Xuất phát từ những yêu cầu đó nên tôt đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách du lịch sử dụng City Tour Hội An tại Công ty TMDV và Du lịch Hội An Express” nhằm nhìn lại nhữn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
A NGOAI
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH
DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY
TNHH TMDV & DL HỘI AN EXPRESS
Kon Tum, tháng 06 năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH
DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY
TNHH TMDV & DL HỘI AN EXPRESS
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : LÊ THỊ HỒNG NGHĨA
SINH VIÊN THỰC HIỆN : A NGOAI
MSSV : 1817810103013
Kon Tum, tháng 06 năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quãng thời gian 4 năm học tập tại Trường Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon
Tum, được sự chỉ bảo tận tình của các quý thầy cô và đặc biệt là các thầy cô trong Viện
đào tạo và nghiên cứu du lịch đã truyền đạt cho tôi hiểu biết thêm vô vàn những kiến thức
quý báu Từ những hành trang bổ ích đó đã tạo nên động lực giúp tôi phần nào tự tin hơn
trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp bớt đi những bỡ ngỡ khi áp dụng kiến thức vào
thực tiễn Tuy chỉ được 5 tháng thực tập tại Công ty du lịch Hội An Express, những kinh
nghiệm mà tôi học được từ các anh chị ở công ty truyền thụ không hề nhỏ chút nào Đây
là trải nghiệm vô cùng quý giá đối với sinh viên năm cuối và chuẩn bị bước vào nghề như
tôi
Với tình cảm sâu sắc và chân thành nhất, cho tôi xin phép được bày tỏ lòng biết ơn
đến cán bộ thầy cô trong Khoa Kinh tế Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại
trường đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô Đặc
biệt Ts Lê Thị Hồng Nghĩa- giảng viên hướng dẫn Khoa Kinh tế, đã tạo điều kiện hỗ trợ,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này Nhờ có những lời
hướng dẫn, dạy bảo, đôn đốc của các cô nên đề tài nghiên cứu của tôi mới có thể hoàn
thiện tốt đẹp
Về phía Công ty, tôi chân thành cảm ơn Ban giám đốc công ty TNHH MT DVDL
HỘI AN EXPRESS, đặc biệt xin cảm ơn chị Phạm Quế Anh – Giám đốc công ty du lịch
Hội An Express các anh chị đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn
thành tốt thực tập lần này
Cuối cùng tôi kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý Đồng kính chúc các anh, chị công ty du lịch Hội An Express luôn dồi
dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc Tôi xin chân thành cảm
ơn!
Kon Tum, ngày tháng năm 2022
Sinh viên thực hiện
A Ngoai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Bố cục đề tài: 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH DU LỊCH VÀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH 3
1.1 DU LỊCH 3
1.1.1 Khái niệm du lịch 3
1.1.2 Cơ sở hình thành du lịch: 3
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển du lịch trên thế giới 4
1.1.4 Vai trò của du lịch: 6
1.1.5 Phân loại các loại hình du lịch 6
1.1.6 Các điều kiện phát triển ngành du lịch 9
1.1.7 Đặc điểm của du lịch 10
1.1.8 Quan niệm về sản phẩm du lịch 11
1.1.9 Tổng quan du lịch tại Việt Nam: 15
1.2 KHÁCH DU LỊCH 19
1.2.1 Khách du lịch nội địa: 19
1.2.2 Khách du lịch quốc tế 24
1.3 KHÁCH DU LỊCH 28
1.3.1 Bản chất của thu hút 28
1.3.2 Thu hút khách du lịch 28
1.3.3 Những nhân tố tác động đến việc thu hút khách du lịch 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TOUR, TÌNH HÌNH SỦ DỤNG TOUR TÂY GIANG - ĐÔNG GIANG HỘI AN EXPRESS 33
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 33
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 33
2.1.2 Giới thiệu chung về công ty 33
2.1.3 Sơ đồ cơ cấu bộ phận và chức năng nhiệm vụ từng bộ phận 35
2.1.4 Điều kiện kinh doanh của Công ty 39
Trang 52.1.5 Lĩnh vực hoạt động của công ty 40
2.1.6 Hệ thống sản phẩm, dịch vụ của công ty 40
2.1.7 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 2019-2021: 44
2.2 THỰC TRẠNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 45
2.2.1 Giới thiệu thông tin City Tour Hội An tại công ty du lịch Hội An Express 45
2.2.2 Các yếu tố tác động đến việc thu hút khách du lịch tham gia City Tour Hội An tại công ty du lịch Hội An Express 46
2.2.3 Kết quả thu hút khách du lịch tham gia City Tour Hội An tại công ty du lịch Hội An Express 54
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 55
2.3.1 Ưu, nhược điểm của Công ty 55
2.3.2 Nguyên nhân chưa thu hút khách du lịch sử dụng City Tour Hội An của công ty du lịch HAE 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 58
3.1 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI 58
3.1.1 Mục tiêu và định hướng phát triển Công ty 58
3.1.2 Phát triển chương trình City Tour Hội An 58
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG CITY TOUR HỘI AN TẠI CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 60
3.2.1 Xúc tiến sản phẩm 60
3.2.2 Phát triển sản phẩm mới 62
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY DU LỊCH HỘI AN EXPRESS 62
3.3.1 Đối với Nhà nước 62
3.3.2 Đối với Công ty 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
TNHH TM DV & DL Trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ và du lịch
GDP Anh Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa hay
tổng sản phẩm quốc nội) CTDL Chương trình du lịch
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các Fanpage liên quan của công ty HAE 33
Bảng 2.2 Gía vé tham quan của Công ty Hội An Express năm 2022 44
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2019-2021 44
Bảng 2.4 Lượt khách sử dụng City tour Hội An của công ty Hội An Express 54
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tình hình thay đổi doanh thu, lợi nhuận, chi phí của công ty
Hội An Express năm 2019-2021
44
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu bộ phận công ty Hội An Express 35
Hình 2.9 Nhà cổ nơi giao thương nổi tiếng ở phố Hội 48
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch ngày nay, đã và đang phát triển trên nhiều các quốc gia, vì thế du lịch là một
nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống, đặc biệt là trong một xã hội đang phát triển như
ngày nay Xã hội ngày càng phát triển thì đi kèm theo nhu vầu vui chơi giải trí của nhiều
người ngày càng tăng theo
Trong những năm gần đây, Hội An đã không ngừng thay đổi và phát triển mạnh mẽ
để xứng danh “Thành phố đáng sống nhất Việt Nam”- Hội An đang dần trở thành điểm
sáng của cả nước trong lĩnh vực du lịch, được tôn vinh với nền văn hóa, ẩm thực đặc sắc,
danh lam thắng cảnh hùng vĩ và sự nhiệt thành, hiếu khách của người dân địa phương
Do tác động của đại dịch Covid-19, lượng khách du lịch đến với Hội An trong
những năm qua giảm đi đáng kể Vì thể để nhằm khôi phục lại và để phát triển thêm nữa
thì trong quá trình thực tập tại công ty TNHH TMDV và DL Hội An Express được tiếp
cận, tìm hiểu về các số liệu thống kê và theo tình hình diễn biến phức tạp của đại dịch
Covid-19 trong thời gian qua Có thể thấy rằng việc thu hút khách du lịch nội địa là vấn
đề cấp bách và quan trọng nhằm duy trì sự ổn định của ngành dịch vụ tại thành phố Hội
An nói chung và công ty TNHH TMDV và DL Hội An Express nói riêng
Xuất phát từ những yêu cầu đó nên tôt đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp thu
hút khách du lịch sử dụng City Tour Hội An tại Công ty TMDV và Du lịch Hội An
Express” nhằm nhìn lại những cái hạn chế của hoạt động du lịch tại Hội An để phát triển
nó hơn, với một cách bền vững và dặc sắc hơn
2 Tính cấp thiết của đề tài
- Chúng ta có thể nói, du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế phát triển
nhất hiện nay Nước ta nói riêng và cả thế giới nói chung, du lịch là ngành kinh tế trọng
điểm, góp phần thúc đẩy ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ cao, tạo nhiều
công ăn việc làm và nâng cao mức độ sống cho người dân
- City Tour Hội An là những điểm du lịch với những điểm thu hút khách du lịch,
giúp khách hàng trải nghiệm những thứ mới lạ,… hiểu biết nhiều hơn về lịch sử cũng như
tôn giáo và là nơi linh thiêng của dân tộc ta
- Việt Nam là nước đang có nền kinh tế đang phát triển vì thế với mong muốn được
nhiều lượng khách du lịch trên toàn thế giới đều biết đến và lựa chọn Việt Nam là điểm
du lịch trong tương lai của mình, cho nên em đã chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách du
lịch sử dụng City Tour Hội An tại Công ty TMDV và Du lịch Hội An Express” làm
chuyên đề tốt nghiệp của em
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.Mục tiêu chung
- Nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng của City Tour Hội An tại công ty du lịch
Hội An Express qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng City Tour
Hội An cho công ty du lịch Hội An Express
Trang 93.2 Mục tiêu cụ thể
- Nêu khái quát hệ thống hóa lý luận về City Tour Hội An và thực thực trạng thu hút
khách sử dụng City Tour Hội An của Công ty du lịch Hội An Express
- Phân tích và đánh giá thực trạng thu hút khách du lịch sử dụng City Tour Hội An
của Công ty du lịch Hội An Express
- Đề xuất các giải pháp nhằm để nâng cao và phát triển City Tour Hội An cho Công
ty du lịch Hội An Express
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chất lượng nghiên cứu và giải pháp nghiên cứu City Tour Hội An tại công ty du
lịch Hội An Express
4.2 Phạm vị nghiên cứu
- Phạm vi về không gian:
+ Nghiên cứu được thực hiện tại văn phòng công ty du lịch Hội An Express, tại 30
Trần Hưng Đạo, thành phố Hội An, Quãng Nam
+ Nghiên cứu tại nơi du lịch City Tour Hội An
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2023 đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập và sử dụng các dữ liệu thông tin tập hợp được từ công ty du lịch Hooijj
An Express và các thông tin sơ cấp, thứ cấp thu thập được về tình hình kinh doanh du
lịch hiện nay để phân tích, so sánh, sử lý số liệu,… thực hiện các đúc kết, suy lận cần
thiết có liên quan đến đề tài
6 Bố cục đề tài:
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về khách du lịch và thu hút khách du lịch
- Chương 2: Thực trạng thu hút khách du lịch sử dụng City Tour Hội An tại Công ty
du lịch Hội An Express
- Chương 3: Giải pháp thu hút khách sử dụng City Tour Hội An tại Công ty du lịch
Hội An Express
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH DU LỊCH VÀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH
1.1 DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm du lịch
Từ lâu, du lịch đã được xem như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực
của con người Ngày nay trên phạm vi toàn cầu, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể
thiếu được trong đời sống kinh tế – xã hội Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành
ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế nhiều quốc gia của mỗi nước nói riêng và của
kinh tế toàn cầu nói chung Khái niệm du lịch đã xuất hiện từ khá lâu Do hoàn cảnh khác
nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa
về du lịch khá đa dạng và phong phú
Gluman đã cho rằng : “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người
hướng đến một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”
Theo Azar : “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng
này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không gắn với sự thay
đổi nơi cư trú hay nơi làm việc ”
Bên cạnh đó, khái niệm cơ bản về du lịch được Liên hợp Quốc các tổ chức lữ hành
chính thức – IUOTO ( International Union of Official Travel Oragnization ) đưa ra như
sau : “ Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú
thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, không phải để làm một
nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà tiền bối về du lịch của Bulgarie đưa
ra định nghĩa về khách du lịch : “ Khách du lịch là người hành trình tự nguyện , với
những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường
khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”
Ở Việt Nam, theo Bách khoa toàn thư 1995: “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức
tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xtôi
danh lam thắng cảnh, di tích lịch hoá, công trình văn hoá, nghệ thuật, v.v Là một ngành
kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên,
truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước;
đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh
vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ tại chỗ”
1.1.2 Cơ sở hình thành du lịch:
Du lịch là một hiện tượng tồn tại cùng với sự phát triển của loài người, là một trong
những nhu cầu tất yếu giúp con người phục vụ cuộc sống của chính mình trong xã hội và
tự nhiên Sự xuất hiện nhu cầu du lịch bắt đầu chủ yếu từ mong muốn thoát khỏi sự đơn
điệu, “một màu” trong cuộc sống hàng ngày, mong muốn sự thay đổi ở một nơi khác
ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm phục hồi sức khỏe và nâng cao hiểu biết Các nhu
cầu đó luôn gắn kết với sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất càng
Trang 11phát triển thì nhu cầu về du lịch của con người càng tăng lên Điều đó xuất phát từ thu
nhập của con người tăng lên, trình độ nhận thức văn hóa phát triển, thời gian nhàn rỗi
dành cho du lịch càng nhiều đồng thời trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất thì
con người phải lao động trong những điều kiện căng thẳng hơn Những lý do đó đã thúc
đẩy nhu cầu và cầu về du lịch phát triển Lúc đầu, nhu cầu du lịch chỉ là những hiện
tượng đơn lẻ của tầng lớp quý tộc và bộ phận dân cư, sau đó du lịch trở thành hiện tượng
phổ biến, có tính đại chúng và trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan trong cuộc sống
con người Đồng thời, kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất còn đtôi lại những
điều kiện thuận lợi cho các chuyến đi của du khách Chẳng hạn sự phát triển của hệ thống
đường xá, phương tiện giao thông đã có khả năng rút ngắn khoảng cách giữa các vùng và
các quốc gia Các khoản đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho phát triển du lịch cũng không
ngừng tăng lên, như đầu tư cho trùng tu, xây dựng các khu bảo tàng, công viên, trung tâm
thương mại… Các yếu tố đó tạo nên sự hấp dẫn, kích thích nhu cầu du lịch tăng lên
Ngành du lịch được hình thành dựa trên cơ sở của phát triển lực lượng sản xuất và phân
công lao động xã hội
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển thì nhu cầu du lịch của dân cư chủ yếu được thực
hiện một cách đơn lẻ do các cá nhân và tập thể tự đứng ra tổ chức để thỏa mãn nhu cầu
của mình Đến một mức độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có
một bộ phận lao động xã hội đứng ra đảm nhiệm, tổ chức đáp ứng nhu cầu du lịch của
dân cư hay nói cách khác trong điều kiện đó xã hội đòi hỏi sự ra đời của ngành du lịch
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kéo theo sự phát triển của phân công lao động xã
hội Với sự phát triển của phân công lao động xã hội, nhiều ngành nghề mới ra đời, trong
đó có ngành du lịch Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động
xã hội là hai cơ sở cho phép ngành du lịch ra đời
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển du lịch trên thế giới
Cũng như nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, sản xuất, ngành Du lịch được
hình thành rất sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định:
Thời cổ đại, các quốc gia chiếm hữu nô lệ với các nền văn minh rực rỡ ở Ai Cập,
Lưỡng Hà, ấn Độ, Hy Lạp, La Mã được hình thành Con người đã có quá trình giao lưu
kinh tế và văn hoá Nhu cầu tìm hiểu, tham quan và cả nghỉ ngơi đã xuất hiện mà trước
hết ở giai cấp quý tộc, chủ nô rồi tới các thương gia Các nhà sử học cho rằng từ 5000
năm trước đây những chuyến vượt biển đã được bắt đầu từ Ai Cập Trong những chuyến
đi ấy, người ta kết hợp các mục đích, trong đó có cả mục đích du lịch - dù khái niệm "du
lịch" lúc này còn chưa ra đời Hàng nghìn năm trước công nguyên cư dân ở Ai Cập,
Lưỡng Hà, ấn Độ, Trung Quốc đã thực hiện các chuyến hành hương đến các đền, chùa,
lăng tẩm trong những lễ hội tôn giáo Những chuyến đi dài ngày, thậm chí hàng tháng
và cách xa nơi ở của họ đã dẫn tới việc xuất hiện những nơi ăn ở dành cho người hành
hương Một số nhà tư tưởng đã thực hiện chuyến đi dài ngày trên lãnh thổ quốc gia rộng
lớn như Khổng Tử đã đến nhiều vùng của Trung Hoa
Trang 12Từ thế kỷ IV trước công nguyên, Hy Lạp đã phát triển cường thịnh Việc đi đến các
vùng đất ở Địa Trung Hải với các mục đích nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tham quan nghiên
cứu ngày càng thu hút đông đảo giai cấp chủ nô Hy Lạp Năm 776 trước công nguyên ở
Hy Lạp người ta đã tổ chức cuộc thi thể thao mà sau này gọi là thế vận hội Olympic, tổ
chức 4 năm một lần Cuộc thi này đã thu hút nhiều người đến thi đấu và cả những người
đến xtôi Đế quốc La Mã ra đời và phát triển cực thịnh từ thế kỷ I trước công nguyên đến
thế kỷ I sau công nguyên đã đánh dấu sự phát triển của các hoạt động du lịch ở Địa Trung
Hải Sự phát triển của đường giao thông, việc xây dựng các công trình kiến trúc đồ sộ và
hoành tráng như các đền thờ, dinh thự, quảng trường ở các thành thị cổ đại La Mã đã thôi
thúc con người từ nhiều nơi đến tham quan Người La Mã đã lập ra một hệ thống trạm
dừng chân cho khách với các dịch vụ nghỉ trọ, ăn uống, bán cỏ khô cho ngựa hay thay
ngựa cho khách Trong các trạm này có cả những phòng đặc biệt dành cho quý tộc, chủ
nô, quan chức và phòng bình thường dành cho khách lữ hành Cũng từ bán đảo La Mã,
nhiều người đã đi du lịch tới các vùng Địa Trung Hải như thăm Kim Tự Tháp ở Ai Cập,
vườn treo Babylon ở Lưỡng Hà, các đền đài ở Hy Lạp Sự suy tàn của các quốc gia cổ
đại trong đó có đế quốc La Mã từ thế kỷ IV và từ khi đế quốc Tây La Mã diệt vong (năm
476) kéo theo sự suy tàn của hoạt động du lịch, người ta gọi đó là "thời kỳ đen tối" với
các cuộc xung đột, thôn tính lẫn nhau giữa các quốc gia phong kiến châu Âu đang trong
quá trình hình thành và phát triển thịnh đạt Ngoài ra cuộc hành quân chinh phạt, xâm
lăng mà đáng kể là các cuộc Thập tự chinh (có 8 cuộc Thập tự chinh lớn từ phương Tây
sang phương Đông) Những chuyến đi du lịch ít ỏi và cũng khá mạo hiểm Ngoài sự mất
an toàn, người ta còn gặp trở ngại bởi sự xuống cấp của đường xá và của các dịch vụ du
lịch Sự ra đời của các lãnh địa phong kiến rộng lớn thời Trung Cổ đã làm suy sụp các
hoạt động du lịch thịnh hành thời cổ đại Tuy vậy cũng có những nhà du lịch mạo hiểm
với khát khao tìm hiểu thế giới rộng lớn Vào năm 1271, Marco Polo (ý) đã từ Venice đi
Trung Quốc và nhiều nơi ở phương Đông Ông cũng đã từng đặt chân lên thương cảng
Đại Chiêm (nay là Hội An, Việt Nam) Marco Polo trở về châu Âu năm 1292 và viết
cuốn "Marco Polo du ký" Cuốn sách đã gợi lên lòng ham hiểu biết của nhiều thế hệ
người châu Âu sau này
Cuối thế kỉ XV đầu thế kỷ XVI, những hiểu biết về địa lý, thiên văn, hải dương và
kỹ thuật đi biển đã giúp con người có những phát kiến địa lý lớn Từ 1492 đến 1504,
Christopher Columbus đã tiến hành 4 cuộc hành trình thám hiểm sang một châu lục mới
mà sau này được gọi là châu Mỹ Phát kiến lớn tiếp theo là chuyến đi vòng quanh châu
Phi, vượt qua ấn Độ Dương đến ấn Độ (1497-1499) của Vasco de Gama người Bồ Đào
Nha Chuyến đi vòng quanh thế giới trên biển của đoàn thám hiểm do Fernand Majellan
dẫn đầu (1519 - 1522) cũng là phát kiến rất quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt Các chuyến
đi này tuy không phải vì mục đích du lịch nhưng trên ý nghĩa nhất định, đã mở hướng
cho hoạt động lữ hành quốc tế trên phương tiện vận tải thuỷ Mặt khác những chuyến đi
này có thể coi là những chuyến du lịch thám hiểm, nghiên cứu của con người với thế giới
rộng lớn
Trang 13Từ thế kỷ XVI trở đi, những chuyến lữ hành của con người đến các châu lục trở nên
phổ biến hơn Các thương gia, nhà ngoại giao, nhà khoa học, nhà truyền giáo từ châu
Âu đến châu Á, châu Phi, châu Mỹ đã được coi là những chuyến lữ hành vĩ đại, góp phần
giao lưu giữa các nền văn hoá thế giới
1.1.4 Vai trò của du lịch:
a.Vai trò của du lịch trong nền kinh tế
Du lịch phát triển hỗ trợ các ngành giao thông vật tại, bưu chính viễn thông, bảo
hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ ăn uống và nghỉ ngơi Ngoài ra ngành du lịch phát triển
mang lại thị trường tiêu thụ văn hoá to lớn, thúc đẩy phát triển nhanh tổng sản phẩm kinh
tế quốc dân
b.Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội
Ngành du lịch tạo ra cơ hội việc làm lớn cho người lao động, đặc biệt là lao động
nữ Ở các vùng cao, ngành du lịch tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân miền núi ,
tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống
Góp phần làm giảm quá trình đô thị hoá, hài hòa sự phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng
từ đô thị về nông thôn, nhờ đó làm giảm những tiêu cực do đô thị hoá gây nên
Đồng thời du dịch cũng là công cụ quảng bá văn hoá, phong tục tập quán hiệu quả
của con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế để biết nhiều hơn về du lịch Việt Nam
1.1.5 Phân loại các loại hình du lịch
Các loại hình du lịch ở Việt Nam này nay ngày càng phát triển rộng tăng mức độ
cạnh tranh trên thị trường Các loại hình du lịch được định nghĩa là các hình thức du lịch,
các cách khai thác thị hiếu, sở thích và nhu cầu của KDL để đáp ứng tốt nhất mong muốn
của KDL
Vì mong muốn khách du lịch ngày càng tăng và thay đổi theo thời gian, do đó việc
phân loại giúp thỏa mãn chính xác những gì mà KDL mong đợi
Các loại hình du lịch được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Tuy nhiên tại
Việt Nam, cách phân loại phổ biến nhất là: Phân loại theo lãnh thổ, phân loại theo mục
đích di chuyển, phân loại theo hình thức du lịch
a Phân loại theo lãnh thổ
Theo tiêu chí này, du lịch được chia làm 2 loại: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa
– Du lịch quốc tế: Du lịch quốc tế đề cập đến việc mọi người đến thăm quan, nghỉ
dưỡng tại một đất nước xa lạ bên ngoài quốc gia mà họ sinh sống Để đi du lịch nước
ngoài, người ta cần có hộ chiếu hợp lệ, thị thực, giấy tờ sức khỏe, ngoại hối… Du lịch
quốc tế chia thành hai loại hình:
Du lịch Inbound: đề cập đến khách du lịch bên ngoài đến một quốc gia cụ thể Khi
mọi người đi du lịch bên ngoài quốc gia sở tại của họ đến một quốc gia khác, thì đó được
gọi là du lịch Inbound cho quốc gia mà họ đang đến du lịch Chẳng hạn, khi một khách
du lịch từ Ấn Độ đến Nhật Bản thì đó là du lịch trong nước cho Nhật Bản vì khách du
lịch nước ngoài đến Nhật Bản
Trang 14 Du lịch Outbound: đề cập đến khách du lịch đi từ quốc gia sở tại của họ đến quốc
gia khác Khi khách du lịch đi du lịch một quốc gia khác, đó là du lịch Outbound cho đất
nước của họ vì họ đang đi ra ngoài đất nước của họ Ví dụ, khi một khách du lịch từ Ấn
Độ đến Nhật Bản thì đó là du lịch outbound đối với Ấn Độ và du lịch Inbound đối với
Nhật Bản
– Du lịch nội địa: Hoạt động du lịch của người dân trong đất nước, lãnh thổ của
chính họ được gọi là du lịch nội địa Du lịch nội địa thực hiện dễ dàng hơn so với Du lịch
quốc tế vì nó không yêu cầu giấy tờ thông hành chính thức và các thủ tục nghiêm ngặt
như kiểm tra sức khỏe bắt buộc và ngoại hối, passport Hơn nữa, trong du lịch nội địa,
du khách thường không gặp nhiều vấn đề về ngôn ngữ hoặc vấn đề trao đổi tiền tệ
b Phân loại theo mục đích chuyến đi
– Du lịch nghỉ dưỡng: Do thu nhập của người dân ngày càng cao hơn, mức sống
cũng phát triển nên loại hình du lịch này được đầu tư và phát triển để đáp ứng cho hầu
hết nhu cầu của khách du lịch hiện nay Ưu điểm của loại hình du lịch này chính là giúp
bạn tận hưởng cảm giác thoải mái, giảm bớt căng thẳng bằng các bài tập yoga, các buổi
tắm nước nóng, được tích hợp sẵn ở nơi nghỉ dưỡng
– Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái dựa vào điều kiện tự nhiên và văn hóa của Việt
Nam, được diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên và còn bảo tồn khá tốt để
hưởng thụ và bảo vệ những giá trị mà thiên nhiên mang lại Đây là loại hình ngày càng
được nhiều du khách lựa chọn Những địa điểm du lịch sinh thái phần lớn nằm ở vùng
đồng bằng Sông Cửu Long
– Du lịch văn hóa, lịch sử: Ngoài mục đích du lịch để tham quan, thưởng ngoạn
cảnh đẹp thì việc tìm hiểu, đặc điểm văn hóa, con người ở nơi đến cũng thường được
lồng ghép vào lịch trình của tour Du lịch văn hóa còn phản ánh được cái nhìn tốt về lịch
sử, văn hóa dân tộc Ở Việt Nam, các khu du lịch văn hóa, lịch sử nổi tiếng thường là:
Cung đình Huế, Lăng Bác, địa đạo Củ Chi,
– Du lịch tham quan, khám phá: Việt Nam là đất nước có địa hình cực kỳ phong
phú, từ những dãy núi Phan-xi-păng hùng dũng đến đường biển dài bao quanh dải đất
hình chữ “S”, khắp nơi đều có những cảnh đẹp tuyệt vời để du khách đến tham quan và
chiêm ngưỡng
– Du lịch teambuilding: Đây là loại hình du lịch mới và đang thu hút rất nhiều du
khách, đặc biệt là với các bạn trẻ Các công ty có xu hướng xây dựng đội ngũ nhân viên
kết hợp du lịch tham quan, nghỉ dưỡng với các chương trình teambuilding hấp dẫn
Mục đích của chuyến du lịch này là giúp mọi người trong tập thể thêm hiểu nhau
hơn thông qua các trò chơi vận động tập thể và xây dựng đội ngũ công ty ngày càng gắn
kết
– Du lịch thể thao: Trong xã hội hiện đại, thể thao là một yếu tố không thể thiếu để
giữ gìn sức khỏe và phục vụ những lợi ích khác Vì vậy, du lịch thể thao cũng rất được ưa
chuộng Có 2 loại du lịch thể thao:
Trang 15 Du lịch thể thao chủ động: khách du lịch tham gia vào chuyến đi để tham gia các hoạt động thể thao: du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch câu cá,
Du lịch thể thao thụ động: những chuyến du lịch để xtôi các cuộc thi đấu thể thao:
World Cup, Olympic,
c Phân loại theo hình thức
– Du lịch ghép đoàn: Đây là hình thức du lịch phổ biến ở Việt Nam cũng như trên
thế giới, khách du lịch chỉ cần đăng ký chuyến đi thông qua công ty lữ hành, và gói đồ
đạc chuẩn bị tham gia chuyến du lịch đã được lo trọn gói từ khách sạn, nơi ăn uống và
lịch trình tham quan, vui chơi,
Tour ghép đoàn được xây dựng theo một hành trình cố định và được khởi hành
hàng tuần hoặc hàng ngày tùy theo nhu cầu nhiều hay ít của khách du lịch Giá của mỗi
tour được bán ra ngang với nhau, bất kể bạn tham gia bao nhiêu người
– Du lịch cá nhân: Giống với tour du lịch ghép đoàn, du khách sẽ được công ty lữ
hành đặt khách sạn, nhà hàng, vé máy bay, địa điểm du lịch, thuê xe đưa đón, vé tham
quan, giải trí, nhưng khác biệt là họ sẽ được tự do tham quan, vui chơi ở các địa điểm
đó mà không bị giới hạn và bó buộc về không gian và thời gian
– Du lịch tự túc: Du lịch tự túc là chuyến du lịch gồm 1 người hay nhiều bạn bè họp
lại để đi 1 chuyến du lịch, tự sắp xếp phòng ở, nơi ăn uống, nơi vui chơi, mà không cần
thông qua công ty du lịch nào cả Họ sẽ có cơ hội tự do tham quan, trải nghiệm những nơi
mà trong tour du lịch không có và tự do thoải mái ăn uống bất cứ nơi nào họ thích
– Du lịch bụi: Du lịch bụi theo hình thức thì cũng giống như một chuyến đi du lịch
tự túc Nhưng điều khác biệt là họ có xu hướng ở lại ký túc xá, nhà dân, đi bằng xe
máy, để tiết kiệm được tiền Loại hình này thường được áp dụng cho những cá nhân
hoặc nhóm nhỏ và phù hợp với những người thích khám phá thiên nhiên, trải nghiệm
cuộc sống thường ngày của dân địa phương mà không bị bó buộc giờ giấc hoặc không
gian trong một chuyến đi tour
– Du lịch phượt: Phượt là để khám phá, để được chạm đến những cảnh đẹp mà du
lịch không thể chạm đến được, dù đó là vách núi cheo leo hay biển sâu hiểm trở Những
người đi phượt phải có ý chí quyết tâm cao và sức khỏe cực kỳ tốt để có thể hoàn thành
được chuyến đi Những khó khăn như dầm mưa, dãi nắng, chạy xe thâu đêm, đi bộ đường
dài, là những trải nghiệm thường xuyên của dân phượt
– Du lịch xa xỉ: Du lịch xa xỉ bao gồm không gian phòng ở xa xỉ cùng những tiện
ích đi cùng và những dịch vụ xa xỉ có trong một chuyến du lịch Ngày nay dịch vụ du lịch
xa xỉ không còn chỉ gói gọn trong những khách sạn 5 sao mà còn bao gồm trải nghiệm
thú vị của KDL từ những chuyến du ngoạn đó Khác với khách du lịch đại trà thích đi
theo đoàn thì khách du lịch xa xỉ thường đi riêng với nhau theo nhóm nhỏ và đòi hỏi rất
cao sự riêng tư, những trải nghiệm độc, lạ, tốt nhất của điểm đến
d Một số loại hình du lịch khác
– Phân loại theo phương tiện vận chuyển
• Du lịch xe đạp: một cách tuyệt vời để kết hợp du lịch và rèn luyện sức khỏe
Trang 16• Du lịch ô tô: phương tiện du lịch chủ yếu của du khách Ngày nay, các xe ô tô còn nâng cấp có thêm giường nằm và các dịch vụ giải trí trên xe
• Du lịch máy bay: là loại phương tiện đưa bạn đến điểm đến nhanh nhất mà không
phương tiện nào sánh kịp, vì vậy đây là loại phương tiện mắc tiền nhất
• Du lịch tàu hỏa: đây là loại phương tiện du lịch an toàn tốc độ di chuyển nhanh và
đầy đủ tiện nghi, ưu điểm lớn nhất là bạn có thể sử dụng các thiết bị điện tử khi đi
• Du lịch tàu thủy: một loại hình du lịch còn khá mới mẻ ở Việt Nam Tàu thủy vừa
là phương tiện di chuyển vừa là khách sạn, cung cấp mọi dịch vụ tiện nghi cho du khách
khi ở trên mặt nước
– Phân loại theo nơi cư trú
• Khách sạn: là cơ sở kinh doanh nơi lưu trú, bao gồm tất cả các dịch vụ du lịch kèm
theo, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, giải trí, Các khách sạn được đánh
giá theo tiêu chí từ 1 đến 5 sao, ngoài ra còn có thể đánh giá theo quy mô của khách sạn
• Nhà trọ, hostel: tương tự với khách sạn nhưng quy mô nhỏ hơn và ít có dịch vụ
kèm theo, thường được những du khách tự túc lựa chọn để tiết kiệm chi phí
• Camping: hình thức cắm trại ngoài trời
• Bungalow: các căn nhà tầng thấp được thiết kế đơn chiếc hoặc thành dãy với đầy
đủ tiện nghi để bạn nghỉ dưỡng
• Làng du lịch: bao gồm các khu biệt thự, nghỉ dưỡng hoặc các bungalow trong
không gian yên tĩnh, cảnh quan đẹp, với khu phức hợp quán bar, khu vui chơi, bãi biển
– Phân loại theo thời gian du lịch
Du lịch ngắn ngày (hay còn gọi là du lịch cuối tuần)
Du lịch dài ngày
– Phân loại theo lứa tuổi
Du lịch thanh niên: loại hình du lịch hướng đến những địa điểm đẹp đẽ, theo trend
để các bạn trẻ check-in, sống ảo hoặc có thể tự túc, phượt cùng bạn bè
Du lịch trung niên: đây là độ tuổi có thu nhập ổn định, thường có xu hướng lựa
chọn các tour nước ngoài
Du lịch người cao tuổi: thường sẽ tham gia các tour du lịch nghỉ dưỡng nhiều và
tham quan di tích văn hóa, lịch sử
1.1.6 Các điều kiện phát triển ngành du lịch
Như đã trình bày ở trên, ngành du lịch chỉ ra đời khi có đủ những tiền đề làm nảy
sinh các hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch Do đó, ngành du lịch sẽ phát triển
nhanh khi các tiền đề ra đời của ngành được củng cố và tăng cường Song xtôi xét trên
phạm vi một quốc gia cụ thể cần hội tụ thêm các điều kiện cơ bản sau: Thứ nhất, để phát
triển du lịch, các vùng, các quốc gia phải có tài nguyên du lịch Du lịch là một trong
những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến
tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch
Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối
lượng nguồn tài nguyên du lịch Nguồn tài nguyên du lịch còn quyết định đến tính chất
Trang 17mùa trong kinh doanh du lịch, nhịp điệu dòng khách du lịch Do vậy, tài nguyên du lịch
có thể đánh giá là một trong những yếu tố rất quan trọng để tạo vùng du lịch và quyết
định đến khả năng phát triển du lịch của một quốc gia Với vai trò như vậy, phát triển du
lịch không thể tách rời nguồn tài nguyên du lịch là một nguyên tắc trong quy hoạch phát
triển du lịch của mỗi vùng, mỗi quốc gia Mặt khác, cũng cần nhận thức rằng nguồn tài
nguyên được sử dụng trong quá trình kinh doanh phải được phát hiện, khai thác đồng thời
với ý thức bảo vệ, tôn tạo, làm giàu hơn các nguồn tài nguyên đó
Thứ hai, điều kiện khác cũng ảnh hưởng quan trọng đến phát triển ngành du lịch là
các điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc
biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch bao gồm hệ
thống đường xá và các phương tiện giao thông cùng các công trình cung cấp điện, nước,
thông tin liên lạc trong đó mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông đóng vai trò
quan trọng hàng đầu Điều kiện cơ sở hạ tầng phục thuộc vào sự phát triển của tiến bộ
khoa học kỹ thuật và sự phát triển của nền kinh tế, điều đó lý giả tại sao ở các nước có
nền kinh tế phát triển thì ngành du lịch có sự phát triển mạnh hơn Thứ ba, nhu cầu và
cầu về du lịch phát triển Trong phát triển kinh doanh du lịch sẽ không thể bỏ qua vai trò
của yếu tố “nhu cầu”, nhu cầu tăng lên là một động lực chủ yếu cho các chiến lược đầu tư
phát triển du lịch Nhu cầu và cầu du lịch của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu và các yếu
tố như: thu nhập, trình độ nhận thức, thời gian rỗi… Trong bối cảnh du lịch đang trở
thành một xu thế có tính đại chúng và cả thế giới đang xích lại gần như, xóa bỏ dần
những ranh giới khác biệt về chính trị thì nhu cầu và cầu về du lịch sẽ tăng lên không
ngừng
Thứ tư, các điều kiện về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cho khách du lịch
Du lịch chỉ xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình, trật tự an toàn xã hội được
đảm bảo
Ngược lại, tại các quốc gia có chiến tranh hoặc có nhiều hạn chế về trật tư, an toàn
xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hút du khách Vậy có thể nói, điều kiện về an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng hoặc
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế
1.1.7 Đặc điểm của du lịch
Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên du lịch có loại
do thiên nhiên tạo ra nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của
con người tạo ra Đây là cơ sở khách quan để hình thành nên các tuyến, các điểm du lịch
Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách
du lịch Những người đi du lịch thường có mức tiêu dùng cao hơn so với tiêu dùng bình
quân của đại bộ phận dân cư Vì vậy, ngành du lịch phải là một ngành kinh doanh tổng
hợp phục vụ cho các nhu cầu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng
và các dịch vụ khác để có thể đáp ứng các nhu cầu của KDL
Du lịch ngoài kinh doanh dịch vụ ra còn phải đảm bảo nhu cầu về an ninh, chính trị
và trật tự xã hội cho du khách, cho địa phương và cho các quốc gia tiếp nhận du khách
Trang 18Ngành du lịch là ngành dịch vụ nên việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố chủ quan và khách quan và chủ quan Vì vậy, việc đảm bảo doanh thu và phát
triển ổn định của ngành du lịch là rất khó so với các ngành sản xuất khác
Ngành du lịch mang tính thời vụ Do đó, ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng lao
động Đây là bài toán khó cho các nhà quản lý
Du lịch có thể làm ảnh hưởng tới môi trường và ảnh hưởng tới tài nguyên của đất
nước do khai thác không hợp lý, làm phát sinh các xáo trộn hoặc xói mòn các giá trị văn
hóa truyền thống
Với các đặc điểm trên thì du lịch là ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất
pha trộn vào nhau tạo thành một tổng thể phức tạp vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế
vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế xã hội
1.1.8 Quan niệm về sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch: bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hoá và tiện nghi cung
ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ
thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) và những
yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấo cho du khách hay nó bao gồm các hàng hoá, các
dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch
Bất kì sản phẩm du lịch nào cũng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Sản
phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ, có thể là sản phẩm tổng hợp, do một đơn vị cung
ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng
- Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một
nhu cầu cụ thể của khách
Ví dụ một khách sạn có dịch vụ cho khách du lịch thuê xe tự lái Các nhà cung ứng
có thể là khách sạn, có thể là nhà hàng, có thể là hãng vận chuyển…
- Sản phẩm tổng hợp: Là sản phẩm phải thoả mãn đồng thời một nhóm nhu cầu
mong muốn của khách du lịch
Chẳng hạn chương trình (tour) du lịch trọn gói bao gồm nhiều dịch vụ đơn lẻ như
dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí…
* Đặc điểm:
Sản phẩm du lịch có đầy đủ 4 đặc điểm của dịch vụ, đó là:
- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực ra nó
là một kinh nghiệp du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành sản
phẩm du lịch có hàng hoá
- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà KDL
không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản
phẩm
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy
ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng
Trang 19- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như
dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…
- Trước khi xtôi xét vấn đề phát triển sản phẩm tại điểm đến du lịch, cần
nghiên cứu những quan điểm khác nhau về sản phẩm du lịch
Theo từ điển tiếng Việt, “sản phẩm do lao động của con người tạo ra” Theo lý
thuyết marketing, “Sản phẩm (produCT) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo
sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn
Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, địa điểm, tổ chức và ý tưởng” Theo Luật Du lịch,
“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
trong chuyến đi du lịch”
Còn có nhiều quan điểm về sản phẩm du lịch, nhưng có thể xtôi xét 3 quan điểm cơ
bản sau:
a Quan điểm thứ nhất: Người ta xem xét mối quan hệ giữa các cơ sở cung ứng sản
phẩm cho khách du lịch trong quá trình đi du lịch
Theo Tổ chức Du lịch thế giới(UNWTO), liên quan đến hoạt động du lịch có 70
dịch vụ trực tiếp và trên 70 dịch vụ gián tiếp Thông thường, khi đi du lịch, khách sẽ sử
dụng những sản phẩm dịch vụ cơ bản do các cơ sở kinh doanh cung ứng
Có thể thấy rằng: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại
dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của
khách du lịch trong quá trình đi du lịch”
b Quan điểm thứ hai:Tài nguyên và sản phẩm du lịch
Nói đến sản phẩm du lịch nhiều người thường nhắc đến tài nguyên du lịch (trong đó
bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) Tài nguyên du lịch
là một khái niệm rất phong phú về nội dung và rộng về đối tượng (từ hồ nước, bãi cỏ,
dòng suối đến ngôi chùa, đình làng, hoặc một trung tâm hội nghị, một sân vận động, một
làng nghề…), nhưng trong thực tế không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác
để phục vụ khách du lịch Để khai thác những tài nguyên trên, được đòi hỏi phải có
những điều kiện sau:
Trước hết, tài nguyên đó phải có tính hấp dẫn và sức thu hút khách du lịch Các nhà
nghiên cứu về du lịch cho rằng tất cả các hiện tượng, sự vật, sự kiện của tự nhiên và xã
hội có sức hấp dẫn và sức thu hút đối với khách du lịch được công ty du lịch giới thiệu
cho khách nhằm đtôi lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, đó chính là tài nguyên du lịch Để
tạo ra tính hấp dẫn và sức thu hút khách, ngoài các yếu tố tự nhiên, điều quan trọng phải
đầu tư trí tuệ và sức sáng tạo của con người Rất nhiều người thường so sánh tài nguyên
du lịch và sự phát triển du lịch của nước ta với các nước trong khu vực nhưng sự so sánh
này chưa hợp lý, nhiều nơi không có nhiều tài nguyên du lịch, nhưng với trí tuệ và sức
sáng tạo của con người làm du lịch nơi đó trở thành một điểm đến du lịch của thế giới
Thứ hai, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch, đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng
và các cơ chế chính sách đồng bộ cho khách du lịch vào - ra cũng như đi du lịch thuận
tiện Đó là sân bay, bến cảng, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, hệ thống cung
Trang 20cấp điện, nước, thông tin liên lạc Nếu so sánh các vấn đề này của nước ta với các nước
trong khu vực, có thể thấy còn xa Việt Nam mới đuổi kịp các nước (Malaysia, Singapore
và Thái Lan) về thu hút lượng khách Du lịch quốc tế, vì các sân bay quốc tế của họ có
công xuất từ 40 - 60 triệu lượt hành khách/năm, trong khi đó các sận bay quốc tế của Việt
Nam có công xuất chỉ trên 10 triệu lượt hành khách/năm Đó là chưa kể các nước này có
hệ thống đường bộ, đường sắt và cảng biển cho tầu du lịch vào - ra thông thoáng Về vấn
đề này có thể lấy kinh nghiệm phát triển du lịch của Bali (Indonesia) làm ví dụ
Thứ ba, Nhà nước phải có những cơ chế, chính sách thông thoáng cho các hoạt
động du lịch phát triển Đối với các nước phát triển du lịch chủ động (inbound), nhà nước
đã miễn thị thực cho công dân các nước có nhu cầu đi du lịch nước ngoài đến du lịch, tạo
các điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho họ vào du lịch Có thể thấy các nước trong khu
vực như: Thái Lan, Singapore, Malaysia… đã miễn thị thực cho công dân trên 50 nước
vào du lịch Mặt khác, nhà nước đã tổ chức quy hoạch cho phép các loại dịch vụ nhạy
cảm phát triển để phục vụ khách như casino
Thứ tư, cần có sự hỗ trợ và tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về mặt Luật pháp
của các Bộ, tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển Theo nghiên cứu các văn bản
pháp luật, hoạt động du lịch phải tuân thủ 66 luật và rất nhiều các văn bản pháp quy hiện
hành của nhà nước do các Bộ, ngành quản lý và kiểm tra, kiểm soát Ví dụ: khách du lịch
muốn vào - ra phải chấp hành pháp lệnh Xuất nhập cảnh, Luật Hải quan, Luật Hàng
không… Trên đường đi tham quan phải chấp hành Luật Giao thông đường bộ, Luật
Đường sắt, Luật Đường thủy… Đến điểm tham quan phải chấp hành các Luật về Di sản
Văn hóa, Luật Bảo vệ môi trường Vì thế các Bộ, ngành quản lý các Luật liên quan đến
hoạt động du lịch không tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong các điều luật thì hoạt
động du lịch khó mà phát triển
Thứ năm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch người ta thường nghĩ đến khách
sạn, nhà hàng, quán bar, cơ sở tham quan, nơi mua sắm, nơi giải trí tất cả những cơ sở
này phải đồng bộ với mục tiêu thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của khách, đồng thời
kéo dài thời gian lưu lại của họ Đó là nguyên lý chung nhưng để đảm bảo cho sự phát
triển du lịch toàn diện và có hiệu quả cao người ta thường phân định ra 2 loại: điểm đến
du lịch và điểm tham quan du lịch
Đối với điểm đến du lịch, cần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ Tại điểm
tham quan du lịch không cần xây dựng các khách sạn, cơ sở lưu trú cho khách mà chủ
yếu tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất đón tiếp và phục vụ khách tham quan, các
cơ sở ăn uống, bán hàng, đặc biệt là hàng lưu niệm, giải trí nhằm tạo ra sự trải nghiệm
và cảm xúc mạnh đối với khách Vấn đề này liên quan mật thiết đến xây dựng các
chương trình du lịch (tour) của các công ty lũ hành
Vấn đề xây dựng điểm đến du lịch cũng như điểm tham quan du lịch phải nằm trong
quy hoạch và đồng bộ với quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng của cả nước cũng như của
Trang 21từng khu vực, từng tỉnh, thành phố Việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du
lịch phải có các cơ chế, chính sách và luật pháp của nhà nước điều chỉnh
Thứ sáu, Nhiều ý kiến tổng kết: “Xây dựng một khách sạn 5 sao đã khó, nhưng đào
tạo được con người đủ trình độ để vận hành khách sạn 5 sao còn khó hơn gấp bội, nếu
trình độ của con người chỉ đạt 2 sao thì sau 2 năm khách sạn sẽ xuống cấp chỉ còn 2
sao” Điều này nói lên rằng, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (phần
cứng) quan trọng, nhưng quan trọng hơn là nguồn nhân lực phục vụ du lịch (phần mềm)
Nói đến nguồn nhân lực phục vụ du lịch, mọi người thường nghĩ đến những cán bộ, công
nhân viên làm việc trong ngành Du lịch (lao động trực tiếp) mà chưa nghĩ đến đội ngũ lao
động gián tiếp phục vụ khách Đó là những người làm trong các cơ quan nhà nước từ
trung ương đến địa phương (Ngoại giao, Công an, Hải quan, Giao thông Vận tải…), các
nhân viên làm trong các công ty như: vận chuyển, thương mại, ngân hàng…, ngay cả
cộng đồng dân cư tại các điểm đến du lịch cũng như điểm tham quan du lịch Hình ảnh
du lịch của một địa phương, một đất nước đâu chỉ phụ thuộc vào những người trực tiếp
làm du lịch mà phụ thuộc rất lớn vào những người gián tiếp phục vụ du lịch
Tất cả những yếu tố trên tạo nên sản phẩm du lịch để tuyên truyền, quảng cáo và
xúc tiến, thu hút khách du lịch trên thị trường du lịch trong nước cũng như nước ngoài
c Quan điểm thứ ba: Theo quan điểm thị trường, bất kỳ sản phẩm du lịch được tạo
thành từ ba yếu tố:
- Thứ nhất, đó là sự trải nghiệm của khách du lịch sau khi thực hiện chuyến đi du
lịch Sự trải nghiệm của khách thông qua việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong
du lịch từ: đi lại, ăn, ở, tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm hàng hóa và đồ lưu niệm,
các hoạt động của cộng đồng, sự an toàn Sự trải nghiệm này phụ thuộc vào từng đối
tượng khách khác nhau do trình độ nhận thức khác nhau Từ những trải nghiệm này sẽ
đtôi lại cho khách những cảm xúc nhất định
- Thứ hai, cảm xúc của khách du lịch đối với con người, văn hóa và lịch sử tại điểm
đến du lịch và điểm tham quan du lịch Những cảm xúc tốt đẹp sẽ tạo ra ấn tượng không
thể quên đối với khách và ngược lại cũng vậy
- Thứ ba, đó là vật chất như: cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở lưu trú, ăn
uống…phục vụ khách du lịch
Theo cách hiểu trên, sản phẩm du lịch trước hết thỏa mãn nhu cầu về tinh thần cho
con người sau đó mới là nhu cầu về vật chất Vì thế, đòi hỏi những người hoạt động trong
lĩnh vực du lịch phải có trí tuệ cao và sức sáng tạo lớn để nắm bắt được nhu cầu du lịch
đa dạng của mọi người Mặt khác, cộng đồng dân cư địa phương nơi đón khách phải làm
sao tạo ra những ấn tượng sâu sắc trong tâm trí khách về sự hiếu khách, về bản sắc của
cộng đồng, về đặc tính văn hóa và phong tục tập quán của địa phương để họ nhớ mãi và
lưu truyền cho bạn bè cũng như người thân của họ
Khi sản phẩm đưa ra thị trường để bán thì nó trở thành hàng hóa và có thể nói đây
là hàng hóa đặc biệt Nó cũng có thuộc tính chung của hàng hóa, nghĩa là có giá trị và giá
trị sử dụng
Trang 22Giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch là nó thỏa mãn nhu cầu có tính chất đa dạng
của khách du lịch trong quá trình đi du lịch, trong đó có những nhu cầu về sinh lý như:
ăn, uống, ở, đi lại, có những nhu cầu về tinh thần: tham quan, tìm hiểu, mở rộng nhận
thức, tăng cường giao lưu, được tôn trọng Chính vì vậy, giá trị sử dụng của sản phẩm
du lịch có tính đa chức năng Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật
chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ nên giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch cũng trìu
tượng, vô hình và chỉ có thể thông qua khách du lịch để đánh giá, đo lường giá trị sử
dụng của sản phẩm du lịch
Về giá trị của sản phẩm du lịch - là sự kết tinh lao động phổ biến của con người, là
kết quả tiêu hao sức lực, trí tuệ của con người Giá trị của sản phẩm du lịch có thể chia
làm 3 nội dung: giá trị của sản phẩm vật chất, giá trị của dịch vụ và giá trị của sức thu hút
khách Giá trị của sản phẩm vật chất có thể dùng thời gian lao động tất yếu của xã hội để
đánh giá Giá trị của dịch vụ được quyết định bởi trang thiết bị, lực lượng lao động với
tay nghề, kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tố chất văn hóa , những yếu tố
này rất khác nhau nên khó xác định giá trị của nó Giá trị của sức thu hút khách là một
khái niệm trừu tượng, nhưng lại là một trong những nội dung quan trọng của sản phẩm du
lịch, vì thế nó cũng rất khó xác định
Thông qua việc phân tích sản phẩm du lịch trêncác mặt khác nhau có thể thấy việc
thống nhất nhận thức về sản phẩm du lịch là khó khăn, nhưng đối với những người làm
kinh doanh du lịch cần phải suy nghĩ để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng
sản phẩm của mình nhằm cạnh tranh được khách trên thị trường trong nước và quốc tế
Điều rất cơ bản để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch cần phải đào tạo
và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch một cách thường xuyên và liên tục
1.1.9 Tổng quan du lịch tại Việt Nam:
* Đặt vấn đề:
Đến nay, đại dịch Covid-19 đã tấn công 209 quốc gia và vùng lãnh thổ Mỹ và Anh
là hai nước có số ca mắc bệnh và tử vong mới cao nhất thế giới trong thời gian gần đây
Trước đó, Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh châu Âu (ECDC) đã cảnh
báo dịch bệnh Covid-19 đang lây nhiễm và cướp đi mạng sống của rất nhiều người Theo
báo cáo của ECDC, tỷ lệ tử vong cao hơn mức dự đoán đã diễn ra tại các nước Bỉ, Pháp,
Italy, Malta, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, và chủ yếu rơi vào những người già trên 65
tuổi Số ca tử vong do virus SARS-CoV-2 (Covid-19) tại châu Âu đã vượt ngưỡng
75.000 người
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) của châu Phi cho biết, châu
lục này đến nay đã ghi nhận tổng cộng 13.686 ca mắc Covid-19, trong đó có 744 trường
hợp tử vong Đến nay, Dịch Covid-19 đã lan rộng đến 52/55 quốc gia trên toàn lãnh thổ
châu Phi
Còn tại Châu Á, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp Trong
đó, Indonesia có số ca nhiễm SARS-CoV-2 nhiều nhất Đông Nam Á; các trường hợp tái
phát bệnh gia tăng ở Hàn Quốc và Singapore Có thể thấy, thế giới nói chung và Việt
Trang 23Nam nói riêng đang ở trong thời điểm căng thẳng nhất của dịch bệnh Covid-19, điều này
đã và đang gây tác động rất lớn đến sức khỏe con người cũng như toàn bộ ngành kinh tế,
đặc biệt là ngành Du lịch
*Ảnh hưởng của Covid-19 đến ngành Du lịch Việt Nam
Du lịch với đặc thù là một lĩnh vực kinh tế tổng hợp, dự báo sẽ chịu nhiều tổn
thương và có thể kéo dài cả sau khi dịch bệnh kết thúc
- Lượng khách quốc tế sụt giảm
Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 ước tính đạt 449,9 nghìn lượt
người - giảm 63,8% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm
62,3%; bằng đường bộ giảm 65,9%; bằng đường biển giảm 83,6% So với cùng kỳ năm
trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 3 giảm 68,1%, trong đó khách đến bằng
đường hàng không giảm 65,7%; bằng đường bộ giảm 77,9% và bằng đường biển giảm
55,2%; khách đến từ châu Á giảm 77,2%; từ châu Âu giảm 27,5%; từ châu Úc giảm
49,9%; từ châu Mỹ giảm 67,9% và từ châu Phi giảm 37,8%
Tính chung quý I/2020, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 3.686,8 nghìn
lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng
không đạt 2.991,6 nghìn lượt người - chiếm 81,1% lượng khách quốc tế đến Việt Nam,
giảm 14,9%; bằng đường bộ đạt 551,1 nghìn lượt người - chiếm 15% và giảm 39,4%;
bằng đường biển đạt 144,1 nghìn lượt người - chiếm 3,9% và tăng 92,1%
Trong 3 tháng đầu năm, khách đến từ châu Á đạt 2.674,4 nghìn lượt người - chiếm
72,5% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 21,1% so với cùng kỳ năm trước
Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt
871,8 nghìn lượt người - giảm 31,9% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc: 819,1 nghìn
lượt người - giảm 26,1%; Nhật Bản: 200,3 nghìn lượt người - giảm 14,1%; Đài Loan:
192,2 nghìn lượt người - giảm 7,2%; Malaysia: 116,2 nghìn lượt người - giảm 19,1%
Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số khách đến Việt Nam vẫn tăng trong
quý I như Thái Lan: 125,7 nghìn lượt người - tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước;
Cam-pu-chia đạt 120,4 nghìn lượt người - tăng 254,3%; Lào đạt 36,8 nghìn lượt người - tăng
38,5%
Khách đến từ châu Âu trong quý I ước tính đạt 664,3 nghìn lượt người - giảm 3,1%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Vương quốc Anh đạt 81,4 nghìn lượt
người - giảm 9,4%; Pháp 74,5 nghìn lượt người - giảm 14,7%; Đức 61,5 nghìn lượt người
- giảm 14,9%; riêng khách đến từ Liên bang Nga tăng 13,6% với 245 nghìn lượt người
Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 234 nghìn lượt người - giảm 20,2% so với cùng kỳ
năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ, đạt 172,7 nghìn lượt người - giảm 21,4%
Khách đến từ châu Úc đạt 102,2 nghìn lượt người - giảm 14,4%, trong đó khách đến từ
Australia đạt 92,2 nghìn lượt người - giảm 15% Khách đến từ châu Phi đạt 11,9 nghìn
lượt người - tăng 2% so với cùng kỳ năm 2019
- Các sơ sở lưu trú phải đóng cửa, nhân viên ngành du lịch thất nghiệp
Trang 24Do diễn biến phức tạp, ảnh hưởng của dịch Covid 19 không chỉ tác động trực tiếp
lên số lượng khách đi du lịch mà còn tác động đến các cơ sở lưu trú Công suất hoạt động
các cơ sở lưu trú giai đoạn này chỉ đạt 20 - 30% so với cùng kỳ năm ngoái Số lượng
khách hủy phòng tại các cơ sở lưu trú tại Hà Nội là hơn 80.613 lượt, số ngày bị hủy
phòng khoảng 57.652 ngày
Các khách sạn trên khắp các tỉnh, thành cả nước lần lượt tuyên bố đóng cửa ít nhất
đến hết 30/4, như: hệ thống Silk Queen, Hệ thống OHG sở hữu các khách sạn 4* &
5* như Oriental Suites Hotel & Spa, O’Gallery Prtôiier Hotel & Spa, O’Gallery Majestic
Hotel & Spa hay Thiên Minh Group với chuỗi khách sạn & tàu ViCToria 5* cao cấp,…
Chính điều này khiến nhân lực ngành du lịch bị mất việc làm, các công ty, khách sạn, nhà
hàng lần lượt phải cắt giảm biên chế đến 60% Đối với các công ty đa quốc gia thậm chí
còn giảm 4/5 số lượng nhân viên Ít nhất cho đến hết tháng 6/2020, hơn 80% nhân sự
không có việc làm Nếu tình hình khó khăn hơn thì tình trạng thất nghiệp chắc chắc cũng
kéo dài hơn
- Doanh thu từ ngành du lịch sụt giảm
Du lịch là một lĩnh vực kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều nhóm ngành khác, như:
vận chuyển, lưu trú, dịch vụ ăn uống , vì vậy tác động của dịch Covid-19 khiến doanh
thu tất cả những nhóm ngành này cũng đồng thời sụt giảm
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I/2020 ước tính đạt 126,2 nghìn tỷ đồng,
chiếm 10,1% tổng mức và giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng
11,3%) Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhiều cơ sở kinh doanh nhà hàng, khách
sạn không hoạt động, dẫn đến sụt giảm doanh thu ở các địa phương, trong đó Khánh Hòa
giảm 38,2%; TP Hồ Chí Minh giảm 30,3%; Đà Nẵng giảm 23,7%; Thanh Hóa giảm
20,4%; Hà Nội giảm 20,2%; Cần Thơ giảm 17%; Lâm Đồng giảm 16,8%; Quảng Bình
giảm 14,5%; Quảng Ninh giảm 12,4%; Hải Phòng giảm 8,9%
Doanh thu du lịch lữ hành quý I ước tính đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng
mức và giảm 27,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,2%) Lý do là
bởi nhiều địa điểm tham quan du lịch phải ngừng hoạt động, một lượng lớn khách du lịch
trong nước và quốc tế đã hủy tour du lịch do lo ngại dịch bệnh Một số địa phương có
doanh thu du lịch lữ hành quý I giảm so với cùng kỳ năm trước như: Thanh Hóa giảm
49,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 48,3%; Quảng Ninh giảm 47,1%; Khánh Hòa giảm
43,9%; TP Hồ Chí Minh giảm 39,9%; Bình Định giảm 24,4%; Đà Nẵng giảm 19,5%; Hà
Nội giảm 18,7%; Hải Phòng giảm 14,9%
Vận tải hành khách tháng 3/2020 ước tính đạt 334,4 triệu lượt khách vận chuyển -
giảm 8,8% so với tháng trước, và luân chuyển 14,8 tỷ lượt khách.kilômét (Hk.Km) -
giảm 15,1% Tính chung quý I/2020, vận tải hành khách đạt 1.190,7 triệu lượt khách vận
chuyển - giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%), và luân
chuyển 55,9 tỷ lượt khách.km - giảm 8% (cùng kỳ năm trước tăng 10%) Trong đó, vận
tải trong nước đạt 1.187,7 triệu lượt khách - giảm 6,1% và 46,4 tỷ lượt khách.km - giảm
Trang 253,5%; vận tải ngoài nước đạt 3 triệu lượt khách - giảm 30,3% và 9,6 tỷ lượt khách.km -
giảm 24,9%
Xét theo ngành Vận tải, tất cả các ngành đường đều bị ảnh hưởng do nhu cầu đi lại
của người dân giảm mạnh, vận tải hành khách đường bộ quý I đạt 1.128,3 triệu lượt
khách - giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước, và 38,5 tỷ lượt khách.km - giảm 7,2%;
đường thủy nội địa đạt 47,7 triệu lượt khách - giảm 1,3%, và 1,1 tỷ lượt khách.km - giảm
0,4%; đường biển đạt 1,3 triệu lượt khách - giảm 23,2%, và 109,4 triệu lượt khách.km -
giảm 5,8%; đường sắt đạt 1,5 triệu lượt khách - giảm 27,8%, và 0,7 tỷ lượt khách.km -
giảm 23,8% Hàng không là ngành chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi dịch Covid-19 khi các
hãng phải tạm dừng khai thác các đường bay quốc tế, vận tải hàng không quý I năm nay
đạt 11,9 triệu lượt khách - giảm 8%, và 15,6 tỷ lượt khách.km - giảm 9,5% (riêng tháng
3/2020 vận chuyển giảm 28,8% và luân chuyển giảm 35,9%)
Sau hai năm gần như đóng băng hoàn toàn do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, du lịch
Việt Nam đã có những dấu hiệu khởi sắc khi Chính phủ cho phép mở cửa du lịch từ
15/3/2022 và nhiều đường bay quốc tế được khôi phục trở lại Trong tháng 3/2022, khách
quốc tế đến nước ta đạt 41,7 nghìn lượt người, tăng 41,4% so với tháng trước và gấp 2,2
lần cùng kỳ năm trước Tính chung quý I/2022, khách quốc tế đến nước ta ước đạt gần 91
nghìn lượt người, tăng 89,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường
hàng không đạt 82,3 nghìn lượt người, chiếm gần 90,5% lượng khách quốc tế đến Việt
Nam, tăng 165,2% Du lịch nội địa cũng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực với lượng khách
ước đạt 26,1 triệu lượt người Tổng thu từ du lịch 3 tháng đầu năm ước đạt 111,2 nghìn tỷ
đồng
Năm 2022, Du lịch Việt Nam chính thức mở cửa trở lại trong điều kiện bình thường
mới; các cơ sở lưu trú, lữ hành và các khu du lịch đã sẵn sàng đón khách đảm bảo an
toàn, hiệu quả, chất lượng Lượng khách du lịch đến một số tỉnh/thành phố trong quý I
năm nay[1] đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Thừa Thiên Huế đón 296,7 nghìn
lượt khách, trong đó khách nội địa đạt 292 nghìn lượt khách; tổng thu từ du lịch đạt 479
tỷ đồng Hà Giang đón 518,4 nghìn lượt khách (tăng 47%), trong đó có 1,1 nghìn lượt
khách quốc tế và 517,3 nghìn lượt khách nội địa; tổng thu từ du lịch đạt 1.036 tỷ đồng
Khánh Hòa đón khoảng 254 nghìn lượt khách lưu trú (tăng 12,3%), trong đó khách quốc
tế đạt 14 nghìn lượt người (tăng 50,1%) và khách nội địa đạt 240 nghìn lượt (tăng
10,7%); tổng thu từ du lịch ước đạt 1.330 tỷ đồng, tăng 55,3% Lâm Đồng đón 1,57 triệu
lượt khách (tăng 48,7%), trong đó có 8,2 nghìn lượt khách quốc tế (tăng 3,7%) và 1,56
triệu lượt khách nội địa (tăng 49%)
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú với nhiều
thế mạnh:
Di sản Việt Nam
Cả nước có hơn 40.000 di tích và thắng cảnh, trong đó hơn 3.000 di tích được xếp
hạng di tích quốc gia, 5.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Đồng bằng sông Hồng là khu
vực có mật độ và số lượng di tích chiếm nhiều nhất với tỷ lệ lên đến 70% Ngoài ra, tính
Trang 26trên địa bàn toàn quốc thì Việt Nam còn có 117 bảo tàng – nơi lưu giữ quá trình lịch sử
hào hùng của dân tộc
Việt Nam là một trong những số ít quốc gia trên thế giới được UNESCO công nhận
nhiều di sản đến vậy Tính đến nay, nước ta đã có 8 di sản được UNESCO công nhận: Di
tích Hoàng thành Thăng Long, phố cổ Hội An, quần thể danh thắng Tràng An, cố đô
Huế, thành nhà Hồ, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, vịnh Hạ
Long Đây là một trong những tiềm năng du lịch Việt Nam thu hút khách quốc tế
Danh lam thắng cảnh
Việt Nam đã được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới, bao gồm:
Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù Lao Chàm, Cần Giờ, Cà Mau
và biển Kiên Giang Có thể ví von nước ta có cả “rừng vàng – biển bạc” Không chỉ lớn
mạnh ở tiềm năng phát triển du lịch biển Việt Nam mà ở đồng bằng, miền núi và trung du
nước ta cũng sở hữu vô vàn các thắng cảnh “gây nhớ thương” cho khách du lịch
Tiềm năng phát triển du lịch biển Việt Nam được minh chứng rõ nhất vào hè – thời
điểm nhu cầu tắm mát tăng cao Trong khi đó, mùa thu – đông và xuân ở các miền núi
như Tây Bắc, Tây Nguyên lại hấp dẫn thực khách bởi những mùa hoa và không gian lãng
mạn thơ tình Một số địa điểm tham quan đẹp ở các tỉnh miền núi tại Việt Nam: Mộc
Châu mùa hoa cải hoa mận, Đà Lạt đồi cỏ hồng chớm đông, Tây Bắc mùa lúa chín, Gia
Lai mùa hoa muồng rực vàng…
Văn hóa và Ẩm thực
Văn hóa và Ẩm thực chính là hai trong các tiềm năng du lịch cần được gìn giữ và
phát triển Việt Nam có 54 dân tộc anh tôi, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có bản sắc
văn hóa, phong tục tập quán, lối sống riêng khác nhau tạo thành nét cuốn hút riêng
Không chỉ vậy, Việt Nam còn có di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng: Nhã nhạc cung
đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, quan họ, hát xoan, hội
Gióng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (10/03 Âm lịch)… để thu hút khách du lịch
Chính nhờ sự đa dạng trong văn hóa dân tộc nên Ẩm thực ở nước ta cũng phong
phú chẳng kém Việt Nam đã vinh dự lọt vào Top 15 quốc gia có nền ẩm thực đường phố
hấp dẫn nhất thế giới Một số món ăn Việt được bạn bè quốc tế yêu thích như: Phở, bánh
mì, bún bò Huế…
1.2 KHÁCH DU LỊCH
1.2.1 Khách du lịch nội địa:
* Khái niệm:
Khách du lịch nội địa là cư dân của chính đất nước đó hoặc người nước ngoài
đang sinh sống tại nước đó đi du lịch tại các địa điểm du lịch của nước sở tại
Còn có thể hiểu theo cách khác rằng, khách du lịch nội địa chính là những người
thường xuyên ra khỏi môi trường sống của mình đến những nơi khác liên tục ít hơn 12
tháng để tham quan, nghỉ ngơi, giải trí Như vậy, để trả lời được thắc mắc "thế nào là
khách du lịch nội địa" chỉ có một vài lưu ý nho nhỏ như trên
Trang 27* Đặc điểm khách du lịch nội địa
Do đã lâu năm lưu trú tại một đất nước, khách du lịch nội địa sẽ quen hơn với ngôn
ngữ, luật pháp, phong tục, địa hình, ở điểm đến của mình cũng như hiểu được bối cảnh
văn hóa Đặc điểm khách du lịch nội địa bao gồm: không cảm thấy lạ lẫm với ngôn ngữ,
khí hậu, địa lý, hướng dẫn viên, cũng như đòi hỏi hơn về chất lượng dịch vụ do đã quen
với đặc điểm khu vực
*Mong muốn của khách du lịch nội địa
Cũng giống như các KDL ở các lĩnh vực kinh doanh khách, khách du lịch nói chung
cũng đều có mong muốn riêng khi sử dụng dịch vụ du lịch Nhìn chung, mong muốn của
khách du lịch nội địa sẽ bao gồm một số điều sau đây:
- Mong muốn được khám phá
Đây là điều tiêu biểu nhất trong mong muốn của khách du lịch nội địa Do đã quen
với hầu hết các tính chất chung của đất nước mình đang lưu trú nên khách du lịch nội địa
mong muốn được khám phá, được nhìn thấy nhiều hơn nữa sự chi tiết, mới lạ, đa dạng ở
điểm đến Họ quan tâm được khám phá thêm những gì chưa biết, muốn được trải nghiệm
dịch vụ tốt hơn, kỹ hơn, mới mẻ hơn
- Gặp gỡ những người mới
Một trong những mong muốn của khách du lịch nội địa chính là muốn gặp gỡ thêm
những người mới Do không có khác biệt, rào cản về ngôn ngữ, văn hóa nên khách du
lịch nội địa thường sẽ không gặp khó khăn khi gặp gỡ, làm quen với người bản xứ Cũng
vì lý do này nên họ tự tin hơn và có xu hướng chủ động hơn, tự thân muốn đi gặp gỡ
những người mới hơn
* Đặc điểm điểm đến của khách du lịch nội địa
Do điểm đến và nơi cư trú của khách du lịch nội địa là ở trong cùng một quốc gia
nên khoảng cách đến điểm đến đối với khách du lịch nội địa sẽ gần hơn so với khách Du
lịch quốc tế
Cũng vì thế nên họ sẽ có thêm thời gian lưu trú ở điểm đến cũng như khả năng cao
sẽ lặp lại chuyến đi đến điểm đến đó Như vậy qua đó ta có thể hiểu thêm rằng, khi bàn
về vấn đề "thế nào là khách du lịch nội địa", đây cũng là một trong những đặc trưng của
họ mà các nhà cung cấp dịch vụ du lịch cần lưu ý
* Phương thức và lựa chọn phương thức di chuyển
Do đặc trưng quen với các kênh di chuyển và am hiểu đặc tính vùng miền của
khách du lịch nội địa, họ sẽ có những xu hướng chọn phương thức di chuyển khác với
các phân loại du khách khác
Thống kê cho thấy du khách nội địa có xu hướng sử dụng phương tiện đường bộ
hơn, vào khoảng 88%, so với 51% thuộc về du khách quốc tế Do đó dễ dàng điều hướng
việc cung cấp các dịch vụ di chuyển nhằm đáp ứng mong muốn của khách du lịch nội
địa
Trang 28* Yêu cầu về nơi nghỉ ngơi của khách du lịch nội địa
Khách du lịch nội địa thường sẽ không phải lo lắng về thời hạn hộ chiếu, visa, giấy
tờ của mình nên họ sẽ không phải quá lo lắng về thời gian lưu trú, do đó họ mong muốn
có một chỗ nghỉ ngơi thật tiện nghi, mà giá lại rẻ Họ có xu hướng tìm kiếm các điểm
nghỉ ngơi khác so với khách sạn, homestay, về sau sẽ tự chủ động liên lạc với chủ của
điểm nghỉ ngơi đó Đây là một trong những đặc trưng của khách du lịch nội địa
*.Khách du lịch nội địa tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhu cầu đi du lịch của khách nội địa khá lớn, chủ yếu tập trung đông
tại những điểm đến nổi tiếng như SaPa, Hà Nội, Hà Giang, Ninh Bình, Quảng Bình, Huế,
Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phú Yên, Đà Lạt, TP.HCM, Phú Quốc…
Có thể hiểu đây chính là những cảm xúc và suy nghĩ riêng của mỗi người; họ cũng
sẽ có lối sống, tính cách, thời gian biểu khác nhau, từ đó, hình thành nên sở thích và nhu
cầu cần được phục vụ riêng Mỗi đối tượng khách khác nhau sẽ có những đặc điểm tâm
lý khác nhau Việc hiểu rõ tâm lý của từng du khách (theo vùng miền, giới tính, độ tuổi,
nghề nghiệp, tôn giáo…) giúp khách sạn - cơ sở cung cấp dịch vụ dùng làm cơ sở thiết kế
không gian, bày trí nội thất, setup đồ dùng phù hợp; đồng thời, cân nhắc tư vấn để đưa ra
những gợi ý sản phẩm dịch vụ phù hợp nhằm chốt deal nhanh và hiệu quả hơn; ngoài ra,
cũng giúp đưa ra phương án quản bá thích hợp, cung cấp dịch vụ chất lượng, tạo thiện
cảm và tăng mức độ hài lòng lên mức tối đa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
Người châu Á nói chung đa phần đều sống trọng tình nghĩa, thích sự thoải mái
trong một không gian sạch sẽ, kín đáo Bên cạnh đó, họ cũng thiên về xu hướng đi du lịch
cùng người thân, hội nhóm, muốn tiết kiệm chi phí nhưng hưởng nhiều lợi ích
Ngoài ra, xét riêng thị trường khách Việt, mỗi đối tượng khách theo vùng miền,
giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tôn giáo… sẽ có những đặc điểm tâm lý, cảm xúc, sở
thích và nhu cầu được phục vụ riêng Cụ thể:
* Tâm lý khách du lịch Việt theo vùng miền
Khách miền Bắc:
- Chú ý nhiều đến hình thức, không gian khách sạn; mọi thứ cần phải chỉnh chu, lề
lối, vì thế mà khi chọn dịch vụ họ cũng cân nhắc tính duy mĩ cao;
- Ăn nói nhẹ nhàng, ăn mặc kín đáo, chỉnh tề, suy nghĩ sâu xa, thường thể hiện mình
qua lời nói; tuy nhiên, khi gặp vấn đề gì không hài lòng, họ thường không nói thẳng mà
tỏ thái độ khó chịu cùng lời lẽ nghe thì lịch sự nhưng rất khó chịu;
- Thường đi du lịch vào dịp hè và các dịp lễ lớn, đợt nghỉ dài ngày như Tết Dương,
Tết Âm, lễ 30/4, 1/5, 2/9…;
- Dùng chuyến du lịch để gắn kết tình cảm, họ có thiên hướng đi với người thân
nhiều hơn các vùng, miền khác với 60% đi cùng gia đình - 30% đi cùng bạn bè;
- Có thói quen tự tổ chức tour riêng thay vì đi thông qua công ty du lịch;
- Thích chọn loại hình du lịch nghỉ dưỡng hơn thay vì tham quan;
>>> Chú ý khi phục vụ:
Trang 29- Quan trọng hình thức, gồm không gian, nội thất, vật dụng và cả chất lượng phục
vụ - thường đòi hỏi sự kỹ lưỡng và chi tiết, trọn vẹn và chỉn chu Vì thế, khách sạn cần
được chăm chút cẩn thận, cung cấp dịch vụ chất lượng cao, nội thất sang trọng, sạch sẽ,
sắp xếp ngăn nắp;
- Tiền bạc sòng phẳng nên các khoản chi phí cần phải cụ thể, rõ ràng;
- Phần đa đều ăn mặn, món ăn được nấu cầu kỳ, đúng gia vị và khẩu vị đặc trưng…
- Khá dễ tính, bao dung, dễ bỏ qua những sai lầm không quá nghiêm trọng hay
những sự cố ngoài mong muốn, bất đắc dĩ;
- Muốn tự tổ chức cho chuyến đi, nhất là khi đi du lịch với bạn bè;
- Chuộng sự hiện đại, mới mẻ; thích vui chơi giải trí và tận hưởng dịch vụ;
- Giá là yếu tố quan trọng nhất khi lựa chọn dịch vụ, tiếp đến là địa điểm, lời
khuyên từ người quen, thông tin trên Internet…
- Thường thích ăn ngọt, món ăn nhiều màu sắc…
>>> Nhìn chung, khách miền Nam dễ phục vụ hơn khách 2 miền còn lại, ít xảy ra
tranh cãi, ít bị phàn nàn hơn
Khách miền Trung:
Nằm ở giữa 2 đầu đất nước nên tâm lý khách miền Trung vì thế mà có sự giao thoa,
ảnh hưởng từ 2 vùng miền Các tỉnh, thành càng tiếp giáp, mức độ ảnh hưởng càng nhiều
và rõ nét Nhìn chung, họ cũng:
- Tính tình hào phóng, thẳng thắng, bộc trực, nóng nảy nhưng rất mau nguội lạnh
Khi có điều gì không hài lòng họ thường nói ngay, nói thẳng, dù lời nói đôi khi rất khó
nghe nhưng lại dễ bỏ qua và nguôi giận, không nhắc lại;
- Giỏi tính toán, xoay xở, chi li nên ít đi du lịch hơn, khi đi thì lựa chọn kỹ để
chuyến đi thật ý nghĩa nhưng tiết kiệm, ưu tiên giá rẻ, nhiều ưu đãi, chất lượng tốt;
- Thường đi du lịch chủ yếu vào dịp hè và các dịp lễ đặc biệt được nghỉ dài ngày
trong năm, tuy nhiên, sẽ ít khi đi với người thân hơn so với khách miền Bắc;
- Cũng có thói quen tự tổ chức tour đi riêng thay vì mua tour có sẵn; vì thế thường
tự mua tour, đặt phòng, đặt dịch vụ online;
- Thích ăn cay nhiều hơn 2 miền còn lại…
* Tâm lý khách du lịch Việt theo độ tuổi
Trẻ tôi, thiếu niên:
- Hiếu động, nghịch ngợm, mê khám phá cái mới lạ
- Ham chơi, dễ mất kiểm soát, không nghe lời
>>> Lưu ý khi phục vụ:
- Nên cung cấp các đồ dùng đảm bảo an toàn tuyệt đối
Trang 30- Tạo nhiều chương trình ưu đãi đặc biệt vào dịp lễ thiếu nhi, nghỉ hè… dành riêng
cho trẻ nhỏ hoặc combo gia đình;
- Khéo léo chăm sóc và phục vụ để không gây thiệt hại đồng thời không làm phật ý
- Tâm lý phấn khích, tò mò, ưa thích những hoạt động nhanh nhẹn, kích thích
- Chuộng mô hình homestay, village nhiều phong cách
- Mê check-in, thích trải nghiệm, ưa khám phá
- Thoải mái trong giao tiếp, dễ kết giao, dễ làm hài lòng
-Giới trẻ hiện nay rất thích chụp ảnh check-in khi đi du lịch
Khách trung niên:
- Thiết thực
- Chịu chi
- Có thể đi du lịch bất cứ lúc nào họ muốn
- Có thể dẫn theo gia đình, bạn bè nếu muốn
- Cần giải tỏa áp lực công việc vô cùng lớn
>>> Hướng đến sự tiện nghi, mới lạ và bắt kịp xu thế thịnh hành
Khách cao tuổi:
- Thích không gian yên tĩnh, tiện nghi nhưng đơn giản; tiết trời ôn hòa; lối sống
chậm rãi (chẳng hạn: phố cổ, làng quê, biển, chùa chiền…)
- Chuyện trò nhỏ nhẹ, giao tiếp ôn hòa, lịch sự
- Không gian dễ di chuyển, ngại đi xa
- Chuộng nghỉ dưỡng hơn là tham quan, giải trí
- Thiên về giá trị thực tế, đề cao tính tiện dụng, thái độ phục vụ hơn là hình thức
- Muốn được tư vấn kỹ, ưu tiên phù hợp với sức khỏe, sở thích, khả năng tài chính
>>> Có xu hướng lưu trú nhiều hơn những du khách ở độ tuổi khác Lưu ý khi phục vụ:
- Chú trọng chất lượng phục vụ, chất lượng ăn uống
- Đảm bảo an toàn và thuận tiện trong di chuyển và nghỉ ngơi
- Trang bị tủ thuốc y tế, kỹ năng sơ cấp cứu cho các trường hợp thường gặp
*Tâm lý khách du lịch Việt theo giới tính
+) Khách nữ:
- Nhạy cảm, tinh tế, tế nhị
- Tính toán chi li
- Thích mua sắm nhưng tính toán kỹ lưỡng
- Quan tâm nhiều đến chi tiết, hay đánh giá cảm quan, trọng hình thức
+) Khách nam:
- Hào phóng, cởi mở
Trang 31- Thực tế, trọng chất lượng
- Chịu chi, dễ bị thuyết phục bởi cái đẹp
Mỗi đối tượng khách sẽ có nhu cầu và mong muốn được phục vụ ở mức độ khác nhau
+ Tâm lý khách du lịch Việt theo nghề nghiệp
Mức thu nhập, đặc thù công việc của từng ngành nghề sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu
của du khách
Nghề nghiệp mang lại mức thu nhập cao giúp du khách thuộc nhóm nghề đó có điều
kiện tốt hơn khi đi du lịch, từ đó có nhiều sự lựa chọn hơn, chi tiêu cũng hào phóng hơn,
thậm chí có thể sử dụng dịch vụ cao cấp hơn… vì thế nên đòi hỏi và yêu cầu đôi khi cũng
cao hơn về chất lượng dịch vụ, phòng ở, món ăn, thái độ phục vụ…
Ngược lại, nghề nghiệp mang lại mức thu nhập thấp đến trung bình sẽ chuộng các
dịch vụ bình dân hơn, quan tâm nhiều đến chương trình ưu đãi, cần dịch vụ chất lượng
nhưng chi phí phải chăng Đối tượng khách này thường tính toán kỹ lưỡng trước khi chi
tiêu sao cho được lợi nhất với chi phí thấp nhất
Một số gợi ý chi tiết:
- Khách du lịch là nhà kinh doanh, dân văn phòng sẽ ưa thích các hoạt động giao
lưu nơi đông người, thích giao tiếp và kết giao – thích sự rõ ràng, nhanh gọn, tiện lợi – ưa
phô trương, tin vào sự may rủi (lưu ý trong xếp số phòng), ưu tiên sử dụng dịch vụ sang
trọng, đắt tiền nếu thu nhập cao; ngoài ra, cần lưu ý trang bị bàn làm việc cùng các vật
dụng thiết yếu khác
- Khách du lịch là dân trí thức, làm các công việc liên quan đến nghiên cứu,
khoa học thích được tôn trọng, cư xử ôn hòa, ứng xử lịch thiệp, có văn hóa – ưu tiên sự
nhanh gọn nhưng chất lượng, không cần cầu kỳ nhưng chỉn chu – tuyệt đối đúng giờ
- Khách du lịch là nghệ sĩ yêu thích sự bay bổng, lãng mạn, muốn tận hưởng –
thường thích ở những khu resort, khách sạn sang trọng, nội thất đẹp, giàu tính nghệ thuật
cùng với chất lượng phục vụ chu đáo và kỹ lưỡng; đảm bảo an toàn thông tin
- Khách du lịch là công nhân, lao động phổ thông thường đơn giản, chân thành,
dễ hòa đồng – chuộng sự nhanh gọn và giá rẻ
* Tâm lý khách du lịch Việt theo tín ngưỡng tôn giáo
- Khách theo đạo Phật giàu lòng nhân ái, thích sự nhẹ nhàng, yên tĩnh và đơn giản
phục vụ thực phẩm chay, ứng xử lịch thiệp, có chừng mực, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự
- Khách theo đạo Thiên Chúa đặc biệt tôn thờ tôn giáo của họ và tuyệt đối tránh
những điều kiêng kị - trọng sự chân thật, tử tế, trung thực và tốt bụng
1.2.2 Khách du lịch quốc tế
a Khái niệm:
Năm 1989 tại hội nghị quốc tế về du lịch ở Hà Lan đã đưa ra khái niệm về khách
Du lịch quốc tế như sau KDu lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với
mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3 tháng,
mục đích không phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến và sau thời gian lưu trú ở đó
du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình
Trang 32Theo định nghĩa của Hội nghị tại Rooma (Ý) do liên hợp quốc tổ chức về các vấn
đề Du lịch quốc tế và đi lại quốc tế ( năm 1963), khách viếng thăm quốc tế ( visitor) được
hiểu là người đến một nước, khác nước cư trú thường xuyên của họ, bởi mọi nguyên
nhân trừ nguyên nhân đến lao động để kiếm sống Khách Du lịch quốc tế là người lưu lại
tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít
nhất là 24h (hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ) Mục đích chuyến đi của họ là tham quan,
thăm thân, tham dự hội nghị, khảo sát thị trường, công tác, chữa bệnh, thể thao, hành
hương, nghỉ ngơi…
Ở nước ta, theo điều 20 chương IV Pháp lệnh du lịch, những người được thống kê
là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau :
- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du
lịch
- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du
lịch
Ngoài ra còn có các định nghĩa khác về khách du lịch như định nghĩa của Hội nghị
Du lịch quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989 : “ Khách Du lịch quốc tế là những người đi
hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian
nhiều nhất là ba tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn Sau khi kết thúc thời gian tham
quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó để trở về hoặc đến nước
khác”
Nhóm khách Du lịch quốc tế được phân thành 2 loại:
- Khách Du lịch quốc tế đi vào (Inbound Tourist): là người nước ngoài và người của
một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi du lịch Loại khách này sử
dụng ngoại tệ để mua hàng hoá dịch vụ
- Khách Du lịch quốc tế đi ra (Outbound Tourist): Là công dân của một quốc gia và
người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch
Động cơ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hành vi của cá nhân, vì rằng cá
nhân không bao giờ hành động một cách vô cớ, mỗi hành động đều có những nguyên
nhân của nó, có những yếu tố thúc đẩy con người hành động Vì vậy khi xtôi xét hành vi
của bất cứ cá nhân nào, người ta đều quan tâm đến động cơ của hành động Vậy động cơ
được hiểu là hệ thống động lực điều khiển bên trong cá nhân, thúc đẩy cá nhân hành động
để đạt được những mục đích nào đó Như vậy, động cơ đi du lịch chính là những yếu tố
thúc đẩy con người đi du lịch, trong số các yếu tố này mục đích chính cần thoả mãn trong
chuyến đi chính là yếu tố cơ bản tạo nên động cơ đi du lịch của con người ngày nay Nắm
được động cơ đi du lịch của khách sẽ có những biện pháp khai thác và phục vụ tối ưu
Chẳng hạn cũng là những du khách đi du lịch từ Nhật Bản đến Việt Nam, nhưng với
những động cơ khác nhau: như đi du lịch tham quan, giải trí, thăm viếng người thân hay
dự hội nghị… thì họ có những nhu cầu và hành vi khác nhau Trong thực tế con người đi
du lịch thường kết hợp nhiều mục đích khác nhau trong đó có những mục đích giữ vai trò
chủ đạo và có những mục đích giữ vai trò phụ
Trang 33b.Vai trò của khách du lịch quốc tế đối với ngành du lịch Việt Nam
-Về kinh tế:
+ Tăng GDP cho đất nước: Du lịch phát triển sẽ góp phần tăng tỷ trọng GDP của
ngành du lịch trong khu vực dịch vụ, theo đó sẽ làm tăng theo GDP của nên kinh tế quốc
dân Ở đâu du lịch phát triển thì ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch
đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống của nhân dân được nâng cao
Hơn nữa,hoạt động du lịch quốc tế còn tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và
dịch vụ,thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ cơng
truyền thống,góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả ngớc và từng địa
phgơng,tăng thu nhập,xóa đói giảm nghèo và vgơn lên làm giàu,mở rộng giao lau giữa
các vùng,miền trong ngớc và với ngớc ngoài
+ Đem lại ngoại tệ cho đất nước: Khách du lịch quốc tế mang theo tiền kiếm được
từ quốc gia cơ trú đến tiêu ở ngớc đến du lịch,trong chừng mực nào đó được coi là xuất
khẩu của ngớc đến du lịch,do đó giúp cải thiện cán cân thương mại quốc gia.Vì vậy, nếu
du lịch quốc tế được duy trì một cách thường xuyên và phù hợp thì nó có thể được coi
như một tác nhân giữ ổn định nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu Các nước đang phát triển
nha Việt Nam cần du khách quốc tế đến đất ngớc đông hơn số công dân ngóc mình đi du
lịch ra ngóc ngồi.Đây là lợi thế nhằm cải thiện cán cân thương mại do công dân trong
nước có thu nhập thấp ít có điều kiện đi du lịch ra ngóc ngoài
+ Là một hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao: Tính hiệu quả cao trong kinh
doanh du lịch quốc tế, thể hiện ở chỗ du lịch quốc tế là một ngành “xuất khẩu tạ chỗ”
những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chê, nôn
glaam sản theo giá bán lẻ cao hơn giá xuất khẩu Thông thường, khách quốc tế khi đi ra
nước ngoài du lịch, họ đều muốn mua những sản phẩm địa phương tại nước để mang về
làm quà cho bạn bè, người thân hoặc để lưu giữ lại kỷ niệm của những vùng đất mà họ đã
từng đặt chân tới đó Vì thế, các hàng hóa mà được trao đổi thông qua con đường du lịch
quốc tế sẽ được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế Du
lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ”, mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” hàng
hóa du lịch Đó là các cảnh quan thiên nhiên khí hậu và ánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới,
những giá trị của những di tích lịch sử - văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong
tục, tập quán mà không bị mất đi qua mỗi lần “bán” mà thậm chí giá trị của nó càng tăng
cao thêm qua mỗi lần đưa ra thị trường nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao Sở dĩ cso
hiện tượng đó là do chúng ta “bán” cho khách chứ không phải là bản thân tài nguyên du
lịch mà chỉ là giá trị các khả năng thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của khách du lịch được
chứa đựng tài trong tài nguyên du lịch Khách du lịch quốc tế khi về lại nước của mình
thị họ sẽ quảng bá thêm cho nước mà khách đến du lịch qua con đường truyền miệng nếu
chất lượng phục vụ du lịch mang lại sự hài lòng cho du khách
+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường hoạt động ngoại thương: Quy
luật cso tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay là
giá trị ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng sản phẩm xã hội và trong số người có
Trang 34việc làm Do vậy các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn thì du lịch là một lĩnh
vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỷ xuất lợi
nhuận cao vì vốn đầu tu vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao
thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, ký thuật không phức tạp Hơn nữa, du
lịch lại là một nguồn thu ngoại tệ đáng kể trong tổng doanh thu mà ngành du lịch mang
lại, vậy nên việ thu hút khách du lịch giúp các nhà đầu tư nước ngoài chú trọng và đẩy
mạnh đầu tư hơn nữa vào ngành du lịch Ngoài ra, hoạt động thu hút phát triển sẽ kéo
theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền và với quốc tế Có thể nói,
thông qua hoạt độngm du lịch mà các giao dịch thương mại, cũng như việc gặp gỡ, trao
đổi thông tin, công nghệ giữa các quốc gia được đẩy mạnh Điều này góp phần xúc tiến
hoạt động ngoại thương và đem lại nguồn lợi lớn cho quốc gia
- Về xã hội:
+ Tạo cơ hội công ăn việc làm cho người dân: Du lịch là ngành tạo việc làm quan
trọng Thu hút khách Du lịch quốc tế thúc đẩy sự phát triển của du lịch cùng với các
ngành công nghiệp khác, từ đó tạo ra một khối lượng công việc lớn, giải quyết được tình
trạng thiếu việc làm cho người dân Hiện nay, ngành du lịch thu hút khoảng 220 triệu lao
động trực tiếp, chiếm 10,6% lực lượng lao động thế giới – cứ 9 người lao động có 1
người làm nghề du lịch (Trần Thị Thúy Lan 2005)
+ Tạo thu nhập cho người dân và bảo tồn được các làng nghề thủ công mỹ nghệ
cổ truyền của dân tộc: Khi một khu vực thu hút được du khách quốc tế sẽ làm tăng sự
quan tâm trong nước đối với các điểm hấp dẫn ở khu vực đó Khi địa phương phát triển
các tiện nghi và cơ sở dịch vụ nhằm thu hút khách quốc thế thì điều này có lợi cho người
dân địa phương Bên cạnh đó, các địa phương hoạt động du lịch sẽ giúp cho người dân
địa phương có nhiều cơ hội để tăng thu nhập từ các hoạt động du lịch Mặt khác, khi đi
du lịch, du khách thường rất thích mua quà lưu niệm, nhất là các sản phẩm lưu niệm
mang đậm dấu ấn của địa phương, quốc gia nơi đến du lịch Bên cạnh việc tham quan,
tìm hiểu thì du khách thường mua sắm các sản phẩm của các làng nghề Từ đó, các nghề
thủ công mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc có điều kiện phục hồi và phát triển Đồng thời
qua đó làm tăng thu nhập cho người dân địa phương, tăng cường giao lưu văn hóa và xây
dựng nếp sống văn minh ở mỗi địa phương
+ Giảm quá trình đô thị hóa: Thông thường, tài nguyên du lịch thiên nhiên có
nhiều ở các vùng núi, trung du, ven biển hay những nơi hẻo lánh, ít dân cư Việc thu hút
khách Du lịch quốc tế sẽ tạo sức hấp dẫn thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng…làm
thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở các vùng đó, góp phần phân bố lại dân cư, giảm mật độ
dân cư quá cao ở những trung tâm kinh tế xã hội lớn
+ Tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước làm du lịch: Thu hút khách Du
lịch quốc tế là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước
ngoài thông qua du khách Khách Du lịch quốc tế được làm quen tại chỗ với các mặt
hàng công nghiệp, thủ công nghiệp của các quốc gia Một số mặt hàng làm cho du khách
hài lòng cả về chất lượng, mẫu mã, và giá cả Khi về đến nước mình, khách du lịch sẽ
Trang 35giới thiệu cho bạn bè, người thân Từ đó, các mặt hàng sẽ được biết đến nhiều hơn và tạo
điều kiện để các cơ sở đó phát triển
- Về mặt văn hóa – chính trị
+ Mở rộng giao lưu văn hóa: Hoạt động du lịch nói chung và Du lịch quốc tế nói
riêng phát triển kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền và với
quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể
chất, tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân Trên phạm vi thế giới, Du lịch quốc tế được
coi là phương thức hữu hiệu xúc tiến quá trình giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các quốc
gia và khu vực Cụ thể, khách Du lịch quốc tế đến thăm viếng một đất nước sẽ được tiếp
xúc và tìm hiểu phong tục, tập quán, truyền thống, thói quen của đất nước họ đang du
lịch qua việc giao tiếp với người dân bản địa cũng như đi tham quan những di tích, điểm
tham quan và mua đồ lưu niệm Đồng thời, khách Du lịch quốc tế cũng có cơ hội để giới
thiệu về bản sắc văn hóa nước mình khi đi du lịch sang các quốc gia khác
+ Đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Quá trình phát triển Du
lịch quốc tế không chỉ hướng tới những mục tiêu kinh tế, xã hội mà còn nhằm đảm bảo
hoàn thành tốt nhiệm vụ an ninh và đối ngoại Từ các chủ trương đến các công việc điều
hành cụ thể hoạt động Du lịch quốc tế đều liên quan đến an ninh quốc phòng và có sự
phối hợp chặt chẻ với cơ quan có thẩm quyền Phát triển Du lịch quốc tế tạo điều kiện
thuận lợi cho các quốc gia có cơ hội hiểu nhau, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau thông qua việc
giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hóa, góp phần duy trì sự ổn định chính trị và hòa bình trong
khu vực và trên thế giới Một quốc gia nếu muốn thu hút khách Du lịch quốc tế thì cần
quan tâm đặc biệt đến môi trường du lịch – điều này khẳng định tầm quan trọng của nền
chính trị - xã hội nhân văn Chính vì lí do này mà họ sẽ đầu tư hợp lí vào an ninh quốc
phòng và trật tự an toàn xã hội để đảm bảo an toàn cho du khách nước ngoài Như vậy,
hoạt động du lịch nếu được xúc tiến khoa học và có chiến lược thì sẽ giữ được an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội Hơn nữa, việc phát triển du lịch ở các vùng biên giới,
hải đảo sẽ góp phần tích cực khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển và trên đất liền
1.3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH
1.3.1 Bản chất của thu hút
Là tạo ra cho một nhân vật, hay một vấn đề, một sản phẩm phẩm cụ thể nào đó hấp
dẫn nhờ mang trong mình một sự lôi cuốn, riêng biệt và đẹp đẽ để người xtôi, người lắng
nghe, người cảm nhận có nhận thức mong muốn được sử dụng và chiêm ngắm và sẵn
sàng bỏ ra số tiền để có thể chiếm hữu
1.3.2 Thu hút khách du lịch
Thu hút khách du lịch là việc một công ty lữ hành, công ty du lịch cần phải làm để
có thể thu lợi nhuận bằng việc tạo ra các sản phẩm du lịch, chương trình du lịch, chương
trình team building, có chất lượng tốt để có thế thu hút và tiếp cận KDL
1.3.3 Những nhân tố tác động đến việc thu hút khách du lịch
Trang 36Dù là khách du lịch nội địa hay là khách quốc tế, một công ty du lịch, lữ hành nào
đều cần phải đảm bảo chất lượng tốt về chất lượng Tour và đặc biệt các yếu tố sau đây để
có thể thu hút khách du lịch:
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất
kỹ thuật của tổ chức du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho
việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng,
phương tiện giao thông vận tải các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ
thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là của một cơ
sở du lịch, có thể là của một khu du lịch) Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò
quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật
hạ tầng xã hội Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng lao động xã hội là những phương tiện vật
chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng nên mà là của toàn xã hội Đó là hệ
thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới
thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước,
mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật
của xã hội, nhân tố phục vụ đắc lực nhất và có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ
thống giao thông vận tải (đường không, đường bộ, đường thủy) Đây chính là cơ sở vật
chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương
và sau nữa là phục vụ cả khách du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch Đây là cơ
sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát
triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
- Tài nguyên du lich:
+ Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng cho việc thu hút khách du lịch đến
tham quan và du lịch Không có điểm đến du lịch hấp dẫn thì sức thu hút khách từ mọi
điểm dân cư trên trái đất sẽ hạn chế Các công ty lữ hành trong nước và nước ngoài sẽ
không có cơ sở để xây dựng các chương trình du lịch thu hút khách Địa phương và đất
nước không thể khai thác các giá trị của thiên nhiên, của văn hóa phục vụ khách du lịch
đtôi lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao
+ Thứ hai, điểm đến du lịch là nơi xuất khẩu vô hình và xuất khẩu tại chỗ với giá trị
kinh tế cao Các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa vật thể
và giá trị văn hóa phi vật thể là tài sản của quốc gia, của địa phương và của cộng đồng
cần được gìn giữ không chỉ cho thế hệ mai sau mà cho cả toàn nhân loại Những giá trị
này không thể mang ra thị trường bán được mà chỉ có thể thu hút khách du lịch đến tham
quan chiêm ngưỡng Nếu người làm du lịch có trí tuệ và sức sáng tạo ra những ý tưởng
phù hợp với nhu cầu của khách du lịch để khai thác các giá trị văn hóa này thì sẽ thu
được nhiều ngoại tệ thông qua việc thu vé tham quan* và dịch vụ hướng dẫn tham quan
Sau khi khách tham quan và cảm thụ các giá trị văn hóa và thiên nhiên này không mất đi,
mà ngày càng được tôn tạo và gìn giữ tốt hơn Nguồn thu từ vé tham quan bằng ngoại tệ,
các nhà kinh tế gọi là “xuất khẩu vô hình” Khách du lịch nước ngoài đến tham quan và
du lịch, họ tiêu thụ một số lượng lớn hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước và thanh
Trang 37toán bằng ngoại tệ Đây là một hình thức xuất khẩu, nhưng là xuất khẩu tại chỗ với hiệu
quả kinh tế cao Vì nó tiết kiệm được rất nhiều khoản chi phí khi xuất khẩu hàng hóa này
ra thị trường thế giới, đó là: chi phí về vận chuyển, chi phí bảo quản, chi phí lưu kho, lưu
bãi, chi phí hao hụt trong quá trình vận chuyển nhưng lại bán được giá cao hơn giá thị
trường thế giới Ví dụ: 1kg thịt gà bán trên thị trường thế giới chỉ được 2USD, nếu bán
cho các khách sạn, nhà hàng để chế biến thành món ăn bán cho khách nước ngoài thì giá
trị tăng lên gấp trên 5 lần Hoặc 1kg cà chua xuất khẩu ra thị trường thế giới chỉ bán được
1USD/kg, nhưng bán cho các khách sạn, nhà hàng chế biến các món ăn cho khách thì giá
trị tăng lên đến 10 lần
+ Thứ ba, điểm đến du lịch là nơi thực hiện tái phân chia nguồn thu nhập giữa các
địa phương, giữa các tầng lớp dân cư và làm tăng giá trị của hàng hóa Khách du lịch nội
địa đtôi tiền kiếm được từ một địa phương này sang địa phương khác tiêu dùng, như vậy
địa phương đón khách sẽ có thu nhập và dân cư ở địa phương này cũng có thu nhập từ
việc bán hàng hóa và dịch vụ cho khách Hàng hóa và dịch vụ này nếu bán cho cư dân
của địa phương thì giá sẽ rẻ, nhưng khi bán cho khách du lịch tại các khách sạn, nhà hàng
giá sẽ cao hơn dẫn đến làm gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ
+ Thứ tư, phát triển điểm đến du lịch là động lực để thúc đẩy các ngành khác trong
nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua việc tạo ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho các ngành
Khi du lịch khách du lịch đến nhiều sẽ tạo ra cho các ngành từ nông nghiệp, thủy
hải sản, công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng, điện
lực, nước sạch, bưu chính, viễn thông , tiêu thụ được sản phẩm thông qua bán sản phẩm
và dịch vụ cho khách du lịch và công ty du lịch
+ Thứ năm, phát triển điểm đến du lịch là động lực để chuyển đổi cơ cấu kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân từ nông nghiệp, công nghiệp chuyển sang dịch vụ Một đất
nước, một địa phương có chính sách phát triển du lịch nhằm mục tiêu chuyển đổi cơ cấu
kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ để thu hút nhiều lực lượng lao động và tạo ra một thị
trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành khác
+ Thứ sáu, phát triển du lịch nhằm khôi phục và phát triển các nghề thủ công, mỹ
nghệ truyền thống, các làng nghề nhằm mục đích cho khách du lịch tham quan và tìm
hiểu cũng như mua những sản phẩm này
Khôi phục và phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống không chỉ để sản
xuất ra các sản phẩm lưu niệm bán và để xuất khẩu mà mỗi một làng nghề là một điểm
tham quan du lịch hấp dẫn đối với khách du lịch Nhiều nước phát triển du lịch đã thành
công trong vấn đề này
+ Đội ngũ lao động, ở đây đề cập đến ướng dẫn viên: Hướng dẫn viên du lịch là
những người làm công việc trực tiếp hướng dẫn đoàn du khách trong du lịch Khi đó,
người hướng dẫn với nghiệp vu của mình để đáp ứng những nhu cầu khám phá của KDL
Công việc trực tiếp dẫn dắt đoàn du lịch trong suốt cả hành trình du lịch Khi đó, họ vừa
là người cung cấp dịch vụ cho đoàn khách, cũng có thể là nhân viên của một công ty dịch
Trang 38vụ lữ hành Bảo đảm thực hiện các công việc được phân công trong nhiệm vụ với công
ty Đảm bảo cho các nhu cầu trong trải nghiệm và du lịch của KDL Đối với các tour du
lịch dài ngày, đoàn khách đông hoặc các tour du lịch mang tính mạo hiểm với điều kiện
thời tiết bất thường hướng dẫn viên phải dự đoán trước được những tình huống xấu nhất
sẽ xảy ra để có cách giải quyết kịp thời
Phong cách linh hoạt, sáng tạo có mối quan hệ chặt chẽ với các tác phong khác,
chúng tác động và ảnh hưởng lẫn nhau hướng dẫn viên phải tự nâng cao ý thức và rèn
luyện tốt phong cách này
Tháo vát: Hướng dẫn viên phải là người tháo vát trong quá trình tác nghiệp nhanh
nhẹn trong việc đón khách, tiễn khách, kiểm tra và hướng dẫn du khách thực hiện các
dịch vụ như vậy mới có thể đảm bảo được thời gian cho khách tạo cảm giác hứng khởi và
luôn vui vẻ khi tiếp xúc với hướng dẫn viên
Cởi mở, lịch thiệp: Trong quá trình dẫn tour có xảy ra những tình huống hay sơ
xuất không đáng có bạn tuyệt đối không được tỏ thái độ cáu gắt, lo lắng, hờ hững, bất cần
điều này sẽ làm mất lòng tin của du khách đối với hướng dẫn viên Vì vậy, giữ thái độ cởi
mở, lịch thiệp trong giao tiếp là điều vô cùng quan trọng đối với một hướng dẫn viên du
lịch
Thân mật, khéo léo: Khi thuyết minh cho khách về địa điểm tham quan du lịch
hướng dẫn viên nên chọn tư thế đứng phù hợp để có thể đưa mắt nhìn vào du khách một
cách dễ dàng, để quan sát cảm xúc, thái độ của họ ra sao từ đó sẽ có cách ứng xử thích
hợp Tránh nhìn vào chân khách, tránh nhìn tập trung vào một người để những người
khác họ không nghĩ rằng họ đang bị xúc phạm hoặc thiên vị Hãy nở nụ cười thân thiện,
ánh mắt trìu mến để thể hiện sự ấm áp, thân mật, dễ gần