Luận cương đã chỉ ra rằng: - Nhiệm vụ: thực hiện cách mạng tư sản dân quyền: đánh đổ các di tích phong kiến để thực hành thổ địa cách mạng triệt để và đánh đổ đế quốc làm cho Đông Dương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP NHỎ SỐ 1 MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI:
TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
TỪ NĂM 1930 ĐẾN 1945 LÀM RÕ QUÁ TRÌNH ĐẢNG KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ HOÀN
CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC LỚP: L02 NHÓM: 10 HK: 221 Giảng viên hướng dẫn: Đào Thị Bích Hồng
SINH VIÊN THỰC HIỆN
1 1913679 TRẦN MINH KHA 100%
2 1913682 VŨ HOÀNG KHA 100%
3 1913771 HỒ HOÀNG KHẢI 100%
4 1913739 LÊ QUỐC KHÁNH 100%
5 1913752 PHAN TUẤN KHÁNH 100%
6 2013484 LÊ MINH KHIÊM 100% NT
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 10
2 Vũ Hoàng Kha 1913682 Tập hợp lực lượng cách mạng 100%
3 Hồ Hoàng Khải 1913771 Phạm vi giải quyết vấn đề dân
tộc
100%
4 Lê Quốc Khánh 1913739 Tổng hợp và tiểu kết giai đoạn
1930-1935
100%
5 Phan Tuấn Khánh 1913752 Tổng hợp và tiểu kết giai đoạn
1936-1939
100%
6 Lê Minh Khiêm 2013484 Tổng hợp và tiểu kết giai đoạn
1939-1945 Tổng kết toàn bài
100%
NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên)
Trang 3MỤC LỤC
I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1930-1935 1
1 Luận cương chính trị (10-1930) 1
2 Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (3-1935) 2
3 TIỂU KẾT (1930-1935) 3
II CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1936-1939 4
1 Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ dân sinh (7-1936) 4
2 Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936) 6
3 TIỂU LUẬN (1936-1939) 7
III CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1939-1945 8
1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 6 (11-1939) 8
2 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 7(11-1940) 8
3 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 8 (5-1941) 9
4 TIỂU LUẬN (1939-1945) 9
IV TỔNG KẾT (1930-1945) 10
Trang 4I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1930-1935
1 Luận cương chính trị (10-1930)
Sau Hội nghị thành lập Đảng, Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng được bí mật đưa vào phong trào cách mạng của quần chúng, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ và tiến dần lên cao trào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng vừa thành lập đã bước ngay vào một cuộc thử thách toàn diện trên cương vị đội tiền phong lãnh đạo cuộc đấu tranh mới của dân tộc Tháng 4-1930, đồng chí Trần Phú từ Mátxcơva về nước, đồng chí được bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ chuẩn bị soạn thảo bản Luận cương chính trị trình Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 30- 10-1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm 7
ủy viên, đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư
Luận cương đã chỉ ra rằng:
- Nhiệm vụ: thực hiện cách mạng tư sản dân quyền: đánh đổ các di tích phong kiến để thực hành thổ địa cách mạng triệt để và đánh đổ đế quốc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ này có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó "Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền"
- Về lực lượng cách mạng: trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chính, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được Các giai cấp và tầng lớp khác: tư sản thương nghiệp và công nghiệp đứng
về phía đế quốc; bộ phận thủ công nghiệp trong giai cấp tiểu tư sản có thái độ do dự, tiểu
tư sản thương gia không tán thành cách mạng, tiểu tư sản trí thức có xu hướng cải lương
- Về phạm vi: thực hiện trên toàn Đông Dương theo chỉ thị của quốc tế cộng sản Mặt khác, luận cương chính trị nhấn mạnh vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp, với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới
Nhận xét:
Luận cương đã nêu được những vấn đề chiến lược quan trọng, cần thiết cho thời kì loạn lạc bấy giờ khi ta bị Pháp xâm lược: Xác định 2 nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân Luận cương đã có thể nói
Trang 5là như 1 bước đột phá cho sách lược của cách mạng Việt Nam, tựa như ánh sáng soi đường cho nhân dân ta đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến giành lại độc lập dân tộc; là nền tảng cho những văn kiện nhằm xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận, tư tưởng của ta sau này Tuy nhiên, về lực lượng cách mạng, luận cương chỉ xác định giai cấp công dân và giai cấp nông dân là lực lượng cách mạng mà bỏ qua các giai cấp khác, chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai, từ đó làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc Về vấn đề chống đế quốc của tư sản, vốn sự chênh lệch về tài sản của họ và giai cấp công nhân không lớn, lại cùng bị đế quốc chèn ép (trừ 1 số ít tư sản phản cách mạng) nên họ đều coi Pháp là kẻ thù, sẵn sàng ra tay đánh đuổi Pháp.Về tư sản trí thức: Để lãnh đạo 1 cuộc cách mạng thì cần những người có tài, có học thức để lãnh đạo cách mạng, mà vấn đề này không phải công-nông dân nào cũng có thể làm được, vậy nên tầng lớp trí thức yêu nước sẽ tiếp nhận vấn đề đó Luận cương không nhấn mạnh vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất; ngoài ra thay vì đấu tranh chống đế quốc thì luận cương lại nhấn mạnh vào việc chống phong kiến Điều này cho thấy Đảng ta lúc đó đã áp dụng các cuộc đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản một cách rập khuôn, thiếu sáng tạo, chưa nhận thức đầy đủ thực tiễn của một nước nửa phong kiến Việt Nam Với một nước phong kiến hàng ngàn năm, lại thường xuyên bị xâm lược như nước ta, thực tiễn đã cho thấy khi nào đất nước cần, người dân sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước, bất kể giai cấp nào Về phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc: Phải giải quyết vấn đề trên phạm vi toàn Đông Dương, ngoài ra phải phụ thuộc vào vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp Điều này khiến cho hoạt động của Đảng ta trì trệ, bị lệ thuộc vào các cuộc cách mạng vô sản của thế giới, ngoài ra việc phải liên kết với các nước khác có thể khiến cho tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của người dân bị suy giảm
2 Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (3-1935)
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra khi lực lượng cộng sản trong nước gần như hoàn toàn bị triệt tiêu sau đợt khủng bố trắng của Pháp sau Xô-viết Nghệ Tĩnh nay đã dần dần phục hồi trở lại, phong trào cách mạng của quần chúng đang lắng xuống và cần được đẩy mạnh lênh Chính vì thế Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ thị triệu tập đại hội Đảng
Ngày 27 đến ngày 31 tháng 3 năm 1935 ở thuộc địa Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất được tổ chức với tất cả 13 đại biểu chính thức thay mặt cho
500 đảng viên trong nước và các đảng bộ ở nước ngoài tham dự Tại Đại hội, Đảng đề ra
ba nhiệm vụ trước mắt:
Trang 6- Củng cố và phát triển Đảng
- Đẩy mạnh cuộc vận động tập hợp quần chúng
- Mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô và ủng hộ cách mạng Trung Quốc
Nghị quyết đã chỉ ra rằng:
- Nhiệm vụ cách mạng: thực hiện cách mạng phản đế và cách mạng điền địa (phản phong kiến) Đặt nhiệm vụ chống phong kiến lên hàng đầu, cho rằng đây là phần tử phản động nhất
- Lực lượng cách mạng: công nhân, nông dân lao động (công nhân nông nghiệp, bần nông, trung nông) và dân nghèo thành thị Chủ trương kéo những phần tử phú nông lẻ tẻ
có tính chất cách mạng Không xem tư sản bản xứ là lực lượng cách mạng
- Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc: toàn Đông Dương
Nhận xét:
Chủ trương của Đảng trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất là hợp lí vì đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra lúc bấy giờ Tăng cường số lượng Đảng viên ở trong các nhà máy, các đồn điền; tăng thêm lực lượng phụ nữ, thanh niên, các dân tộc thiểu số ở miền xuôi, miền núi để cố gắng khôi phục lại phong trào cách mạng
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (3-1935) đã xác định nhiệm vụ cách mạng là cách mạng phản đế và cách mạng điền địa, đặt nhiệm vụ chống phong kiến lên hàng đầu Lực lượng cách mạng là thợ thuyền, một số tầng lớp nông dân lao động, chủ trương kéo phú nông có ý thức cách mạng, không chú trọng khả năng cách mạng của tư bản bản xứ Phạm vi cách mạng là trên toàn Đông Dương như theo chỉ đạo của quốc tế cộng sản
Về đường lối chiến lược: Luận cương chính trị đã xác định phương hướng chiến lược
cơ bản của cách mạng là làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản, xác định mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng là chống đề quốc và phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, về tính chất, luận cương chính trị lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền sau đó tiếp tục phát triển bỏ ra thời kì tư bản tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa bằng cách sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, tuyệt đối không đi vào con đường thỏa hiệp Về lực lượng lão đạo cách mạng là giai cấp
cô sản thông qua đội tiền phong của mình là Đảng cộng sản và có mối khăng khít với cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất vẫn chưa khắc phục được những hạn chế của luận cương chính trị: chưa nêu rõ được mâu thuẫn chủ yếu cần giải quyết là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp và tay sai của chúng, chưa đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, chưa đánh giá đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tư sản bản xứ, chưa
đề cập tới vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất
3 TIỂU KẾT (1930-1935)
Trang 7Luận cương chính trị (10/1930) ra đời đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành và pháp triển của Đảng Cộng sản Việt Nam Luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mạng mà Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu trước đó, tuy nhiên, do hạn chế trong nhận thức thực tiễn và chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, Luận cương chính trị vẫn còn nhiều hạn chế: chưa xác định được mâu thuẫn chủ yếu của cách mạng; không nhìn thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp khác ngoài giai cấp vô sản; không tự chủ được Đảng của mình,…
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (3-1935) tuy tạo được điều kiện để cách mạng phát triển, nhưng Đại hội lại không thể khắc phục được những hạn chế của Luận cương chính trị trước đó, vẫn còn rập khuôn, giáo điều Đảng vẫn chưa đề ra một chủ trương chiến lược phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, chưa đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chống đế quốc lên hàng đầu và thiếu sự tập hợp lực lượng toàn dân tộc và còn hạn chế về phạm vi cách mạng
Đại hội lần thứ nhất đề ra chủ trương trước mắt phù hợp với thực tiễn để chúng ta khôi phục tổ chức Đảng, khôi phục lại phong trào quần chúng Tuy nhiên do vẫn thừa nhận Luận cương chính trị nên Đại hội lần thứ nhất của Đảng vẫn đứng trên quan điểm sai lầm của Luận cương Hay nói cách khác, từ tháng 10/1930 đến tháng 3/1935 quan điểm của Đảng vẫn còn hạn chế Mặc dù vẫn giữ một số nội dung chiến lược căn bản trong cương lĩnh chính trị đầu tiên về nhiệm vụ (xác định được hai nhiệm vụ chính là chống đế quốc và phong kiến) song chưa xác định được mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc Ngoài ra, Đảng vẫn chưa khai thác được ý thức cách mạng của các tầng lớp tư sản, không chủ động thủ tiêu nhưng vẫn không lôi kéo, chỉ tập trung vào tầng lớp vô sản, nông dân nghèo, thợ thuyền, một số phú nông,… Đặc biệt phạm vi thực hiện toàn Đông Dương, gây cản trở khả năng khai thác quyền tự quyết của dân tộc
II CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1936-1939
1 Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ dân sinh (7-1936)
Bối cảnh quốc tế:
Trên thế giới, cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài suốt từ năm 1929 đến năm 1933 và tác động trực tiếp đến các nước tư bản phát triển Các nước này rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng nên họ tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa và trong nước họ cũng phải tìm cách khắc phục khủng hoảng
Trong giai đoạn này, đa phần các nước đế quốc già cỗi như Anh, Pháp, Mỹ chọn giải pháp là điều chỉnh chính sách kinh tế trong nước, giải quyết khủng hoảng nhưng một số đế quốc sinh sau đẻ muộn lại không đồng ý, họ thực hiện chủ nghĩa phát xít hóa, có mặt ở nhiều nơi dẫn tới nguy cơ chiến tranh thế giới Lúc này đây, tập đoàn Đức-Ý-Nhật liên kết với nhau tạo thành khối “trục” và ráo riết để chuẩn bị chiến tranh để chia lại thế giới, chống
Trang 8quốc tế cộng sản Sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ phát động cuộc chiến tranh thế giới Sự xuất hiện này đặt thế giới vào tình trạng rất căng thẳng, tập trung chống lại lực lượng phát xít
Quốc tế Cộng sản cũng bị lực lượng phát xít tấn công, gây ảnh hưởng đến phong trào Cộng sản trên toàn thế giới Quốc tế Cộng sản kêu gọi tất cả mọi nơi ở đâu có giai cấp công nhân ở đó thành lập mặt trân nhân dân rộng rãi để chống phát xít, để chống chiến tranh, bảo
vệ hòa bình
Tại Pháp, xuất hiện tổ chức Thập tự lửa muốn tiến hành phát xít hóa Tuy nhiên, Chính phủ Pháp nhìn chung là không muốn và muốn giải quyết trong ôn hòa Mặt trận Nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản Pháp là nòng cốt được ủng hộ và cầm quyền Chính phủ Pháp tạo thuận lợi cho Việt Nam, ảnh hưởng đến việc chuyển hướng chủ trương sau này
Bối cảnh trong nước
Sau những cuộc “khủng bố trắng” năm 31-35, đất nước rơi vào hoàn cảnh khó khăn Đảng còn non trẻ, chưa củng cố được phong trào trong quần chúng Đất nước bị đặt trong trạng thái căng thẳng về kinh tế, ngột ngạt về chính trị Nhân dân Việt Nam lúc này không mong muốn độc lập dân tộc ngay lúc này, dường như đại đa số chỉ mong muốn có những cải cách về dân chủ
Ở trong nước, đời sống của các tầng lớp giai cấp bị tác động sâu sắc bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Bọn lực lượng phản động ở Đông Dương ra sức vơ vét, bóc lột, khủng bố và đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam Trước tình hình đó, mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội đều có mong muốn cải cách về vấn đề dân chủ Hệ thống tổ chức của Đảng và cơ sở cách mạng của quần chúng cũng đã được khôi phục Vào tháng 7-1936, Hội nghị Ban chấp hành Đảng cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong chủ trì ở Thượng Hải – Trung Quốc đã khẳng định:
- Nhiệm vụ: Hội nghị đã chỉ rõ nhiệm vụ chiến lược của ta vẫn là cách mạng tư sản dân quyền (không có gì thay đổi so với Luận cương chính trị), “chiến lược của Đảng cộng sản Đông Dương là phải làm cách mạng tư sản dân quyền – phản đế và điền địa – lập chính quyền của công nông bằng hình thức Xô Viết”1 Trong hoàn cảnh nước ta cách mạng tư sản dân quyền là đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và cải thiện đời sống và đây là yêu cầu bức thiết trước mắt Tuy nhiên hiện tại cả chính trị và tổ chức chưa tới trình độ trực tiếp chống đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa Việc quyết định tạm gác này là quyết định đúng đắn tại vì lúc này ta chưa đủ sức làm Đảng đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít, chống chiến tranh để quốc, chống phản động thuộc đia và tay sai, đây là một bộ phận kẻ thù chung của toàn dân tộc Và Đảng cũng kết luận rằng việc thành lập Mặt trân dân tộc phản đế là không thể trì hoãn, vô cùng cấp thiết Nhiệm vụ trong giai đoạn này không khác gì so với luận cương có điều được tạm gác lại
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 139
Trang 9- Lực lượng cách mạng: tập hợp tất cả các đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau trên toàn xứ Đông Dương và có cả người Pháp có mặt tại Đông Dương và tất cả các tầng lớp nhân dân bao gồm lực lượng chính là nông dân, công nhân, đồng minh hoặc trung lập tạm thời với giai cấp tư sản bản xứ
- Phạm vi: thực hiện trên toàn Đông Dương
Nhận xét:
Chủ trương đã khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mà mà Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã nêu ra, xác định đúng phương hướng có tính chiến lược là
bỏ qua tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó, Đảng đã xác định đúng hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Tuy nhiên, vẫn chưa trực tiếp chống thực dân Pháp, chủ yếu
là chống bọn phản động thuộc địa và tay sai nhưng Đảng tận dụng được điều kiện lúc này Bên cạnh đó, giải quyết vấn đề dân chủ dân sinh, lập chính quyền công nông giải quyết vấn đề ruộng đất trở thành quan trọng Khác với cương lĩnh đầu tiên tháng 2-1930, trong việc xác định mục tiêu chống đế quốc là hàng đầu Về tập hợp lực lượng, Đảng đã thực hiện đúng với ý chí ban đầu đặt ra, thực hiện với tất cả các tầng lớp nhân dân Về phạm vi thực hiện trên toàn Đông Dương cũng khác so với cương lĩnh đầu tiên và giống so với các giai đoạn trước, do sự chỉ thị của Quốc tế Công sản Tuy nhiên, mỗi quốc gia dân tộc có đặc điểm, hoàn cảnh khác nhau, nên việc thực hiện trên toàn Đông Dương sẽ gây khó khăn trong việc nhất quán Chưa khai thác được quyền tự quyết của dân tộc trong sự nghiệp tự giải phóng Có thể thấy chủ trương còn bị ảnh hưởng bởi chỉ thị của Quốc tế cộng sản và vẫn còn hạn chế trong nhận thức và thực tiễn trong việc xác định nhiệm vụ và phạm vi cách mạng
2 Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936)
Đến tháng 10/1936, đề ra chủ trương Chung quanh vấn đề chiến sách mới (Chiến lược) Đảng đặt ra vấn đề cần xem xét lại việc giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến có nhất thiết phải quan hệ khăng khít không (điểm mới) Ý kiến cho rằng chúng có quan hệ khăng khít có phần không xác đáng cần phải bị phê bình Bởi vì hai nhiệm vụ đều quan trọng nhưng chưa cần làm ngay, cần xác định đâu là địch nhân chính nguy hiểm hơn để tập trung lực lượng đánh cho toàn thắng và văn kiện đã nêu rõ nhiệm vụ trước mắt là đánh đuổi đế quốc trước, sau đó mới tiến hành giải quyết các vấn đề điền địa Điều này được thể thiện rõ qua đoạn trích “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất thiết phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa thì cần phải đánh
đổ đế quốc Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng” “Nói tóm lại, nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng
Trang 10hơn mà giải quyết trước Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng”
- Lực lượng cách mạng: tập hợp tất cả các đảng phái và tất cả các tầng lớp nhân dân, lực lượng nòng cốt vẫn là nông dân, công nhân và ngoài ra còn có tiểu tư sản thành thị Ngoài
ra chủ trương trung lập hoặc lôi kéo tư sản bản xứ có ý thức cách mạng
- Phạm vi: thực hiện trên toàn Đông Dương
Nhận xét:
Thông qua văn kiện này, Trung ương Đảng đã nêu cao tinh thần đấu tranh, thẳng thắn
phê phán quan điểm chưa đúng và bước đầu khắc phục hạn chế trong Luận cương chính
trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10-1930 bằng việc xác định rõ nhiệm vụ chống
đế quốc là cần thiết và cấp bách hơn việc chống phong kiến Đó cũng là nhận thức mới, phù hợp với tinh thần trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc Bên cạnh
đó, Đảng vẫn giữ phạm vi và lực lượng cách mạng, qua đó cho thấy rằng đường lối cách mạng mà Đảng chọn đang dần đúng đắn và được hoàn thiện
3 TIỂU LUẬN (1936-1939)
Về chủ trương của Đảng tháng 7-1936, Đảng đã chỉ rõ mục tiêu vẫn là cách mạng tư sản dân quyền, thực hiện chống bọn phản động tay sai, tập trung giải quyết vấn đề dân chủ dân sinh, lập chính quyền công nông để giải quyết vấn đề ruộng đất Bên cạnh đó, Đảng chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng với tất cả các đảng phái, tầng lớp dân tộc Thực hiện phạm vi chủ trương trên toàn Đông Dương
Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936) đã xác định đúng nhiệm vụ chống đế quốc, khẳng định đúng những vấn đề căn bản mang tính chiến lược của cương lĩnh chính trị đầu tiên Giữ phạm vi cách mạng trên toàn Đông Dương theo như chỉ thị của quốc tế cộng sản Nhận thức rõ trong việc tập hợp lực lượng cách mạng, tập hợp lực lượng tất cả các giai cấp
Giai đoạn này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam Các chủ trương và văn kiện đã khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mạng và đã khắc phục được hạn chế trong
nhận thức thực tiễn của Luận cương chính trị và đưa ra nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ
của cách mạng giải phóng dân tộc, về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc, thực dân và chống phong kiến, tập hợp lực lượng cách mạng, nhận thức rõ khả năng tập hợp giai cấp tư sản bản xứ Song, vẫn còn hạn chế về mặt phạm vi, không thể hiện rõ khả năng
tự quyết của dân tộc