BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT: Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật; thực hiện pháp luật, truy cứu trách nhiệm pháp lý; giáo dục pháp luật
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ
NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đề bài: Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật; Thực hiện pháp luật; Truy cứu trách nhiệm pháp lý; Giáo dục pháp luật
MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1
Trang 2NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1
1 Văn bản quy phạm pháp luật 2
2 Vị trí của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam 2
II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ 2
1 Đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật 2
2 Đối với việc: Thực hiện pháp luật 4
3 Đối với việc: Truy cứu trách nhiệm pháp lý 5
4 Đối với việc: Giáo dục pháp luật 7
KẾT LUẬN 8
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng quan trọng bậc nhất trong thượng tầng chính trị - pháp lý của xã hội Nói đến sự ra đời của nhà nước không thể không nói đến sự ra đời của pháp luật Đúng như nhà kinh tế học nổi
tiếng người Pháp, Jean-Baptiste Say đã từng tâm niệm: “Không có con đê pháp
luật án ngữ thì tự do chỉ là một dòng sông phá hoại” “Pháp luật nổi lên như một công cụ “thép”, có hiệu lực mang tính uy quyền của nhà nước Pháp luật
là hạt nhân, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các quy tắc xã hội”1 Pháp luật ngự trị trong đời sống xã hội qua nhiều hình thức khác nhau chẳng hạn tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật,… nhưng trong số đó, văn bản quy phạm pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
Nhận thức được ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật trong đời sống
xã hội, trong phạm vi nghiên cứu bài tiểu luận này, em xin phép được trình bày những quan điểm cá nhân thông qua đề tài:
“Phân tích ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật đối với việc:
- Xác lập quan hệ pháp luật
- Thực hiện pháp luật
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý
- Giáo dục pháp luật”
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1 Văn bản quy phạm pháp luật
1 Hoàng Thị Kim Quế: Pháp luật và đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia, H.2007, tr.50
Trang 4Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do các chủ thể có thẩm quyền
ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức theo luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
Hiện nay trên thế giới, văn bản quy phạm pháp luật có thể được sử dụng như loại nguồn chủ yếu và không chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm riêng và truyền thống pháp luật của từng quốc gia Mặc dù vậy, nhìn chung có thể nhận định đây là loại nguồn quan trọng hàng đầu của pháp luật bởi những
đặc trưng ưu việt như: chính xác, rõ ràng, minh bạch, đơn giản khi ban hành
hoặc sửa đổi, dễ đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật,
dễ phổ biến, dễ áp dụng,…2
2 Vị trí của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Là một quốc gia theo truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa với nhiều đặc điểm tương đồng với truyền thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law), pháp luật Việt Nam xem văn bản quy phạm pháp luật vừa hình thức pháp luật, vừa là nguồn pháp luật chủ yếu, trực tiếp, giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong hệ thống pháp luật Do đó, văn bản quy phạm pháp luật mang ý nghĩa rất lớn đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo trật tự an ninh xã hội vì sự phát triển toàn diện của đất nước
II Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MỘT
SỐ HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ
1 Đối với việc: Xác lập quan hệ pháp luật
Trong khoa học pháp lý, hiện nay vẫn có một vài ý kiến chưa thống nhất
về khái niệm quan hệ pháp luật Song, có thể định nghĩa, Quan hệ pháp luật
là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội, được xuất hiện trên cơ sở sự
Trang 5điều chỉnh của các quy phạm pháp luật Quan hệ pháp luật có nội dung vật chất là quan hệ xã hội và nội dung pháp lý là các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể.3
Xác lập quan hệ pháp luật là tạo ra hình thức pháp lý của quan hệ xã hội
dựa vào sự tác động của các quy phạm pháp luật Bởi trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hầu hết các quy phạm pháp luật đều được chứa đựng, thể hiện rõ ràng nhất trong văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy đối với hoạt động xác lập quan hệ pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật mang nhiều ý nghĩa to lớn như sau:
Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật cung cấp quy phạm pháp luật làm
yếu tố tác động, “chỗ dựa pháp lý” để phát sinh quan hệ pháp luật Chẳng hạn, trong quá trình sinh hoạt và sản xuất, con người có những quan hệ xã hội về lao động Đến sau này khi Bộ Luật lao động ra đời, những quan hệ xã hội đó được các quy phạm pháp luật về lao động tác động lên và làm phát sinh các quan hệ pháp luật về lao động
Thứ hai, trên cơ sở các quy phạm pháp luật chứa đựng trong văn bản quy
phạm pháp luật, quan hệ pháp luật được hình thành, phát triển, thay đổi và thậm chí là chấm dứt Ví dụ, căn cứ vào Khoản 1 Điều 24 của Luật nuôi con
nuôi năm 2010: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con…” Với quy phạm
pháp luật này, đã chỉ ra dấu mốc bắt đầu phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con nuôi là kể từ ngày giao nhận con nuôi Hay trong Khoản 3
Điều 25 Luật này cũng nêu rõ: “Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong
các trường hợp sau đây:…Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi”.
Trang 6Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật góp phần quyết định đến tính khả thi
của nội dung quan hệ pháp luật (hay còn gọi là quyền và nghĩa vụ pháp lý)
Do đó, khi xây dựng quy phạm pháp luật nhà làm luật cũng dự tính trước một số khả năng có thể xảy ra trong tương lai và từ đó thể hiện khuôn mẫu
xử sự mà Nhà nước xem là phù hợp
2 Đối với việc: Thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các
chủ thể được hình thành trong quá trình hiện thực hoá các quy định của pháp luật.4 Hiện thực hoá các quy định pháp luật tức là làm cho bộ phận quy định
và bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đi vào đời sống thực tiễn khi bắt gặp những tình huống đã được dữ liệu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật đó Với những đặc điểm như vậy, văn bản quy phạm pháp luật cũng có những ý nghĩa nhất định cho hoạt động thực hiện pháp luật cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ cấu của quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp
luật thường có thể bao gồm ba bộ phận sau: bộ phận giả định, bộ phận quy định, bộ phận chế tài Nhờ đó, trong quá trình thực hiện pháp luật, dựa vào việc xác định đúng cấu trúc của quy phạm pháp luật mà chủ thể có năng lực hành vi dân sự sẽ xác định rõ những hành vi thực tế hợp pháp thông qua việc trả lời các câu hỏi: Ai (tổ chức, cá nhân nào), trong những điều kiện, hoàn cảnh nào, khi nào; thì sẽ được làm những gì, không được làm những gì và phải làm như thế nào; nếu không làm như vậy hoặc làm trái thì chủ thể sẽ phải gánh chịu những hậu quả gì…
Thứ hai, nhờ các ưu điểm của văn bản quy phạm pháp luật chẳng hạn tính
rõ ràng, chính xác, minh bạch, dễ sử dụng,… sẽ khiến hoạt động thực hiện pháp luật trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn
Trang 7Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở để đối chiếu, xác minh tính
hợp pháp của nhiều hành vi do con người có năng lực hành vi pháp luật thực hiện Giả sử trong trường hợp sau, bác A và anh B có quan hệ cha con ruột thịt Trong một lần anh B đã chứng kiến bác A lấy trộm chiếc điện thoại của hàng xóm và đem bán ngay sau đó nhưng B không tối giác hành động ăn trộm đó của bác A Xét về mặt đạo đức, anh B làm đúng bổn phận của người con nhưng nếu theo Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì anh B cũng vi phạm pháp luật Tuy nhiên đến khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời thì đối chiếu theo Khoản 2 Điều 22 của Bộ luật này thì anh B không vi phạm pháp luật
3 Đối với việc: Truy cứu trách nhiệm pháp lý
Trong phạm vi chương trình học, khái niệm Trách nhiệm pháp lý có thể được hiểu theo nghĩa đó là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất
lợi do vi phạm pháp luật 5 Theo cách hiểu này, trách nhiệm pháp lý luôn gắn
liền với vi phạm pháp luật, chỉ phát sinh khi có vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý luôn mang tính bất lợi với chủ thể gánh chịu
Bên cạnh đó, Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động thể hiện quyền
lực nhà nước do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật6 Qua đó ta có thể hiểu một cách đơn giản về hình thức của truy cứu trách nhiệm pháp lý tức là việc cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật hiện thực hoá bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật theo những căn cứ pháp lý xác định
Trang 8Đối với hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật đem lại một số ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, bộ phận chế tài trong các quy phạm pháp luật được chứa đựng
trong văn bản quy phạm pháp luật sẽ xác định hậu quả pháp lý mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu đồng thời xác định biện pháp cưỡng chế dự kiến sẽ áp dụng Ví dụ, Khoản 1 Điều 393 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ
sung 2017) quy định: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh
trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm” Như vậy, căn cứ vào bộ
phận chế tài của quy phạm pháp luật này, khi có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tổ chức cho các chủ thể vi phạm pháp luật bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật cung cấp những quy định cụ thể về
thời hiệu để truy cứu trách nhiệm pháp lý, đồng thời cung cấp những quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý Ví dụ, căn cứ
Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015 chỉ rõ: “Thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự được quy định như sau: a, 05 đối với tội phạm ít nghiệm trọng; b, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; c, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; d, 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Tiếp theo đó, tại Điều 28 Bộ luật này quy định: “Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ Luật này đối với các tội phạm sau đây: 1 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này; 2 Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại chương XXVI của Bộ luật này; 3 Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4
Trang 9Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tác khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.”
Thứ ba, trong văn bản quy phạm pháp luật sẽ quy định về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, cũng như cách thức tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý
Ví dụ, khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định: “Cơ quan
tiến hành tố tụng gồm: a, Cơ quan điều tra; b, Viện kiểm sát; c, Toà án”
nghĩa là chỉ có những cơ quan như luật chỉ định mới có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý
4 Đối với việc: Giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục
đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người về trình độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.7 Hiện nay, đây là một quá trình hoàn thiện nhân tố xã hội – pháp lý của con người và là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Trong thực tiễn, đối với hoạt động này văn bản quy phạm pháp luật bao đem lại một vài ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật cung cấp nền tảng về nội dung
kiến thức, tri thức pháp lý cho hoạt động giáo dục pháp luật chẳng hạn như: các quy định của Hiến pháp, các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, các quy định pháp luật về dân sự, giao thông, y tế, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo vệ môi trường, hôn nhân và gia đình,…
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật giúp nâng cao hiệu quả và sức
thuyết phục cho hoạt động giáo dục pháp luật Bởi vì có tính khả thi, dễ tiếp cận, dễ thực hiện; ngôn ngữ phổ thông, cách diễn đạt dễ hiểu và hơn nữa còn
có thể dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài nên nhờ đó văn bản
Trang 10quy phạm pháp luật hỗ trợ cho hoạt động giáo dục pháp luật hướng đến cũng như tiếp cận được nhiều đối tượng nhân dân lao động hơn
Thứ ba, bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm
pháp luật còn có tác dụng răn đe để người dân không làm những việc trái pháp luật từ đó nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, trong đời sống hằng ngày cũng như trong đời sống pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vượt trội của nó so với các loại nguồn khác của pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật cũng có những hạn chế nhất định Bởi vì các quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật thường có tính ổn định tương đối cao nên không thể dự liệu hết tất cả tình huống và khả năng có thể xảy ra nên đôi khi sẽ dẫn tới sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt; việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng tốn kém rất nhiều về mặt nhân lực, thời gian, ngân sách,… với nhiều quy trình khá phức tạp Vì vậy, trong thực tiễn cần có sự tham khảo kết hợp các loại nguồn khác như án lệ, tập quán pháp, tín điều tôn giáo, điều ước quốc tế,… Thêm vào đó, trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo được tính thống nhất với hệ thống pháp luật, cần hạn chế tối đa hiện tượng chồng chéo, xung đột giữa các văn bản với nhau, bộ phận chế tài trong quy phạm pháp luật cần nghiêm khắc hơn để có tính răn đe giáo dục,… Có như vậy, văn bản quy phạm pháp luật mới trở nên thực sự ý nghĩa và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực đối với xã hội
Trang 11DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình:
1 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Tư pháp Hà Nội – 2020
2 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội - 2021
Trang 12Văn bản quy phạm pháp luật:
1 Luật nuôi con nuôi năm 2010
2 Bộ Luật Hình sự năm 2015
3 Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015
4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
5 Hiến pháp Nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Sách, đề tài nghiên cứu khoa học, tạp chí khoa học:
1 Hoàng Thị Kim Quế: Một số vấn đề về quan hệ pháp luật
2 Bùi Thị Đào: Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản trong luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí luật học, số 1/2005
3 Lê Vương Long: Thống nhất về khái niệm quan hệ pháp luật, Tạp chí
Luật học, số 4/2006
4 Lê Vương Long: Trách nhiệm pháp lý – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2008
5 Thái Vĩnh Thắng: Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa, Tạp chí dân chủ
và pháp luật, số 12/1999
6 Kỷ yếu hội thảo khoa học: Những điểm mới của Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 2015 và phương hướng triển khai thực hiện,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 6/2016
Website:
1 Tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật trong nhiệm
nhiệm kỳ quốc hội khoá XIV – 17/09/2020 :