ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM TRẦN ĐỨC BÌNH BÁO CÁO TỐT NGHIỆP PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ THỰC TIỄN TẠI UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
TRẦN ĐỨC BÌNH
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ THỰC TIỄN TẠI UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI,
TỈNH KON TUM
Kon Tum, tháng 5 năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ THỰC TIỄN TẠI UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cẩm ơn quý thầy cô giáo Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum, những người đã trực tiếp giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi, đây chính là những nền tảng cơ bản đầu tiên, là những hành trang vô cùng quý giá cho tôi bước vào sự nghiệp Luật học sau này Đặc biệt là ThS Trương Thị Hồng Nhung, người
đã cho tôi rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm và niềm đam mê đối với đề tài báo cáo thực tập
mà tôi đã chọn, cảm ơn Quý Thầy Cô đã tận tình quan tâm chia sẻ và giúp đỡ tôi trong hơn
03 tháng vừa qua, giải đáp những thắc mắc trong quá trình thực tập, nhờ đó mà tôi mới có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập này
Bên cạnh đó tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới đồng chí Huỳnh Ngọc
Ly – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đăk Long nơi tôi đang thực tập và các anh chị trong Hội đồng tư vấn hòa giải tranh chấp đất đai xã đã tạo cơ hội giúp tôi có thể thu thập số liệu
và tìm hiểu rõ hơn về nội dung đề tài Một lần nữa cám ơn sự quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn
và tạo điều kiện thuận lợi nhất của các đồng chí để tôi hoàn thành bài báo cáo thực tập này Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, vì chỉ dựa vào lý thuyết đã học cùng với thời gian đi thực tế tại cơ sở quá ngắn nên việc thu thập thông tin từ thực tế còn quá ít; vì vậy chắc chắn bài báo cáo sẽ không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự góp
ý, nhận xét từ Quý Thầy Cô để bài báo cáo được hoàn thiện hơn
Kính chúc Quý Thầy Cô luôn vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc!
Sinh viên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, 4
TỈNH KON TUM 4
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM 4
1.1.1 Giới thiệu chung về xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 4
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 5
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM 8
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 8
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 9
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 12
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 13
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ 13
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai 13
2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã 14
2.1.3 Ý nghĩa của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã 15
2.2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ 15
2.2.1 Nguyên tắc giải quyết trong hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã 15
2.2.2 Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã 15
2.2.3 Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong tranh chấp đất đai 16
2.2.4 Quy định về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã 17
2.2.5 Quy định về trình tự thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành tại UBND cấp xã 21
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23 CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN CÔNG TÁC HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 24 3.1 THỰC TRẠNG HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN
XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM 24
3.1.1 Tình hình hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 24 3.1.2 Đánh giá công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum 25
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM 28 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 32 KẾT LUẬN 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BÁO CÁO CÔNG VIỆC HÀNG THÁNG
BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN
GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THÀNH BÁO CÁO THỰC TẬP
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt/ ký hiệu Cụm từ đầy đủ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
1.1 Bảng thống kê chức danh tại UBND xã Đăk Long, huyện
3.1 Bảng thống kê công tác tiếp công dân liên quan đến hòa
giải tranh chấp đất đai từ 15/11/2019 đến đầu năm 2022 25
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang
1.1 Cơ cấu tổ chức UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei,
2.1 Sơ đồ trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thông
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, nhất là
ở những vùng đang đô thị hóa nhanh Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn ở hầu hết mọi nơi…Tuy nhiên, cần phải thừa nhận thực tế là cho đến nay công tác quản lý về đất đai còn nhiều hạn chế, Luật Đất Đai chưa giải quyết mâu thuẫn về quan hệ đất đai, đất còn sử dụng manh mún, hiệu quả sử dụng chưa cao Để đất đai phục vụ triệt để cho mục đích phát triển chung luôn là mối quan tâm lớn của các vị lãnh đạo, các nhà quản lý và các nhà khoa học Hiện nay nền kinh tế nước
ta được định hướng phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - thương mại dịch vụ sang công nghiệp - thương mại dịch vụ - nông nghiệp đã gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai đòi hỏi khi nghiên cứu và đánh giá đúng đắn thực trạng quản lý để đề xuất những biện pháp sử dụng đất đai sao cho hợp lý, đầy đủ và bền vững
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá không thể tái tạo được, là tư liệu sản xuất đặt biệt không gì thay thế được của nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là nền tảng để phân bố các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Đã trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn biết bao công sức và xương máu mới khai thác bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay
Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ và
sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường, đưa việc quản lý và sử dụng đất vào quy chế chặt chẽ, khai thác tốt tiềm năng của đất đai một cách hợp lý và có hiêu quả, triệt để tiết kiệm góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công bằng xã hội, từng bước đưa nông lâm nghiệp lên sản xuất lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Luật Đất Đai đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và được ban hành ngày 14/07/1993 và bắt đầu có hiệu luật từ ngày 15/10/1993 quy
định: “Đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” và Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất Đai ngày 11/12/1998 đã quy định giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước, để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh bất đồng giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân liên quan đến quyền sử dụng đất, từ đó tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đồng thời sử lý các hành vi, vi phạm pháp luật về đất đai: luật đất đai (số 45/2013/QH13) ngày 29/11/2013 cũng đã quy định bắt buộc các tranh chấp đất đai đều phải được hòa giải tại cơ sở
Để giúp Nhà nước quản lý đất đai được chặt chẽ thì công việc thanh tra kiểm tra về tranh chấp đất đai là một công việc hết sức quan trọng và là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đưa
Trang 10công tác thanh tra giải quyết tranh chấp đất đai vào quy chế chặt chẽ nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cơ quan, mọi tổ chức và mọi người trong việc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm
có hiệu quả, sử dụng đúng mục đích với tất cả các loại đất nhằm phát triển và bảo vệ đất đai, bảo vệ môi sinh, môi trường Tạo điều kiện cho việc tổ chức lại sản xuất theo hướng công nghiệp - hóa hiện đại hóa đất nước để đất đai được coi là tài sản quý giá nhất
Trong những năm gần đây việc giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai của Huyện Đăk Glei nói chung và của xã Đăk Long nói riêng có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên việc giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai vẫn còn vướng phải những nhược điểm cần khắc phục nên việc giải quyết tranh chấp về đất đai trên địa bàn xã Đăk Long cũng đi theo chiều hướng đó Do nhiệm vụ của cấp cơ sở chỉ là hòa giải, không có thẩm quyền giải quyết dứt khoát tranh chấp về đất đai, tuy nhiên bằng những cố gắng của mình mà trong những năm qua xã Đăk Long đã cơ bản giải quyết được các tranh chấp đất đai tại cơ sở và chỉ có vài trường hợp phải chuyển hồ sơ tranh chấp về Huyện giải quyết vì không thuộc thẩm quyền Để góp phần nâng cao việc quản lý và sử dụng đất đai cũng như giải quyết đơn thư khiếu nại về tranh chấp đất đai của nhân dân trong thời gian tới Với nhận thức và
những vấn đề nêu trên nên bản thân tôi chọn đề tài về “Pháp luật về hòa giải tranh chấp
đất đai tại UBND cấp xã - Thực tiễn tại UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum” làm báo cáo thực tập của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng tranh chấp và thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại xã UBND Đăk Long, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật trong công tác hòa giải tại
cơ sở để giải quyết có hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai
Để đạt được mục đích này, bài báo cáo có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại xã Đăk Long Trên cơ sở đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai thông qua công tác hòa giải tại cơ sở
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ các hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai xã Đăk Long từ năm 2019 đến nay Nghiên cứu các trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại xã Đăk Long (chủ yếu là quá trình hòa giải tại thôn và tại chính quyền cơ sở)
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết đề tà sử dụng phương pháp lịch
sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp
Chương 3: Thực tiễn công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum và một số giải pháp
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI,
TỈNH KON TUM
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA UBND XÃ ĐĂK LONG, HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM
1.1.1 Giới thiệu chung về xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
a Đặc điểm địa lý của xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
Xã Đắk Long là một xã vùng núi, giáp biên giới Việt – Lào, nằm cách thành phố Kon Tum khoảng 120 km về hướng bắc, cách trung tâm huyện Đăk Glei khoảng 47 km về hướng tây nam Phía Bắc giáp: giáp xã Đăk Nhoong, phía Nam giáp: giáp xã Đăk Dục (huyện Ngọc Hồi), phía Tây giáp: giáp với huyện Xản Xay, tỉnh Atapư (nước CHDCND Lào) với đường biên giới dài 53 km
* Tọa độ địa lý:
- Từ 140 52'30" - 15º 03'20" Vĩ độ Bắc
- Từ 1070 28'25" - 107º 40'00" Kinh độ Đông
Địa hình: Xã Đắk Long có địa hình phức tạp, cao ở phía Bắc và phía Tây, thoải
nghiêng dần về phía Nam - Đông Nam, toàn xã chia thành 3 dạng địa hình
Địa hình núi trung bình: Đây là dạng địa hình chiếm hầu hết diện trên địa bàn xã với
diện tích 26.189,66 ha chiếm 93,7%; Dạng địa hình này có độ cao trung bình > 1000m địa hình chia cắt hiểm trở, với các đỉnh núi cao như Ngok Bin Săn: 1.868m; Ngok Peng Mul: 2.052m ở phía Bắc các sườn dốc có độ dốc >20º Hiện trạng chủ yếu dạng địa hình này chủ yếu sử dụng cho mục đích sản xuất lâm nghiệp
Địa hình dạng đồi thoải: Phân bố rải rác trên địa bàn xã, dọc theo các tuyến
đường liên thôn, liên xã với diện tích khoảng 1.293,44 ha chiếm khoảng 4,6% Dạng địa hình này có độ dốc từ 3 - 150 Đây là dạng địa hình thích hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp
Địa hình thấp thung lũng hẹp: Dạng địa hình này với diện tích khoảng 465,64 ha
chiếm 1,7 % Phân bố chủ yếu dọc theo các khe suối, hợp thủy, thuận lợi nguồn nước thích hợp cho việc sản xuất lương thực - thực phẩm với độ đốc từ 00 - 30
Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, hang năm có hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa), mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.730 mm độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 79,2%, nhiệt độ trung bình cả năm 240C, biên độ giao động trong ngày và đêm khoảng 120C, nhiệt
độ cao nhất trong năm 390C, thấp nhất 100C
Phía Đông giáp: giáp xã Đăk Môn và xã Đăk Kroong Toàn xã có 9 thôn, gồm các
thôn: (1) Thôn Pêng Blong (trung tâm xã); (2) Thôn Măng Tách; (3) Thôn Đăk Xây; (4)
Thôn Dục Lang; (5) Thôn Đăk Tu; (6) Thôn Vai Trang; (7) Thôn Đăk Ác; (8) Thôn Đăk Ôn; (9) Thôn Long Yên Kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hệ thống đường giao thông nông
thôn đã được bê tông hóa
Diện tích tự nhiên 28.050.38ha , trong đó: Diện tích đất lâm nghiệp là 20.293,8ha;
Trang 13đất nông nghiệp là 4.384,74ha; độ che phủ rừng 72,25% Trên địa bàn xã có 03 chủ rừng
quản lý (UBND xã Đăk Long, BQL Rừng phong hộ Đăk Glei, Lâm trường Đăk Ba); 08
cộng đồng thôn (Đăk Ôn, Pêng Blong, Măng Tách, Đăk Xây, Đăk Tu, Dục Lang, Vai trang,
Đăk Ak)
b Đặc điểm về dân cư
Dân cư thưa thớt, mật độ dân số thấp, có 1.515 hộ với 6.315 người, gồm 14 dân tộc
cùng sinh sống (Kinh, Dẻ, Triêng, Xê Đăng, Mường, Thái, Tày, Nùng, Ba Na, Jarai, Tà rẻ, Sán Dìu, Hà Lăng, Mơ Nông) Trong đó: Đồng bào DTTS chiếm trên 95% dân số
c Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Xã Đăk Long có nền kinh tế chính là nông nghiệp, chủ yếu trồng các cây hằng năm như: củ mì, ngô, lúa nước, và cây lâu năm như: cà phê, cao su, hồ tiêu, cùng một số cây ăn quả khác đang dần được phổ biến thay đổi nếp nghĩ, cách làm Năm 2020 xã đạt 11/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, có 1 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 100% Toàn xã có 8/9 thôn có nhà rông văn hóa truyền thống,
06 bộ cồng chiêng, 7/9 thôn đạt khu dân cư văn hóa Xã Đăk Long đã được Chủ tịch nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1976; xã có 03 Mẹ Việt Nam Anh hùng, có 88 gia đình và cá nhân đang thụ hưởng chính sách người có công với cách mạng, thương binh, bệnh binh; toàn xã có 54 liệt sỹ trong các cuộc kháng chiến
của dân tộc Có 02 tôn giáo (đạo Tin lành và đạo Công giáo) với 4273 tín đồ, trong đó:
Tin lành Hội Truyền giáo cơ đốc gồm có 10 điểm nhóm với 3.201 tín đồ và 01 hệ phái Tin Lành Bắp Tít 11 khẩu; Công giáo sinh hoạt tập trung tại điểm công giáo thôn Pêng Blong
có khoảng 1.061 giáo dân, 22 chức sắc tôn giáo (Mục sư, Truyền đạo, Giáo phu) Tổng hộ
nghèo toàn xã 570 hộ, chiếm 39,04 %, hộ cận nghèo 193 hộ, chiếm 13,22%
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
Nhân dân một lòng yêu nước khát khao giải phóng dân tộc, vươn lên làm chủ vận mệnh quê hương đất nước, giữa năm 1962 tại hang núi đá làng Đăk Tu chi bộ xã Đăk Ôn (tên gọi tiền thân của xã Đăk Long) đầu tiên được thành lập Kể từ đây phong trào cách mạng bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn của niềm tin và chiến thắng, dưới ngọn cờ lãnh đạo Đảng, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Đăk Long đã vững bước đi lên trong
sự ngiêp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Ngày 16/3/1975 tỉnh Kon Tum hoàn toàn giải phóng, địa phương đã thành lập Ban quân quản cở sở để tiến hành tiếp quản Đến cuối năm 1975 xã đã hoàn thành xây dựng Uỷ ban chính quyền xã Ghi nhận những chiến công cách mạng, tiền thân Đăk Long được nhà nước phong tặng cho Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân danh hiệu xã anh hùng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Sau những lần sáp nhập và đổi tên, đến năm 1978 xã Đăk Long được tách ra từ xã Đăk Thượng Long, từ đó duy trì và phát triển đến ngày nay Sau nhiều lần di chuyển trụ
sở, công tác văn thư thiếu chặt chẽ nên công văn thể hiện sự ra đời của xã Đăk Long mới cho đến nay đã bị mai một, tuy nhiên theo cuốn sách “Lịch sử truyền thống đâú tranh cách
Trang 14mạng, xây dựng, bảo vệ tổ quốc của đảng bộ và nhân dân xã Đăk Long (giai đoạn 1930 - 2020)” và tìm hiểu qua các cán bộ lão thành, tháng 8/1978 thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Đăk Glei, Đảng bộ xã Đăk Long tiến hành đại hội , Đại hội quy tụ 34 đảng viên, nhiệm vụ trong tâm xây dựng chính quyền và tổ chức vận động nhân dân nâng cao chất lượng đảng viên Đến tháng 10/1978 tổ chức chính quyền và đoàn thể quần chúng được cũng cố tương đối đầy đủ Đồng chí A Véc là chủ tịch UBND xã, có 21 cán bộ, chuyên môn Chính quyền cách mạng được cũng cố đi vào hoạt động quản ký, điều hành, thực hiện các nhiệm vụ ngày càng hiểu quả, hoạt động của mặt trận và các tổ chức đoàn thể tập trung tuyên truyền phổ biến các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Mặt trận tổ quốc, chỉ đạo các phong trào thi đua sản xuất, giải quyết các vấn đề liên quan đến kinh tế,đời sống, tháo gỡ những khó khăn về kinh tế - xã hội của địa phương
Xã Đăk Long trong giai đoạn 1978 – 1985:
Tổ chức chính quyền được cũng cố và dần hoàn thiện, lãnh đạo phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng Tiến hành mở mang sản xuất, định canh, định cư, xóa bỏ lối sống du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số Vụ mùa năm 1979 nhân dân đã khai hoang chuyển xuống những vùng đất bằng bước đầu xây dựng được một số cánh đồng, diện tích gieo cấy mùa vụ đạt 14 ha, năng xuất 16 tạ/ha, sản lượng 18,4 tấn, chú trọng phát triển chăn nuôi thâm canh tăng vụ Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, quốc phòng an ninh được đảm bảo
Đại hội đảng bộ xã tổ chức vào ngày 20/11/1984 nhiêm kỳ 1980 – 1985, đại hội bầu đồng chí A Chưng là bí thư, tiếp tục cải tiến hoạt động của chính quyền, đồng chí A Nhôm
là chủ tịch xã trong giai đoạn này UBND đã xây dựng được kế hoạch hoạt động cụ thể trên từng lĩnh vực, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể đã được tăng cường cũng cố, đảm bảo hoạt động đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đổi mới, chỉ đạo mở rộng diện tích sản xuất năm
1985 đã khai hoang tổng diện tích các cánh đồng khoảng 160 ha, ngăn nước, đào mương, xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất, là một trong 2 xã đạt chỉ tiêu ở mức khá toàn huyện Ngoài ra chính quyền đã cố gắng khắc phục những khó khăn tổ chức được một số phong trào văn hóa,văn nghệ quần chúng, việc học hành, đi lại, nâng cao sức khỏe, vui chơi, giải trí, thực hiện công bằng xã hội luôn được quan tâm
Giai đoạn 1986 – 1995: Thực hiện đường lối đổi mới
Đại hội đảng nhiệm kỳ 1986 – 1990 đề ra nhiệm vụ xây dựng đảng là đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới phong cách lãng đạo và công tác, tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo nguồn cán bộ kế cận Đến năm 1990 Đảng
bộ đã có 6 chi bộ với 54 đảng viên UBND đã xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
tổ chức triển khai hiểu quả các chủ trương của Đảng, nhà nước về thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội ,an quốc phòng ở địa phương Năm 1990 thông qua cuộc bầu cử HĐND và UBND đồng chí A Phôi được bầu làm chủ tịch, phát triển kinh tế lấy nông nghiệp làm trọng tâm, định canh, định cư, đẩy mạnh chăn nuôi, bảo vệ và phát triển rừng, triển khai công tác xóa mù chữ, tập trung phòng chống dịch bệnh, xây dựng mạng lưới y
Trang 15tế Năm 1994 bộ máy chính quyền được kiện toàn, các tổ chức đoàn thể có sự đổi mới về nội dung và phương pháp hoạt động tập hợp được quần chúng hăng hái thi đua lao động sản xuất, giữ vững an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội, chỉ đạo cải tiến kỹ thuật về sản xuất, đề ra mục tiêu mỗi hộ có từ 1 – 2 con trâu, bò trở lên, cuối 1994 xã đã xây dựng được 45.500m kênh mương thủy lợi, tưới tiêu cho hơn 26 ha
Giai đoạn 1996 – 2005: Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo sự lớn mạnh của Đảng bộ, năm 1999 đảng bộ đã có 7 chi bộ với 55 đảng viên HĐND và UBND ngày càng thể hiện được vai trò là cơ quan quyền lực điều hành của nhà nước tại địa phương, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân đã quyết định những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực kinh tế – xã hội – quốc phòng – an ninh của xã nhà, từng bước ổn định nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trình độ của cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao Quan tâm phát triển kinh tế, năm 2000 toàn xã có 85 ha diện tích lúa nước thâm canh, diện tích ngô lai 49 ha và nhiều loại hoa màu khác, bình quân lương thực đầu người đạt 350kg/năm, 366/605 hộ có nhà ngói, 85% hộ gia định có điện thắp sáng Chăm lo phát triển giáo dục thực hiện mỗi làng 1 trường, mỗi trường có từ 2 đến 4 phòng học bán trú kiên cố, trạm y tế được cũng cố, trang thiết bị y tế được nâng cấp Năm 2005 hệ thống chính trị được biên chế 19 chức danh cán bộ công chức xã, dưới
sự lãnh đạo của đảng bộ, chính quyền đã hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, giữa 2005 toàn xã có tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là 1.361,5 ha, cây lâu năm 320 ha, tổng đàn gia súc 3.443 con, tổng đàn gia cần 3.250 con, kênh mương đảm bảo nước tưới 1 năm
2 vụ Đời sống nhân dân có nhiều khởi sắc
Giai đoạn 2005 – 2020: giai đoạn đổi mới, hội nhập và phát triển
Qua các kỳ đại hội đảng với nhiệm vụ trọng tâm tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thông đoàn kết nhân dân, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế quy hoạch lại sản xuất tạo
đà vững chắc cho việc phát triển kinh tế hàng hóa, giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội,giáo dục, y tế, giữ vững QPAN Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể đã thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước tại địa phương, xây dựng hệ thống chính trị hiểu lực, hiểu quả Quan tâm góc độ đào tạo phát triển nhân lực, nếu như tháng 6/2008 đảng bộ xã có 78 đảng viên, thì đến năm 2017 đã tăng lên 131 đảng viên Năm 2011 cán bộ công chức xã có 25 người tuy nhiên trình độ chuyên môn đại học chỉ có 01 đ/c, còn lại là trung cấp, sơ cấp thì đến năm 2020 đã đạt 20/25 cán bộ công chức Tăng cường đổi mới phương thức lãnh đạo, tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế, khuyến khích nhân dân vay vốn đẩy mạnh sản xuất, tích cực chăm lo, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tận dụng và phát huy tối đa các nguồn vốn đầu tư từ các chương trình 134,135,168, dự án giảm nghèo miền trung, dự án phát triển
xã biên giới Sau thời gian thực hiện các kế hoạch 5 năm, Đảng ủy, Ủy ban xã đã có những quyết sách táo bạo, bộ mặt Đăk Long đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân được nâng lên
rõ rệt, kinh tế phát triển vượt bậc Từ năm 2015 – 2020 xã đã triển khai thực hiện 42 công trình giao thông với số vốn đầu tư hơn 19 tỷ đồng, năm 2020 thu nhập bình quân đầu người đạt 19.300.000/người/năm, sản lượng sản phẩm lương thực có hạt đạt 1.175,3 tấn, diện tích
Trang 16cây lâu năm 1.110 ha, lương thực bình quân đầu người 200,3 kg/người/năm Chú trọng thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới năm 2020 xã đã đạt 11/19 tiêu chí, y tế, giáo dục không ngừng được quan tâm đầu tư, công tác an sinh xã hội được đảm bảo, an ninh quốc phòng được giữ vững
Nhiệm kỳ 2020 – 2025 Đảng ủy, Uỷ ban đã xác định mục tiêu tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ; đổi mới nâng cao trách nhiệm và hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền, tăng cường công tác cải cánh thủ tục hành chính, nâng cao hiểu quả hoạt động của bộ phận “Một cửa”; đảm bảo quốc phòng an ninh; cũng
cố phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy mọi nguồn lực,xây dựng xã Đăk Long
UBND xã Đăk Long có nhiệm vụ quyền hạn sau:
(1) Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các
khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã Đăk Long
(2) Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương
(3) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền
cho Ủy ban nhân dân xã
UBND xã Đắk Long tổ chức và hoạt động, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015
- Mọi hoạt động của UBND xã đã đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ pháp luật
và đảm bảo quyền lợi của nhân dân
- Mỗi thành viên của UBND xã phải chịu trách nhiệm cá nhân về công tác được phân công trước Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND xã, chịu trách nhiệm tập thể và hoạt
động của UBND xã trước HĐND và trước cơ quan nhà nước cấp trên
Cán bộ và nhân viên uỷ ban đều được phân công những phần việc cụ thể và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch, các Phó chủ tịch và tập thể UBND xã Khi có khó khăn vướng mắc phải đề xuất tập thể UBND bàn bạc, thống nhất biện pháp xử lý
UBND xã thảo luận tập thể và quyết định theo đa số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Chương trình công tác hàng năm, hàng quý và hàng tháng
+ Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo công khai dự toán, quyết toán thu chi ngân sách hàng năm hoặc những vấn đề cần thuyết trình trước UBND xã và
Trang 17các kỳ họp HĐND xã 6 tháng, 1 năm Thông báo công khai các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước để nhân dân theo dõi cùng thực hiện
+ Các biện pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của UBND cấp trên và của HĐND xã Thông qua báo cáo của UBND xã qua các kỳ họp + Các chủ trương, biện pháp, chính sách, chế độ quan trọng của các ngành có liên quan đến đời sống sinh hoạt của nhân dân trong xã
+ Thực hiện các quy chế thực hiện dân chủ ở xã theo Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ
+ Phối hợp chặt chẽ với các bộ phận chuyên môn làm việc tại UBND xã để hoàn thành nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao cho
+ Kết luận những vụ việc khiếu nại, tố cáo có liên quan đến cán bộ chủ chốt do UBND
xã điều hành quản lý hoặc các vụ việc có ảnh hưởng lớn trong xã, sau khi Chánh thanh tra cũng như thanh tra xã đã xem xét kết luận
+ Hàng quý, hàng năm UBND xã sẽ kiểm điểm trách nhiệm chỉ đạo và điều hành các mặt công tác chủ yếu của tập thể và cá nhân mỗi thành viên UBND trước thường vụ Đảng
uỷ và thường trực HĐND xã Đồng thời có khen thưởng cá nhân, tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
Theo quy định tại điều 32 Luật tổ chức chính quyền địa phương UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum có cơ cấu tổ chức gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên
phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an
Có thể khái quát cơ cấu tổ chức UBND xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
qua sơ đồ sau:
Trang 182 Y Thủy Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã,
Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã
3 A Xay Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã
4 Huỳnh Ngọc Ly Chủ tịch Ủy ban nhân dân - Phó bí thư Đảng ủy xã
5 A Nam Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
6 Trần Thùy Dương Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
7 A Bủng Chủ tịch Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã
(Nguồn: Văn phòng Đảng ủy xã cung cấp)
- Trường Trung học cơ sở
- Công an, Quân sự
-
Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Văn phòng Thống kê Các đơn vị, thôn làng trực thuộc
Văn hóa
Xã Hội
Trang 19Hiện tại UBND xã Đắk Long có 30 cán bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách Chủ tịch Ủy ban nhân nhân là ông Huỳnh Ngọc Ly và 2 Phó Chủ tịch là ông A Nam và bà
Trần Thùy Dương
Biên chế cán bộ, công chức UBND xã bao gồm:
- 01 đồng chí Chủ tịch UBND
- 02 đồng chí Phó chủ tịch UBND
- 02 công chức Văn hóa - Xã Hội
- 02 công chức Văn phòng - Thống kê
- 02 công chức Địa chính - Xây dựng
Trang 20KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Xã Đắk Long được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu thuận lợi, đất đai phì nhiêu, nguồn tài nguyên phong phú đặc biệt diện tích rừng nguyên sinh còn khá lớn, nhân lực lao động trẻ dồi dào, nhân dân nhận thức tốt chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước, chăm chỉ làm ăn phát triển kinh tế Địa phương luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên Đội ngũ cán bộ đảng ủy, ủy ban được biên chế đầy đủ theo quy định năng động, nhiệt huyết, trình độ ngày càng được nâng cao, tâm huyết với sự phát triển của xã nhà Bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn như cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, thiên tai địch hỏa thường xuyên diễn biến bất thường, trình độ nhận thức của đông đảo bà con nhân dân còn thấp, kinh tế địa phương chỉ dựa vào nông nghiệp đơn thuần lạc hậu Tuy nhiên bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị Đăk long đã không ngừng thay da đổi thịt, địa phương đã chủ động phát huy những thế mạnh, khắc phục những hạn chế yếu kém Bằng những biện pháp thiết thực từng bước đưa nghị quyết của Đảng các cấp vào thực tế, chủ động xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ nhận thức người dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho bà con nhân dân Thực thi pháp luật một cách hiểu quả, giải quyết các vấn đề xã hội trên tinh thần thượng tôn pháp luật, từng bước hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng
Trang 21CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai
Theo khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai”
Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất Tranh chấp đất đai bao gồm cả các tranh chấp phát sinh tài sản găn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai nảy sinh khi có những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
Đặc điểm tranh chấp đất đai:
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và
quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách
là người quản lý hoặc người sử dụng đất
Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp Hoạt động quản
lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và
sử dụng một tư liệu sản xuất Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản
lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm
cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất) Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn
Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể
gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của
Trang 22Nhà nước và xã hội
Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất
Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Tranh chấp đất đai hiện nay xảy ra rất phổ biến và phức tạp, một trong những biện pháp giải quyết tối ưu để hạn chế các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án đó chính là hòa giải tại các Ủy ban nhân dân, xã, phường, thị trấn
Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là thủ tục được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 trong trường hợp các bên tranh chấp không tự hòa hòa giải hoặc không hòa giải được thông qua hòa giải ở cơ sở Trong đó hòa giải tranh chấp về quyền sử dụng đất là thủ tục bắt buộc và cũng là điều kiện thụ lý vụ án tại Tòa án Yêu cầu khởi kiện tranh chấp
về quyền sử dụng đất nếu không được tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã thì coi như là chưa đủ điều kiện khởi kiện Và Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho đương sự là nguyên đơn Hòa giải thành công thì sẽ giữ được đoàn kết giữa các bên cũng như tránh được việc kiện tụng kéo dài và tốn kém
Đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Về cơ sở pháp lý: Hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai được
điều chỉnh bởi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai
Về bản chất vấn đề: Hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã là hoạt
động hòa giải mang tính chất thủ tục hành chính tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm
2013, theo đó Luật Đất đai khẳng định Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai
tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp
xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải
Chủ thể tiến hành hòa giải: Theo Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai do Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện Cơ cấu thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một
số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh