Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Sở hữu trítuệ 2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Luật Đấu thầu2013…

1.2.1 Các văn bản luật điều chỉnh chung về hợp đồng

BLDS 2015, Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2020 và các văn bảnquy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng sẽ quy định các nội dung mang tínhchất tổng quát, thống nhất như quy định về chủ thể, đối tượng, nội dung cơ bảncủa hợp

Trang 29

đồng, các quy định về vi phạm, phạt vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp,quyền và nghĩa vụ của các bên một cách cơ bản, chung nhất.

Phần thứ ba của BLDS 2015 điều chỉnh các hoạt động trong hợp đồng cụ thểnhư khái niệm về hợp đồng nói chung và một số loại hợp đồng thương mại thôngdụng khác, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại như: giaokết và thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, tráchnhiệm do vi phạm hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, các biện phápthực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm trong hợp đồng,… Các hoạt động cơ bản của mộthợp đồng đều được điều chỉnh và quy định trong BLDS 2015

Luật thương mại 2005 tập trung quy định về tính chất, chủ thể, hình thức,quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ hợp đồng cụ thể Luật thương mại 2005 đặttên cho từng loại hợp đồng tương ứng với từng hoạt động thương mại Luật thươngmại 2005 điều chỉnh tập trung các mối quan hệ của các bên trong hoạt động kinhdoanh thương mại, làm rõ các tính chất của các đối tượng trong quan hệ này

Ngoài ra, các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được điều chỉnh cụ thểtại Luật doanh nghiệp 2020, với các điều luật quy định về loại hình, tổ chức và hoạtđộng trong doanh nghiệp

Ở bất kỳ ngành, lĩnh vực nào khi được giao kết thành hợp đồng thì đều chịu sựđiều chỉnh của các văn bản luật này Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa các văn bảnluật thì chiếu theo các văn bản luật mẹ, tức là ưu tiên thứ tự từ BLDS 2015 đến Luậtthương mại 2005 và Luật doanh nghiệp 2020, các văn bản quy phạm pháp luật điềuchỉnh hợp đồng, sau đó mới xét đến các văn bản luật chuyên ngành

1.2.2 Các văn bản luật điều chỉnh riêng đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

a Luật sở hữu trí tuệ 2005

Luật sở hữu trí tuệ 2005 không nhắc đến khái niệm phần mềm, nhưng đề cậpđến khái niệm chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu, xét về định nghĩa, phầnmềm là chương trình máy tính (Khoản 12 Điều 4 Luật công nghệ thông tin 2006),chính vì

Trang 30

vậy về cơ bản, luật sở hữu trí tuệ 2005 đã đề cập và quy định về quyền sở hữu trítuệ đối với phần mềm máy tính.

Điểm m Khoản 1 Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định các loại hình tácphẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu,hay hiểu cách khác phần mềm máy tính là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.Điều 22 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về quyền tác giả đối với chương trìnhmáy tính, sưu tập dữ liệu:

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005, phần mềm máy tính được bảo hộnhư tác phẩm văn học Trong hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, đối tượng củadịch vụ là phần mềm máy tính sẽ được quy định về quyền sở hữu trí tuệ theo cácnội dung của Luật sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản pháp luật về quyền sở hữu trítuệ

b Luật công nghệ thông tin 2006 và các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạtđộng trong ngành công nghệ thông tin

Luật công nghệ thông tin 2006 là công cụ để tạo hành lang pháp lý quan trọngtrong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược về phát triển khoa học công nghệ nước

ta trong giai đoạn hiện nay, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định rõtrách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin.Luật công nghệ thông tin 2006 tập trung điều chỉnh ba nội dung chính: một là, điềuchỉnh các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; hai là, điều chỉnhcác biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; ba là, điềuchỉnh về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứngdụng và phát triển công nghệ thông tin

Một số văn bản quy phạm pháp luật cụ thể khác điều chỉnh các hoạt độngtrong lĩnh vực công nghệ thông tin do Chính phủ và các Bộ, cơ quan ban hành theoquy định của pháp luật có nội dung bổ sung, giải thích, hướng dẫn thi hành các điềukhoản trong luật công nghệ thông tin 2006 Bên cạnh đó, các văn bản quy phạmpháp luật quy định cụ thể hơn một số điều để phù hợp với thực tế trong từng giaiđoạn cụ thể

Trang 31

Luật công nghệ thông tin 2006 và các văn bản pháp luật chuyên ngành quyđịnh chi tiết về các hoạt động, tính chất, chính sách của lĩnh vực công nghệ thôngtin, bao

Trang 32

hàm cả khái niệm phần mềm, từ đó các quy định cụ thể về phần mềm hoặc các hoạtđộng liên quan đến phần mềm đều chịu sự điều chỉnh của Luật công nghệ thông tin

2006 và các văn bản pháp luật chuyên ngành

c Các văn bản quy định về thuế đối với hoạt động lĩnh vực công nghệ thông tinKinh doanh lĩnh vực Công nghệ thông tin nói chung và hoạt động cung ứngdịch vụ phần mềm nói riêng bản chất đều là hoạt động thương mại, chính vì vậy, nóchịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật về thuế, cụ thể: luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp, luật thuế giá trị gia tăng, luật quản lý thuế và các văn bản quy phạmpháp luật khác

Đối với thuế TNDN, các doanh nghiệp hưởng ưu đãi thuế khi đáp ứng đủ cácđiều kiện cụ thể: có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản quy định

về chức năng nhiệm vụ do cơ quan có thẩm quyền cấp; sản phẩm phần mềm đượcsản xuất phải năm trong danh mục sản phẩm phần mềm do Bộ Thông tin và Truyềnthông quy định (Phụ lục 1, Thông tư số 09/2013/TT-BTTTT); Quy trình sản xuấtphần mềm có 7 công đoạn (Điều 5 Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT) (trường hợpkhông có công đoạn nào trong 7 bước trên, phải có tài liệu chứng minh tác nghiệptương ứng với công đoạn đó) Các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được quyđịnh cụ thể như sau: trong thời hạn 4 năm đầu tiên, doanh nghiệp được miễn thuếTNDN, trong 9 năm tiếp theo, giảm 50% thuế TNDN phải nộp, trong thời hạn 15năm, mức thuế suất thuế TNDN là 10% (Điều 19 và Điều 20 Thông tư 78/2014/TT-BTC)

Đối với thuế GTGT dịch vụ phần mềm là đối tượng không chịu thuế GTGTđược quy định tại khoản 22 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC

Có thể thấy, hiện nay, chính sách về thuế của nước ta đối với ngành công nghệthông tin nói chung và dịch vụ phần mềm nói riêng đang được sự quan tâm, khích lệ

từ Nhà nước Điều này tác động trực tiếp đến sự phát triển của cả ngành công nghệthông tin trong thị trường, thúc đẩy tăng trưởng, từ đó nâng cao năng lực về côngnghệ khoa học của nước ta

Trang 33

1.3 Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm như đã phân tích ở trên, bản chất làmột hợp đồng dân sự, chính vì vậy hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng cungứng dịch vụ phần mềm chịu sự điều chỉnh chung của BLDS 2015 về giao kết vàthực hiện hợp đồng

1.3.1 Nội dung pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm

Giao kết hợp đồng trong BLDS 2015 điều chỉnh, quy định tại Tiểu mục 1.Giao kết hợp đồng thuộc Mục 7 Hợp đồng Một giao kết hợp đồng được tạo ra khiđược tiến hành theo trình tự từ đề nghị giao kết hợp đồng đến chấp nhận đề nghịgiao kết hợp đồng và các điều kiện hiệu lực của hợp đồng

1.3.1.1. Đề nghị giao kết hợp đồng

Tại khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là

việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng…” Một đề nghị giao

kết hợp đồng cần thỏa mãn ba điều kiện cần và đủ:

Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp

đồng với bên được đề nghị tức là nội dung của đề nghị phải rõ ràng, cụ thể và thểhiện cơ bản một số điều khoản trong hợp đồng tương lai mà bên đề nghị mongmuốn được ký kết Một số ví dụ như quảng cáo hàng hóa dịch vụ, catalog giới thiệu

về sản phẩm có mục đích là tiếp cận và mong muốn được giao kết hợp đồng với bênnhận tuy nhiên lại không bao chứa các nội dung của một hợp đồng tương lai nên chỉđược coi như một lời chào hàng, chào bán, lời mời chào giao kết hợp đồng

Thứ hai, đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc của bên đề nghị với

bên được đề nghị về đề nghị này Điều kiện này được hiểu là, trong đề nghị giao kếthợp đồng, bên đề nghị phải thể hiện được sự ràng buộc đối với đề nghị này Khi bên

Trang 34

được đề nghị chấp thuận với đề nghị, hợp đồng sẽ được ký kết theo các nội dungđược nêu ra trong đề nghị giao kết hợp đồng Ngoài ra, trong trường hợp đề nghịgiao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồngvới người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì bên đề nghị giao kếtphải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị và đồng thời không được giao kếthợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh (Khoản 2 Điều 386 BLDS 2015) Được hiểu là,nếu đề nghị có ghi rõ thời hạn có giá trị của đề nghị thì trong thời gian đó và hoặcthời gian trả lời đề nghị thì trong thời gian đó, nếu bên được đề nghị chưa đưa rachấp thuận hay từ chối mà bên đề nghị đã thực hiện giao kết hợp đồng với bên thứ

ba trừ trường hợp được quy định tài Điều 389 về thay đổi rút lại đề nghị giao kếthợp đồng và Điều 390 về hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng thì bên đề nghị giao kếtphải chịu trách nhiệm pháp luật về việc bồi thường cho bên được đề nghị nếu cóthiệt hại phát sinh Một đề nghị không có ràng buộc pháp lý của bên đề nghị đối vớibên được đề nghị thì chỉ được coi như là một lời chào hàng

Thứ ba, đề nghị giao kết hợp đồng là đề nghị của bên đề nghị với bên đã được

xác định hoặc tới công chúng Trong BLDS 2005 quy định đối với bên được đề nghịgiao kết là phải được xác định cụ thể, đây là một trong những hạn chế của BLDS

2005 trong khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng, việc giới hạn đối tượng được đềnghị chỉ là đối tượng đã được xác định sẽ gây ra những khoảng trống thiếu sót sovới các hoạt động giao kết trong thực tiễn Trong BLDS 2015 quy định đầy đủ hơnkhi không chỉ bắt buộc phải là đối tượng đã được xác định cụ thể, mà còn có thể làcông chúng Các bên đề nghị có thể đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng tới các đốitượng không xác định tại thời điểm bên đề nghị đưa ra đề nghị, tuy nhiên trong đềnghị vẫn đáp ứng các điều kiện là thể hiện rõ ý định giao kết và sự ràng buộc đốivới đề nghị giao kết Ví dụ một doanh nghiệp dịch vụ đưa ra đề nghị giao kết hợpđồng thông qua thông báo công khai về việc giảm giá 50% phí dịch vụ cho 03 ngàykhai trương đối với 20 khách hàng đầu tiên đến sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp,trong thông báo doanh nghiệp cũng ghi rõ thời hạn và các điều kiện bổ sung để giaokết có hiệu lực, vậy 20 khách hàng đầu tiên đến sử dụng dịch vụ sẽ thực hiện giaokết hợp đồng với đề nghị giao kết của doanh nghiệp đã đưa ra như trên

Trang 35

Một đề nghị giao kết hợp đồng phải đáp ứng các điều kiện cần và đủ mới đượcgọi là một đề nghị giao kết hợp đồng có giá trị pháp lý.

b. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực nghĩa là tại thời điểm đó phátsinh nghĩa vụ của bên đề nghị với bên được đề nghị, bên đề nghị chịu sự ràng buộc

về pháp lý đối với đề nghị mình đưa ra

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực theo quy định của luật đưa ra

có hai trường hợp, hoặc do bên đề nghị ấn định trong nội dung của đề nghị, hoặc tạithời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị nếu bên đề nghị không ấn định thờiđiểm cụ thể (khoản 1 Điều 388 BLDS 2015) Bên được đề nghị đã nhận được đềnghị giao kết hợp đồng căn cứ vào các trường hợp sau: căn cứ vào địa chỉ nhận cụthể của bên nhận đề nghị, nếu bên nhận đề nghị là cá nhân, đề nghị được chuyểnđến nơi cư trú, bên nhận đề nghị là pháp nhân thì đề nghị được chuyển đến trụ sở;nếu đề nghị được gửi đi qua đường mạng internet, thư điện tử thì căn cứ vào việc đềnghị đã được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; và cáctrường hợp khác khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng qua cácphương thức khác (khoản 2 Điều 388 BLDS 2015)

Căn cứ vào các trường hợp trên có thể xác định được khi nào bên được đềnghị được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, từ đó xác định được thờiđiểm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ràng buộc giữa các bên

Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng tức là hoạt động của bên đề nghịgiao kết đối với đề nghị đã đưa ra nhằm thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợpđồng đã gửi hoặc đã đưa ra với bên được đề nghị Theo quy định của luật, được hiểu

là một đề nghị giao kết thay đổi, rút lại được khi có điều kiện, bản chất đề nghị khiđưa đến bên được đề nghị đã xác lập quyền và nghĩa vụ ràng buộc giữa hai bên.Trường hợp đề nghị thay đổi, rút lại đến trước hoặc cùng thời điểm bên được đềnghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng thì thay đổi, rút lại đề nghị đó được coi là

có hiệu lực Trường hợp trong đề nghị giao kết hợp đồng phải được nêu rõ các điềukiện

Trang 36

mà khi các điều kiện đó xảy ra, đề nghị này có thể được thay đổi hay rút lại Thêmvào đó, khi thay đổi nội dung đề nghị thì mặc định thiết lập một đề nghị mới (Điều

389 BLDS 2015)

Bên đề nghị giao kết hợp đồng chỉ được hủy bỏ đề nghị giao kết khi đáp ứngđiều kiện cần và đủ như sau: điều kiện cần là trong đề nghị đã nêu rõ quyền đượchủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng; điều kiện đủ là thông báo hủy bỏ đề nghị phảiđược bên được đề nghị nhận được trước khi bên được đề nghị thông báo chấp nhận

đề nghị (Điều 390 BLDS 2015) Hiển nhiên, trường hợp muốn hủy bỏ đề nghị, bên

đề nghị cần gửi thông báo càng sớm càng tốt, nếu thông báo này đến chậm hơnthông báo chấp nhận đề nghị được gửi từ bên được đề nghị thì thông báo hủy bỏ đềnghị không có hiệu lực

Một đề nghị giao kết hợp đồng cần được bảo đảm việc xác định nội dung cụthể và có tính chất ràng buộc khi đề nghị trong thời hạn hiệu lực Việc chấm dứt đềnghị giao kết hợp đồng được quy định các trường hợp cụ thể tại Điều 391 BLDS

2015 Thông thường một đề nghị giao kết sẽ được nêu rõ thời hạn của đề nghị đểbên đề nghị không chịu sự ràng buộc vô thời hạn về đề nghị đó đối với bên được đềnghị, vì vậy khi hết thời hạn được quy định trong đề nghị hay nói cách khác là hếtthời hạn trả lời đối với đề nghị của bên được đề nghị thì đề nghị mặc định đượcchấm dứt Bên cạnh đó, bên được đề nghị trong thời hạn trả lời đề nghị đưa ra lờichấp nhận hoặc từ chối, khi đó đề nghị cũng được chấm dứt tại thời điểm thông báođược gửi tới bên đề nghị để tạo thành các bước giao dịch tiếp theo (Điều 391 BLDS2015) Như phân tích tại Điều 389 và Điều 390 BLDS 2015 về thay đổi, rút lại, hủy

bỏ đề nghị có hiệu lực thì tại thời điểm đó hoặc hình thành nên một đề nghị mớihoặc hủy bỏ đề nghị đã được gửi đi thì tại thời điểm này, đề nghị giao kết đượcchấm dứt

1.3.1.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là bên được đề nghị thông báo chấpnhận toàn bộ hay một phần đề nghị giao kết hợp đồng Khi bên được đề nghị chấpnhận một phần đề nghị giao kết hợp đồng đồng thời sẽ đưa ra đề xuất sửa đổi đềnghị tới

Trang 37

bên đề nghị, điều này sẽ tạo ra một đề nghị mới mà bên được đề nghị ban đầu đềxuất (Điều 392 BLDS 2015).

Trường hợp bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi cóhành động thông báo chấp nhận đề nghị giao kết tới bên đề nghị để chấp nhận toàn

bộ nội dung của đề nghị Nếu bên được đề nghị im lặng thì chỉ được hiểu là chấpnhận khi hai bên đã có sự thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa cácbên Ví dụ, trước khi đưa ra đề nghị giao kết, hai bên đã có thỏa thuận rằng nếu bênđược đề nghị im lặng, không có phản hồi gì với đề nghị mà bên đề nghị đưa ra thìhai bên đều hiểu là đề nghị đã được chấp nhận Trường hợp khác, các bên đã nhiềulần làm việc với nhau và tạo thành thói quen về việc im lặng là sự chấp nhận đềnghị giao kết hợp đồng thì sự im lặng của bên được đề nghị mới được hiểu là sựchấp nhận đề nghị (Điều 393 BLDS)

Để một thông báo hoặc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực khi

và chỉ khi các bên gửi đi thông báo và nhận được thông báo trong một thời hạnđược ấn định hoặc trong một thời hạn hợp lý Trường hợp bên nhận đề nghị trả lờikhi đã hết hạn trả lời thì được coi là đề nghị mới Nếu vì lý do khách quan mà chấpnhận giao kết hợp đồng đến chậm hơn so với thời hạn ấn định và bên đề nghị biết về

lý do này thì chấp nhận đó vẫn có hiệu lực Với các hình thức giao tiếp khác nhưtrực tiếp hay qua điện thoại hoặc các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trảlời ngay, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn trả lời (Điều 394BLDS 2015) Vậy nên, thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải thuộcmột trong các trường hợp trên, nằm ngoài các trường hợp nêu trên đều được coi làchấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không có hiệu lực

1.3.1.3. Các điều kiện hiệu lực của hợp đồng

Trang 38

bao gồm “ Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật

này” và “Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.” Chủ thể

khi tham gia vào hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm phải bảo đảm tính pháp lý

và đáp ứng đủ các quy định về chủ thể được tham gia vào các giao dịch dân sự, tạiĐiều 125 và Điều 128 BLDS 2015 quy định rõ về các trường hợp giao dịch dân sự

vô hiệu do yếu tố về chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự

b Nội dung của hợp đồng

Hợp đồng có hiệu lực cần bảo đảm chủ thể và nội dung trong hợp đồng có giátrị pháp lý theo các quy định vụ thể của pháp luật Nội dung của hợp đồng và cácđiều khoản mà các bên đã thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật Trongkhuôn khổ nghiên cứu về hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, một số nội dungtrọng điểm được phân tích cụ thể dưới đây:

 Đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa hoặc dịch vụ mà hai bên cần giao dịch,trong hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm, đối tượng của hợp đồng là dịch vụphần mềm Các bên cần xác định rõ trong hợp đồng là loại dịch vụ phần mềm nào làđối tượng tham gia vào giao dịch trong hợp đồng Cùng với đó, đối tượng của hợpđồng là dịch vụ phần mềm, có tính vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất nêntrong hợp đồng hai bên phải thỏa thuận và thống nhất về mô tả về dịch vụ, các yêucầu cụ thể của khách hàng mong muốn đạt được ở kết quả cuối cùng Chính vì vậy,các bên đều phải có sự am hiểu tối thiểu đối với tính chất, đặc tính của dịch vụ, hiểu

về mô tả về dịch vụ để lấy đó làm căn cứ nghiệm thu, thanh lý hợp đồng

 Giá và phương thức thanh toán

Giá được hiểu là giá trị của đối tượng hợp đồng hay giá trị của hợp đồng Giáđược hai bên đo lường, thỏa thuận và thống nhất dựa trên các căn cứ thực tế và yêucầu cụ thể, từ đó đưa ra giá cả phù hợp Trường hợp hai bên không có thỏa thuận vềgiá, trong hợp đồng không quy định rõ về giá, việc xác định giá được quy định theo

Điều 86 Luật thương mại 2005 về giá dịch vụ: “Trường hợp không có thoả thuận về

giá dịch vụ, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá dịch vụ và cũng không

Trang 39

có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ” Tuy nhiên trường hợp hợp đồng không xác định giá sẽ dễ

dẫn đến tranh chấp giữa các bên; khi xảy ra tranh chấp sẽ tương đối bất lợi cho cácbên

Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán sẽ được hai bên thỏa thuận vàphù hợp với các quy định của pháp luật

 Quyền và nghĩa vụ của các bên

Căn cứ vào các điều khoản về nội dung hai bên đã thỏa thuận thống nhất tronghợp đồng, đồng thời đối chiếu những quyền lợi chính đáng của các bên theo luậtđịnh, các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình và bảo đảm những quyền lợi màmình được hưởng Nếu một trong các bên vi phạm quyền lợi của bên còn lại hoặckhông thực hiện đúng nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng thì bên cònlại được quyền thực hiện biện pháp để bảo đảm quyền lợi đó theo quy định củapháp luật

 Quyền sở hữu trí tuệ

Đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ phần mềm tương đối khác đối với các loạihợp đồng khác về điều khoản sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu trí tuệ không bắt buộcđối với loại hợp đồng này, tuy nhiên bởi bản chất của đối tượng tham gia vào hợpđồng có tính vô hình nhưng chứa đựng các giá trị về trí tuệ nên thông thường hợpđồng cung ứng dịch vụ phần mềm sẽ bao gồm điều khoản sở hữu trí tuệ Trong điềukhoản này, sở hữu trí tuệ đặt ra nhằm xác định quyền sở hữu đối với quyền tác giả

và chủ sở hữu bản quyền đối với phần mềm được tạo ra thông qua dịch vụ phầnmềm

 Bảo mật

Bản chất của dịch vụ phần mềm là hai bên cùng tham gia trong quá trình hợpđồng được diễn ra, bên mua/thuê dịch vụ (khách hàng) phải cung cấp đầy đủ nhất vềyêu cầu, ý tưởng, mục đích để bên cung ứng dịch vụ phần mềm thực hiện theo, bảođảm kết quả đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng Chính vì vậy việc trao đổi,

Trang 40

cung cấp thông tin giữa hai bên sẽ cần thiết để được bảo mật vì tính ý tưởng, mụcđích đối với phần mềm mà khách hàng mong muốn Trong hợp đồng như đã phân

Ngày đăng: 02/10/2022, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Ngô Thị Khánh Luy, Hợp đồng cung cấp dịch vụ phần mềm theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế, Huế năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng cung cấp dịch vụ phần mềm theo phápluật Việt Nam, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng
2. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luật bản án, NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luật bản án
Nhà XB: NXBHồng Đức
3. Đỗ Văn Đại, Nghĩa vụ thông tin trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 22/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ thông tin trong pháp luật hợp đồng Việt Nam
4. Hà Công Anh Bảo, Hợp đồng thương mại dịch vụ và giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ ,Trường đại học Ngoại thương, Hà Nội năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng thương mại dịch vụ và giải quyết tranh chấp vềhợp đồng thương mại dịch vụ ở Việt Nam
5. Hoàng Minh Huệ, Một số vấn đề bảo hộ phần mềm máy tính hiện nay, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 596/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo hộ phần mềm máy tính hiện nay
6. Kiều Thị Thùy Linh, Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự ViệtNam hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
7. Kiều Thị Thùy Linh, Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật dân sự, Tạp chí Luật học, Số đặc biệt/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàncảnh thay đổi trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật dân sự
8. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng Phần chung, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hợp đồng Phần chung
Nhà XB: NXB Đại học Quốcgia Hà Nội
9. Nguyễn Đình Huy, Một vài suy nghĩ về bảo hộ phần mềm máy tính ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về bảo hộ phần mềm máy tính ở Việt Nam
10. Nguyễn Như Hà, Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thế giới hội nhập, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12(236)/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng tiếp cận bảo hộ phần mềm máy tính trong thếgiới hội nhập
11. Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải, Sáng chế và mẫu hữu ích – Giảng dành cho chuyên ngành sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng chế và mẫu hữu ích – Giảng dành chochuyên ngành sở hữu trí tuệ
12. Philip Kotler & Gary Armstrong (Trần Văn Chánh – chủ biên, Huỳnh Văn Thanh – biên dịch), Những nguyên lý tiếp thị - Principles of Marketing 2, Nhà xuất bản Thống kê, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý tiếp thị - Principles of Marketing 2
Nhà XB: Nhàxuất bản Thống kê
13. Trần Kiên, Bảo hộ chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam: Thực tiễn và thách thức, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, số 4/2018, tr. 51-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ chương trình máy tính theo pháp luật Việt Nam: Thực tiễnvà thách thức
14. Trần Văn Hải, Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyền Sở hữu trí tuệ, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11(295)/2012, tr. 33-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyềnSở hữu trí tuệ
15. Trần Văn Hải, Chương trinh máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào của quyền sở hữu trí tuệ, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 597/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trinh máy tính nên được bảo hộ là đối tượng nào củaquyền sở hữu trí tuệ
16. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2), NXB Công an nhân dân, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2)
Nhà XB: NXBCông an nhân dân
17. Vụ Công nghệ thông tin, Th.S Đỗ Trường Giang, Nghiên cứu đề xuất hướng tiếp cận xây dựng khung pháp lý về công nghệ thông tin hướng tới phát triển kinh tế số tại Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học công nghệ quốc gia, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất hướngtiếp cận xây dựng khung pháp lý về công nghệ thông tin hướng tới phát triểnkinh tế số tại Việt Nam
18. Nguyễn Thị Mơ, Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý Luận Chính trị, 2004.B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịchvụ thương mại
Nhà XB: NXB Lý Luận Chính trị
19. World Bank, Negotiating Trade in services: A practical Guide for developing countries, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Negotiating Trade in services: A practical Guide for developingcountries
20. Richard Griffiths, Service Offerings and Agreements: A Guide for Exam Candidates, The Chartered Institute for IT, UK, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Service Offerings and Agreements: A Guide for ExamCandidates

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w