1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG vấn đề lý LUẬN CHUNG về TRANH CHẤP đất ĐAI và GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP đất ĐAI BÌNH LUẬN bản án về GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP đất ĐAI

19 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 406,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai và là những biện pháp để pháp luật đất đai phát huy đượ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP CÁ NHÂN

HỌC PHẦN: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP ĐẤT ĐAI

Giảng viên: PGS.TS Doãn Hồng Nhung

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thu Vân

Mã sinh viên: 19063180

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 4

I Khái quát về tranh chấp đất đai 4

II Giải quyết tranh chấp đất đai 6

III Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai 9

CHƯƠNG 2: BÌNH LUẬN BẢN ÁN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 10

I Tóm tắt bản án 11

II Nhận định của Tòa Án 12

III Các vấn đề pháp lý được giải quyết trong bản án 16

IV Nhận xét, đánh giá bản án 17

KẾT LUẬN 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp phổ biến ở Việt Nam hiện nay Xuất phát từ tính giá trị và tính lịch sử lâu dài của quyền sử dụng đất, những tranh chấp liên quan đều rất phức tạp và thường phải giải quyết bằng việc kết hợp nhiều phương thức khác nhau Việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai và là những biện pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai mà các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của

xã hội và người sử dụng đất Giải quyết tranh chấp đất đai và tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn nội bộ nhân dân Trên cơ

sở đó phục hồi các quyền và lợi ích bị xâm phạm, đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu chế tài do hành vi của họ gây ra Trong phạm vi bài tập cá nhân, em tập trung đưa ra các vấn đề lý luận chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai, từ

đó bình luận bản án số: 22/2019/DS-PT ngày 22/03/2019 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tranh chấp về thừa kế tài sản nhà, đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và nhận xét đánh giá bản án

Trang 4

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

I Khái quát về tranh chấp đất đai

1 Tranh chấp đất đai

Trong quan hệ dân sự, mỗi chủ thể tham gia đều tồn tại những quyền và lợi ích không giống nhau Chính vì vậy, nhiều trường hợp vì định hướng quyền lợi của mình mà ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Mọi mâu thuẫn trong xã hội đều bắt nguồn từ những mâu thuẫn về lợi ích, khi những mâu thuẫn bị đẩy đến đỉnh điểm không thể dung hòa sẽ dẫn tới tranh chấp

Tranh chấp đất đai cũng là một trong những tranh chấp dân sự Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Quy định này cho thấy, tranh chấp đất đai được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những tranh chấp liên quan đến đất đai như: tranh chấp về quyền sử dụng đất (tranh chấp thừa kế, ly hôn, tặng cho, ranh giới…), tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất (tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng, tranh chấp về bồi thường hỗ trợ tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất) và tranh chấp về mục đích sử dụng đất (tranh chấp về đất trồng lúa với đất nuôi tôm, tranh chấp về mục đích lối đi chung )

2 Đặc điểm của tranh chấp đất đai

Về chủ thể, chủ thể trong quan hệ tranh chấp đất đai phải là người sử dụng đất (được

Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất) hoặc người khác có quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất Trường hợp tranh chấp không phát sinh giữa những chủ thể này với nhau liên quan đến thửa đất thì đó là quan hệ tranh chấp khác Ví dụ: tranh chấp phát sinh giữa người sử dụng đất với Cơ quan

Trang 5

có thẩm quyền trong việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thì đó là tranh chấp về khiếu kiện hành chính…

Về khách thể, khách thể trong quan hệ tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử

dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất đai Đối với quyền sử dụng đất thì đây là loại tài sản đặc biệt vì pháp luật đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước sẽ trao lại quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức do pháp luật quy định Đồng thời quyền sử dụng đất cũng là tài sản (quyền tài sản) theo quy định của BLDS, vì vậy quyền

sử dụng đất có thể là đối tượng tham gia các giao dịch dân sự

Về nội dung, quan hệ tranh chấp đất đai có nội dung là sự xung đột, tranh chấp về

các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với một hoặc nhiều thửa đất cụ thể

Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước; gây hậu quả xấu về nhiều mặt trong đời sống xã hội

3 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai

Mỗi tranh chấp đất đai xảy ra đều có những nguyên nhân nhất định, trong đó yếu tố chủ quan, khác quan, yếu tố cơ bản, tạm thời cần được nghiên cứu cẩn trọng và xử lý một cách kịp thời Tùy tính chất và phạm vi vi khác nhau nhưng nhìn chung tranh chấp đất đai

đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề, tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội Vì vậy, cần phải căn cứ vào thực trạng sử dụng đất, vào đường lối, chính sách của Nhà nước, vào những văn bản pháp luật để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, từ đó có những biện pháp giải quyết tranh chấp một cách thỏa đáng, công bằng, hợp lí nhất; góp phần ngăn ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những tranh chấp có thể xảy ra Từ thực tế của hiện tượng tranh chấp đất đai có thể rút ra hai nguyên nhân chính như sau:

Về nguyên nhân khách quan, trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất

nước, việc thu hồi đất để mở rộng đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là do tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường làm cho giá đất tăng đã và đang là những áp lực lớn gây nên tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai một cách gay gắt

Trang 6

Về nguyên nhân chủ quan, có thể kể đến các nguyên nhân như: do cơ chế quản lý

đất đai con thiếu sót; cán bộ công chức thực hiện công vụ đất đai không tốt; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập; sự bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng; xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của người dân; do mâu thuẫn lợi ích cá nhân;…

II Giải quyết tranh chấp đất đai

1 Giải quyết tranh chấp đất đai và nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai

Nhìn chung, một khi tranh chấp đất đai đã xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp được xem là yêu cầu tất yếu Giải quyết tranh chấp đất đai nhằm giải quyết các xung đột, mâu thuẫn và hướng đến bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan, giúp các quan

hệ đất đai từ trạng thái mâu thuẫn sang trạng thái đồng thuận hoặc buộc đồng thuận Giải quyết tranh chấp đất đai phải dựa theo nguyên tắc Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thực hiện vai trò là người đại diện cho chủ sở hữu Đây là nguyên tắc rất

cơ bản trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai, đòi hỏi khi xem xét giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi cho người đại diện chủ sở hữu, bảo vệ thành quả cách mạng ruộng đất

Bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự hòa giải, thương lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân

Việc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế - xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc là phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Cuối cùng, giải quyết tranh chấp đất đai phải phù hợp với nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 7

2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai

- Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động áp dụng phát luật của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền vào xử lí các tranh chấp trong thực tế

- Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai (quyền quản lý

và sử dụng đất), trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với đất đang bị tranh chấp

- Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

- Đề cao sự thương lượng, tự hòa giải

- Mục đích: giải quyết bất hoà, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể; duy trì

ổn định trật tự xã hội; thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai (đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu)

- Không chỉ đơn thuần là giải quyết các vụ án dân sự mà nó phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất nên bị chi phối vởi chủ thể và đối tượng của tranh chấp đất đai

3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

Hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai được ban hành từ sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1945) tới nay được coi là một hệ thống rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và có nhiều chính sách khác nhau được áp dụng ở cả hai miền Nam Bắc

Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980

Thời kỳ này, Nhà nước còn duy trì ba hình thức sở hữu đất đai là: sở hữu nhà nước,

sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân thì có thể có cả tranh chấp về quyền sở hữu

Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980

Đến khi Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà nước trở thành người đại diện cho toàn dân về thực hiện quyền sở hữu đất đai, vì thế không còn tồn tại các tranh chấp đất đai về quyền

sở hữu Sau đó các văn bản quy pháp pháp luật về đất đai cũng lần lượt ra đời:

- Luật Đất đai 1987 ra đời

Trang 8

- Luật Đất đai 1993 ra đời

- Luật Đất đai 2003 ra đời

- Luật Đất đai 2013 ra đời Sau khi Hiến pháp 1992 ra đời, với các quy định mang tính nền tảng là đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và người sử dụng đất, được để lại thừa kế và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Với định hướng cơ bản đó, Luật Đất đai 1993 ra đời đã mở rộng hơn các quyền của người sử dụng đất Luật Đất đai 1993 đánh dấu một bước phát triển của quá trình hoàn thiện cơ chế quản

lý đất đai của Nhà nước ta, khắc phục tình trạng bao cấp về đất đai, giao đất sử dụng không mất tiền, đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích, có hiệu quả Trong nền kinh

tế thị trường hiện nay, khi mức độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nhu cầu về nhà ở của người dân ngày càng trở nên bức xúc, việc sử dụng đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khiến cho giá đất nhiều khi tăng đột biến chỉ trong thời gian ngắn Đây cũng là nguyên nhân góp phần làm tăng các tranh chấp đất đai

Sau Luật đất đai 1993, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và cải tiến thành Luật đất đai 2003 và sau này là Luật đất đai 2013 Các bộ luật về sau ngày càng được hoàn thiện

và phát huy tối đa công dụng điều chỉnh các quan hệ pháp luật đất đai nói chung và giải quyết các tranh chấp đất đai nói riêng

4 Các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai

Hiện nay, các phương pháp giải quyết tranh chấp đất đai được các chủ thể liên quan chủ động lựa chọn phụ thuộc ý chí chủ quan và mục đích của tranh chấp Khác với các tranh chấp dân sự khác (lao động, tranh chấp thừa kế và các tranh chấp kinh doanh thương mại), tranh chấp đất đai được giải quyết bằng các phương thức sau:

- Phương thức tố tụng - thông qua phán quyết, xét xử bằng thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng hành chính;

- Phương thức hành chính - thông qua các quyết định hành chính bằng thủ tục hành chính;

- Phương thức hòa giải - thông qua người thứ ba có vai trò trung gian;

Trang 9

- Phương thức thương lượng - giữa chính các chủ thể tranh chấp.

Xét về bản chất, hòa giải và thương lượng là phương thức tiếp cận việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp ôn hòa Tức là, các tranh chấp được giải quyết không thông qua các phán quyết và quyết định mang tính chất bắt buộc với sự tham gia của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước

III Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

1 Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai được hiểu là: khả năng, năng lực của hoà giải viên, người tiến hành hoà giải, thẩm phán, luật sư Được thực hiện một cách thuần thục hoặc một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết pháp luật Tìm ra giải pháp loại bỏ mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai một cách có hiệu quả nhất

2 Đặc điểm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

- Sự đúc kết, trải nghiệm, vận dụng linh hoạt kiến thức để đem lại hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể

- Chỉ sử dụng giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai

- Không chỉ dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, mà còn áp dụng phong tục tập quán, hương ước, quy ước tập tục của địa phương sao cho linh hoạt và phù hợp

- Có những kỹ năng trùng với những kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, chia di sản thừa kế, hay kỹ năng giải quyết vụ án hành chính,

- Được áp dụng pháp luật tương tự, án lệ trong quá trình thực thi pháp luật

3 Một số kỹ năng cơ bản giải quyết tranh chấp đất đai

- Kỹ năng nghe

- Kỹ năng đặt câu hỏi

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng áp dụng pháp luật

Trang 10

- Kỹ năng định giá đất

- Kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ

CHƯƠNG 2: BÌNH LUẬN BẢN ÁN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP ĐẤT ĐAI

Bản án: số 22/2019/DS-PT ngày 22/03/2019 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tranh chấp

về thừa kế tài sản nhà, đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Tranh chấp thừa

kế quyền sử dụng đất 1

I Tóm tắt bản án

Cụ L khi còn sống cụ có tạo lập được tài sản là nhà, quyền sử dụng đất 169,8m2 tại

09 Đường B1, phường Q, thành phố K1, tỉnh Kon Tum Cụ L có 03 người vợ, đó là bà M,

bà N, bà T Năm 1993, cụ L mất không để lại di chúc, cụ L có 05 người con gồm: Bà Đ, ông E, ông F, ông C và bà A Sau khi cụ L mất, ông C đã làm thủ tục kê khai cụ L chỉ có

01 mình ông C là con đẻ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đối với thửa đất của

cụ L để lại theo giấy chứng nhận mang tên ông C, bà D Sau khi ông C, bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 30/5/2017, ông C và bà D chuyển nhượng toàn

bộ diện tích đất 169,8m2 tại 09 Đường B1, thành phố K1 cho vợ chồng anh G, chị H với

số tiền 2.950.000.000đ, đến ngày 08/7/2017, anh G, chị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đối với thửa đất trên

Nay, bà A khởi kiện yêu cầu chia 1/3 (tương đương 1.000.000.000đ ) giá trị tài sản thừa kế đối với nhà, đất mà cụ L để lại cho bà Đ, ông E, ông F và bà A; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông C, bà D với anh G, chị H; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên anh G, chị H; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông C, bà D

1 | http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta265346t1cvn/chi-tiet-ban-an

Ngày đăng: 02/10/2022, 06:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w