Giai đoạn thẩm định dự án phải cung cấp được thông tin và sự phân tích về một loạt các vấn đề có liên quan tới dự án sắp được thực hiện: Tính khả thi của vấn đề quản lý công đoạn thực hi
Trang 1Một số kinh nghiệm lập
& thẩm định phương án tài chính DAĐT
Khi tiến hành lập phương án tài chính cho một dự án
cụ thể, chúng ta sẽ gặp phải hàng loạt câu hỏi như
những dữ liệu để tính toán có tin cậy không? những
biến số nào cần phân tích rủi ro? áp dụng tỷ số chiết
khấu bao nhiêu là hợp lý?
Trong chương này sẽ trình bày hướng giải quyết
một số vấn đề thường gặp theo cách tiếp cận và
giải quyết vấn đề dựa trên mối quan hệ giữa số liệu
thu thập thực tế và phương thức tính toán có độ tin
cậy hợp lý Kinh nghiệm cho thấy khi phân tích các
bài toán tài chính thực tế, chúng ta luôn luôn gặp
phải vấn đề thu thập dữ liệu không đầy đủ, thậm chí
có những thông tin không thể thu thập Bên cạnh
đó nguồn cung cấp dữ liệu có độ tin cậy tương đối
và có sai số Ngoài ra việc tính toán sẽ diễn ra trong
thời gian dài trong tương lai trong khi số liệu tại thời
điểm hiện tại, việc chúng có thay đổi trong tương lai
hay không chỉ mang tính dự báo Do vậy nếu chúng
ta quá chú trọng việc áp dụng lý thuyết và phương
pháp tính toán rành mạch, chỉ tiết thì chúng ta có
thể sẽ gặp khó khăn Do vậy ứng với từng DAĐT cụ
thể, chúng ta cần điều chỉnh thích hợp, trong đó
chấp nhận những giả định và sai số Với quan điểm
này, chúng ta có thể đưa ra hướng giải quyết đơn
giản và hợp lý cho các tình huống gặp phải trong
quá trình lập dự án
Trang 256 là DI CÁC KIẾN THỨC LIÊN-QUAN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1 QUAN ĐIỂM VỀ THẦM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 Quan điểm chung
Trong chương 1 giới thiệu các kiến thức tổng quát về lập và thẩm định dự án đầu tư, đang được á áp dụng rộng rãi trên thế giới, các kiến thức này khi áp dụng cho mỗi địa
phương, mỗi tổ chức tín dụng sẽ có những khác biệt đôi chút Sau đây xin giới thiệu
quan điểm đang được áp dụng phổ biến tại các tổ chức tài chính và tín dụng Thành
phố Hồ Chí Minh
» Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư: Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất
về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những hoạt động SXKD nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định Như vậy, thẩm định dự án đầu tư là hoạt động chuẩn bị dự án, được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập, thỏa mãn các yêu cầu thẩm
định của nhà nước, chủ đầu tư hoặc tổ chức tài chính tín dụng
» Mục đích thẩm định dự án đầu tư: Trên thực tế, bất kỳ dự án đầu tư nào cũng gặp ít nhiều rủi ro nên mục đích của thẩm định dự án nhằm:
1 Xác định tính chất khả thi của dự án, đảm bảo hiệu quả tài chính và
kinh tế - xã hội mong muốn
2 Đánh giá các lợi ích và chỉ phí tài chính, cũng như các lợi ích và chỉ phí
kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án một cách hợp lý và khoa học Trên
cơ sở đó:
® Đối với chủ đầu tư: Ra quyết định đầu tư đúng đắn, đem lại
hiệu quả tài chính cao và giảm thiểu rủi ro
© Đối với Tổ chức tín dụng: Ra quyết định tài trợ dự án trên cơ
sở hiệu quả đầu tư đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay an
toàn và gia tăng các lợi ích khác (nếu có)
© Đối với cơ quan nhà nước: Ra quyết định đầu tư đúng đắn, xác
định chế độ ưu tiên đầu tư hợp lý; phù hợp với định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
! (hỉ đối với các 3 Bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về dự án đầu tư
s Quan điểm thẩm định dự án đầu tư
1 Giai đoạn thẩm định dự án phải cung cấp được thông tin và sự phân
tích về một loạt các vấn đề có liên quan tới dự án sắp được thực hiện: Tính khả thi của vấn đề quản lý công đoạn thực hiện dự án phải được đánh giá đầy đủ; khía cạnh thị trường và kỹ thuật của dự án cần phải được thẩm định để xác định tính khả thi của vấn đề này; khả năng tài chính cho toàn bộ chu kỳ của dự án phải được thẩm định rõ; các lợi ích kinh tế của dự án phải được tính toán đầy đủ, đi kèm với đầy đủ tài liệu
về các dữ liệu thông tin và các giả định đã được làm cơ sở cho các tính
toán đó Từ các kết quả phân tích sẽ xác định dự án có hiệu quả không,
tức là mức sinh lời có xứng đáng để đầu tư hay không?
LAP & THAM BINH DU AN DAU TU
Trang 3
MOT SO KINH NGHIEM TRONG LAP_THAM ĐỊNH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ |
Ngoài ra, nếu dự án thuộc một tổ chức nhà nước hoặc được nhà nước ưu đãi thì tuỳ
tính chất và quy mô dự án mà cần xem xét thêm dựa trên một số quan điểm sau:
2 Một dựán, qua thẩm định, được chấp nhận và cấp giấy phép đầu tư phải
được xem xét và đánh giá trên góc độ, phù hợp với mục tiêu phát triển
và đáp ứng các lợi ích kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc địa phương
3 Thẩm định dự án nhằm thực hiện sự điều tiết của nhà nước trong đầu
tư, bảo đảm sự cân đối giữa lợi ích kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương và lợi ích của chủ đầu tư
4 Thẩm định dự án được thực hiện theo chế độ thẩm định đối với các
dự án có hoặc không có vốn đầu tư của nước ngoài; phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế
1.2 Những yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô
Những yếu tố thuộc về tiến bộ khoa học kỹ thuật: Các hoạt động đầu tư phải
đi sát với quá trình phát triển của khoa học - công nghệ để từ đó có thể dự đoán hết được những rủi ro của dự án đầu tư có thể xảy ra do sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật gây ra: Chẳng hạn khi đầu tư một công nghệ lạc hậu hoặc sẽ không còn phù hợp trong vài năm tới sẽ bị suy giảm năng lực cạnh tranh dẫn đến thất bai’
Những yếu tố về kinh tế: Chức năng đầu tư phải sinh lợi và bảo toàn nguồn vốn
Do đó trước lúc đầu tư để đảm bảo thực hiện tốt chức năng trên, cần phải từng bước xem xét những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án đầu tư trên cơ sở xem xét đánh giá khả năng tăng trưởng GDP - GNP trong khu vực, tình trạng lạm phát, lãi suất, tiền lương bình quân, tỷ giá hối đoái; những lợi thế so sánh của khu vực
so với những nơi khác?
Mục đích của khâu phân tích môi trường kinh tế là nhằm đánh giá dự án từ quan điểm của toàn bộ nền kinh tế, sự tác động từ các biến đổi của môi trường kinh tế thế giới và Việt Nam làm ảnh hưởng đến hiệu quả dự án Qua việc xem xét, đánh giá các yếu tố trên ta mới sơ bộ nhận định được hiệu quả kinh tế của dự án cũng như các yếu tố rủi ro có thể xảy ra để đưa ra biện pháp phòng ngừa
Những yếu tố thuộc về chính trị và chính sách của nhà nước: Chiến lược đầu
tư có sự chỉ phối từ các yếu tố về chính trị và chính sách của Nhà nước Bởi vậy, trong suốt quá trình hoạt động đầu tư đều bám sát theo những chủ trương và
sự hướng dẫn của Chính phủ và chính quyền địa phương”
Những yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Trong quá trình xây dựng và triển
khai các dự án đầu tư sẽ phải chú trọng đến các điều kiện tự nhiên nơi mà dự
án sẽ đi vào hoạt động bởi vì trên thực tế, các dự án đầu tư tại đây đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của điều kiện tự nhiên Nếu các điều kiện tự nhiên ở tại nơi dự án
đi vào hoạt động không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án diéu đó có thể gây rủi ro cho khả năng thu hồi vốn Ngược lại, nếu các điều kiện
tự nhiên gặp nhiều thuận lợi thì khả năng thu hồi vốn đầu tư là rất lớn
Những yếu tố thuộc về văn hóa - xã hội: Khía cạnh văn hóa - xã hội từ lâu đã có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công cuộc đầu tư : chẳng hạn như khi dựán được
triển khai và đi vào hoạt động thì nó phải được xem xét là có phù hợp với tập tục văn
hóa nơi đó hay không, các điều lệ và quy định xã hội có chấp nhận nó hay không
TS.ĐINH THẾ HIỂN
CHƯƠNG2 57
"Du dn Cityphone, các dự án sản xuất ciment lò đứng là những thất bại điển hình tại Việt Nam vì công nghệ
lạc hậu
? Hiện nay các
doanh nghiệp BĐS đang
bị điêu đứng, phá sản vì
không dự đoán được thị
trường với lãi suất tăng
quá cao trong giai đoạn
2010 — 2012 cũng như khả năng hấp thụ vốn
và tăng trưởng của nền kinh tế
3 Hiện nay hiệu quả
mới trong nộp tiền sử dụng đất trong giai đoạn
2011 — 2012 Do vậy cần
phải phân tích kỹ các tác động có thể xảy ra từ các chính sách của Nhà nước
Trang 4Mặc dù phân tích hiệu quả xã hội không mang tính chính xác như phân tích tài
chính hoặc kinh tế, nhưng để có ý nghĩa, việc phân tích xã hội thường dựa trên các yếu tố đã được sử dụng trong phân tích tài chính và kinh tế Ví dụ một dự án không thể tác dụng trợ giúp cho người tiêu dùng tại một vùng nào đó nếu đề án
đó không làm tăng thêm nguồn cung hàng hóa hoặc dịch vụ với mức giá không
cao hơn mức giá trước đây
Những câu hỏi mà các chuyên gia phân tích dự án thường đặt ra khi tiến hành phân tích các yếu tố xã hội của dự án:
1 Dựán có thể giúp đạt được những mục tiêu nào của Chính quyền?
2 Ai là đối tượng hưởng lợi của dự án và ai sẽ là người phải chịu chỉ phí của dự án?
3 Các đối tượng hưởng lợi của dựán được hưởng lợi theo cách thức nào cũng như các đối tượng chịu chỉ phí của dự án phải trả theo cách thức nào?
4 Dựán sẽ gây ra những tác động gì về mặt chính trị và xã hội, và bằng
cách nào?
5 Chính quyền có thể đạt được những mục tiêu xã hội tương tự theo
những giải pháp thay thế nào khác và với mức chỉ phí là bao nhiêu?
6 Chi phí kinh tế thuần của việc thực hiện những giải pháp thay thế đó
là bao nhiêu?
Khi tiến hành đánh giá tác động xã hội của một dự án chúng ta cần ghi nhớ hai
nguyên tắc quan trọng sau đây:
©_ Thứ nhất: Chúng ta phải có lập luận rõ ràng về việc dự án này sẽ gây
ảnh hưởng xã hội tới mức nào?
©_ Thứ hai: Do các Chính quyền thường thực hiện rất nhiều dự án và
chương trình đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu xã hội của mình
nên ít nhất chúng ta phải tiến hành so sánh hiệu quả chỉ phí của dự
án đang được cân nhắc với các chi phí của các biện pháp chính sách
đang thực hiện khác
1.3 Yếu tố thuộc môi trường kinh tế vi mô của doanh nghiệp Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế vi mô của doanh nghiệp mà thẩm định cần phải xem xét bao gồm:
1.3.1 Các vấn đề tài chính của đơn vị
Chuyên viên thẩm định phải xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành
LẬP & THẤM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 5
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG LẬP THẤM ĐỊNH PHUONG ANTAICHINHDUANDAUTU | CHUONG2 59
mạnh và vững chắc không? Tỷ lệ nợ trên vốn riêng, nợ trên doanh thu, tình hình nợ
quá hạn của doanh nghiệp như thế nào? Để tìm ra được các con số trên, cần phải
dựa vào các bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh để xây dựng
được các tỷ số tài chính theo 4 nhóm:
Nhóm 1: Khả năng thanh toán bao gồm
ánh mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Nhóm tỷ số này bao gồm:
Đo lường khả năng điều hành và hoạt động của doanh nghiệp hay đánh giá việc
sử dụng tài sản của doanh nghiệp bao gồm các tỷ số sau:
cuối cùng để đánh giá hoạt động, chính sách mà doanh nghiệp áp dụng
Trang 6phòng gì?
Phân tích đánh giá hiệu quả tài chính của dự án: Sử dụng các chỉ tiêu NPV; IRR
thời gian hoàn vốn (có tính hiện giá và không tính hiện giá); điểm hòa vốn trên
doanh thu của dự án Một dự án được gọi là khả thi và có hiệu quả khi các chỉ
tiêu tài chính này đảm bảo ít nhất là đạt mức tối thiểu có thể chấp nhận được,
Phân tích rủi ro: Phân tích độ nhạy so với NPV, IRR của các yếu tố: doanh thu (giá bán; lượng bán); tổng mức đầu tư hoặc một vài hạng mục đặc biệt của kinh phí đầu tư; lãi vay; tỷ lệ nợ trên vốn góp
Khả năng thoát vốn sau khi dự án triển khai? Có khả năng bán lại cổ phần của nhà đầu tư trong dự án, trong doanh nghiệp đó không? Dự kiến sau bao nhiêu năm (thời gian dự án bắt đầu hoạt động ổn định)? Nếu có ước tính định lượng phần thu hồi về cho nhà đầu tư là bao nhiêu, sau bao nhiêu năm?
Phân tích tài chính là khâu đầu tiên cho phép chúng ta gắn các biến số tài chính với các biến số kỹ thuật đã được dự tính trước đây Trong phần này, ta tiến hành xây
dựng dự đoán cân đối thu chỉ của dự án, theo đó dự đoán mọi khoản thu và chỉ dự
kiến cho toàn bộ chu kỳ của dự án Do nhu cầu phải tiến hành phỏng tính một số biến số đặc biệt, ví dụ như nhu cầu về ngoại hối để thực hiện việc thẩm định kinh
tế và xã hội, nên mức độ chỉ tiết về các thông số tài chính sẽ cao hơn nhiều so với việc đánh giá tài chính của các dự án đầu tư tư nhân Các câu hỏi quan trọng trong
phần phân tích tài chính như sau:
Chúng ta áp dụng mức độ tin cậy tới đâu đối với các biến số thu, chỉ trong phần phân tích tài chính? Những nhân tố nào sẽ có tác động tới các biến số này và tác động theo cách nào?
Nguồn tài chính được sử dụng để trả cho các chỉ phí của dự án là lấy từ đâu?
Phương án tài chính đó có những đặc điểm riêng biệt gì không, ví dụ như có
sử dụng vốn vay với lãi suất ưu đãi, vốn viện trợ, vốn cổ phần hoặc cho vay của
nước ngoài ?
LAP & THAM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẤU TƯ
Trang 7amakteng can cathe nu te!
¢ Duan cé đạt được mức thu đủ lớn hoặc đạt được mức sinh lợi đủ cao để làm cho
dự án khả thi về mặt tài chính hay không? Trong trường hợp gặp rủi ro như đã
phân tích, dự án có giải pháp nào khắc phục, thể bổ sung vốn từ những nguồn
nào?
+ J\[á1(0(infIdhilh lổsU0(Š tángtíthHiệu tả va gidm thigu ri ro?
1.3.3 Sản phẩm - thị trường - và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Xác định rõ dự án có những nguồn lực cần thiết và có khả năng cạnh tranh không?
Trong đó cần chú trọng đến các nội dung: Dự báo nhu cầu thị trường trong tương lai;
dự báo nhịp độ tăng trưởng của ngành; dự kiến tình hình biến động của thị trường, giá cả, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm thay thế (trong và ngoài nước)
Phân tích thị trường hoặc mức cầu cần được bắt đầu bằng việc đánh giá xem sản phẩm của dự án được sử dụng để đáp ứng nhu cầu trong nước hay để bán trên thị trường quốc tế Đối với các loại sản phẩm được bán ra trên thị trường thế giới, chúng
ta có thể có rất nhiều loại thông tin như: Xu hướng thị trường, công nghệ mới, mức chỉ phí tương đối của các đối thủ cạnh tranh Câu hỏi chính cần đặt ra ở đây là: Dự án
có những ưu thế hoặc bất lợi gì so với các đối thủ cạnh tranh sẽ hoạt động trên thị trường, cả trên thị trường trong nước lẫn nước ngoài? Đối với một số loại sản phẩm (ví dụ những sản phẩm tương đối đồng nhất được bán trên các thị trường cạnh tranh có tổ chức), có thể chúng ta chỉ cần nghiên cứu so sánh chỉ phí với người sản xuất là đủ, trong khi đó, đối với những loại sản phẩm lại đòi hỏi phải có nghiên cứu
về mức cầu tương lai đối với sản phẩm dự án
Đối với việc phân tích thị trường cho các sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường
trong nước, chúng ta cần bắt đầu tiến hành nghiên cứu sơ bộ ngay tại công đoạn thẩm định tiền khả thi Chúng ta thường tiến hành khảo sát các đối tượng khách hàng tiểm năng đối với sản phẩm thì mới có thể xác định được chính xác quy mô tiém năng của thị trường Nếu sản phẩm của dự án được bán trên các thị trường cạnh tranh, chúng ta cần đánh giá để dự tính xem các đối thủ cạnh tranh sẽ phản ứng ra sao Thông tin này có thể được xây dựng trên cơ sở xem xét hoạt động của thị trường từ trước tới nay cũng như đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của đối
thủ cạnh tranh
Kết quả của sự phân tích thị trường, nếu đây là một dự án thương mại, sẽ bao
gồm các con số dự báo về những biến số sau đây cho suốt chu kỳ hoạt động của dự
án:
©_ Số lượng hàng bán; giá hàng bán có cạnh tranh với các thương phẩm
khác của nước khác, bất kể hàng được bán cho khách trong nước hay quốc tế
© Số lượng hàng bán; giá hàng bán trong nước không có cạnh tranh với hàng thương phẩm quốc tế
O _ Thuế doanh thu và thuế xuất khẩu mà người tiêu dùng sẽ phải trả đối với các loại hàng thương phẩm
ak ^^ n rẻ
wm) Wilkeedl Bie sÉ:c: n7?ÿ“ếp
61
Trang 8
PYLON CÁC KIÊN THỨC LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
s Thông thường, với chuyên viên thẩm định có nhiều kinh nghiệm, sẽ dễ dàng
đánh giá phương án kỹ thuật dự án là có khả thi, có phù hợp hay không, bởi
vì việc đánh giá một cách tương đối phương án kỹ thuật không khú và đòi
hỏi chuyên môn như việc xây dựng nó, nhất là khi chuyên viên thẩm định đã
có nhiều lần tiếp xúc với các dự án loại này Tuy nhiên, với một phương án kỹ thuật hoàn toàn mới, tốt nhất chuyên viên thẩm định cần lấy thông tin tư vấn -
từ những người có chuyên môn để có thể xác định mức độ tin cậy của thông tin
trong dự án
s Về kỹ thuật phân tích tính toán, thì người lập phương án tài chính và người thẩm định hiệu quả tài chính dự án đều sử dụng kỹ thuật gần như nhau, điều khác biệt
rõ nhất, là người lập dự án xem xét tính toán dựa trên số liệu trung bình có tính
khả thi nhất, còn người thẩm định lại quan tâm nhiều đến các tình huống xấu để
xem xét mức độ hoàn vốn và trả nợ của dự án Thông thường một dự án có độ
rủi ro cao thì mới có khả năng sinh lời cao và ngược lại, do vậy tùy mong muốn
về khả năng sinh lợi của đồng vốn so với mức độ chấp nhận rủi ro mà người đầu
tư sẽ chọn lựa dự án phù hợp Khi thẩm định, nếu đứng trên quan điểm phân
tích hiệu quả để quyết định tham gia đầu tư hay không, thì người thẩm định cùng cái nhìn và đánh giá như người lập dự án, nhưng nếu đứng trên nhiệm vụ xem xét cho vay hay không, thì người thẩm định luôn đứng trên quan điểm an toàn của đồng vốn để phân tích, kết luận
® Có những dự án, người thẩm định nhận thấy nếu giữ nguyên các phương án như đã lập sẽ kém hiệu quả, nhưng nếu điều chỉnh phương án một chút (giảm mức độ đầu tư, giản tiến độ đầu tư, ) thì dự án sẽ trở nên hiệu quả Do vậy, chuyên viên thẩm định có thể tư vấn, đề xuất cho chủ đầu tư, để bảo đảm tính khả thi trong việc tài trợ dự án Nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về người chủ đầu tư, bởi vì chính họ mới là người quyết định nên sử dụng đồng vốn như thế
nào trong đầu tư, cũng như trong quá trình điều hành hoạt động SXKD Họ sẽ là
người hưởng kết quả hoặc nhận lãnh thiệt hại nhiều nhất trong việc thành công hay thất bại của dự án Điều này cũng giải thích vì sao thông thường Ngân hàng chỉ cho vay không quá 70% tổng vốn đầu tư, và người chủ đầu tư phải thế chấp bằng toàn bộ tài sản đầu tư, đôi khi phải kèm thêm những tài sản có tính thanh khoản cao khác, tất nhiên trừ một số trường hợp nhà tài trợ quyết định tham gia
đầu tư vào các dự án mạo hiểm, khi đó ý tưởng kinh doanh của người xây dựng
dự án sẽ có một giá trị tương ứng với một tỷ lệ cổ phần trong tổng vốn đầu tư
® Sau cùng, thì tiêu chí quan trọng nhất của chuyên viên tài chính trong việc lập
hay thẩm định hiệu quả dự án đầu tư, đó là phải hết sức khách quan trong việc thu thập và đánh giá số liệu, đối với những số liệu mà dự án thu thập không đủ
do nguyên nhân khách quan, thì phải đánh giá theo nhiều tình huống có khả
năng xảy ra xuất phát từ việc thiếu các thông tin đó Chuyên viên tài chính cần
có cái đầu lạnh trong việc đánh giá dự án, còn nhà đầu tư thì không thể thiếu tính quyết đoán và gan dạ trong việc đầu tư, những nhà đầu tư quá cẩn thận và luôn dựa tuyệt đối vào kết quả thẩm định để chọn lựa dự án đầu tư an toàn, thì
không phải bao giờ cũng thành công, và có thể sẽ bỏ qua những dự án có suất
sinh lời rất cao
Trang 9
MỘT SỐ KINH NGHIÊM TRONG LẬP THẦM ĐỊNH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ |
3 MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VÀ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC LẬP THẤM ĐỊNH DỰ AN ĐẦU TƯ
Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét về việc áp dụng các quan điểm và cơ sở khoa học trong thẩm định hiệu quả tài chính của dự án thông qua một số dự án tiêu biểu
đã được thẩm định trong tình hình thực tiễn hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh
cũng như tại Việt Nam
3.1 Lập dự toán tính đến yếu tố lạm phát Chúng ta biết khi lạm phát có khả năng diễn ra trong thời điểm tiến hành đầu
tư và trong suốt vòng đời dự án Trong trường hợp này có thể cần phải xác định,
liệu các dòng tiền hay sức mua của tiền có hữu ích hơn để mô tả kết quả một
dự án đầu tư và xem xét quyết định đối với các phương án hay không Hơn nữa chọn mức tỷ suất chiết khấu phức tạp hơn nhiều Kết luận cơ bản để giải quyết vấn đề này là việc phân tích dự án có thể theo dòng tiền mặt (money cash flows) hoặc theo dòng tiền theo sức mua (Purchasing - Power flows) Điều cần chú ýlà chúng phải thực hiện một cách nhất quán
Theo mối tương quan hiện tại, lạm phát trong quan điểm nguồn vốn đầu tư có nghĩa là sự mất giá của VNĐ so với USD Theo quan điểm đó chúng ta chỉ đưa chỉ
số lạm phát trong các trường hợp sau:
©_ Nếu chỉ phí đầu tư có sử dụng số ngoại tệ lớn như dùng để mua thiết
bị, thì cần tính đến sự biến động tỷ giá do từ khi lập dự án đến khi tiến hành mua thiết bị có khi kéo dài cả một hai năm, lúc đó có thể cần thêm vốn đầu tư nếu tỷ giá tăng
O_ Trong trường hợp phương án sản xuất sử dụng nguyên vật liệu mua bằng ngoại tệ, sản phẩm bán thu bằng VN, thì cần tính đến biến động tỷ giá Một sự biến động nhỏ về tỷ giá cũng có thể thay đổi hiệu quả dự án, bởi vì thông thường khi tỷ giá tăng chắc chắn chi phí là yếu
tố bị tác động trực tiếp sẽ tăng trước khi giá bán tăng
© Ngược lại, khi phương án sản xuất sử dụng nguyên vật liệu trong nước,
sản phẩm bán thu bằng ngoại tệ, thì cũng cần tính đến biến động tỷ giá Khi tỷ giá tăng, rõ rằng hiệu quả của công ty làm hàng xuất khẩu
sẽ tăng và như vậy hiệu quả dự án sẽ tăng Tuy nhiên cũng cần biết rằng với thực tiễn Việt Nam chỉ những dự án có kỹ thuật tương đối
phức tạp mới được hưởng lợi thế, còn những dự án có kỹ thuật sản
xuất giản đơn như nhà máy xay xát lúa, nhà máy chế biến hạt điều
thô thì chưa chắc hưởng lợi mà đôi khi bị hiệu quả ngược, bởi vì khi
tỷ giá tăng, làm nhiều người thấy có lời, sẽ nhảy vào kinh doanh, tranh nhau thu mua nguyên liệu, dẫn đến làm giá nguyên liệu tăng đến mức việc tăng tỷ giá không bù đắp được, trong khi đối với sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật phức tạp thì không dễ gì trong phút chốc có nhiều doanh nghiệp nhảy vào được
© _ Ngoài những trường hợp trên, thì không nên đưa yếu tố lạm phát vào
trong việc tính toán hiệu quả tài chính dự án, do khi có lạm phát, yếu
tố tăng chỉ phí và tăng giá bán sẽ bù trừ lẫn nhau, nếu ta đưa vào một
vế sẽ thiếu khách quan Tuy nhiên có thể tính đến những dự án mà chi
TS.DINH THE HIEN
CHUONG 2 69
Trang 10
70 “CAC KIEN THUC LIEN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TU
phí nhân công chiếm tỷ lệ lớn so với chi phi NVL, trong trudng hợp này thì lạm phát tăng có thể làm tăng số tuyệt đối của lợi nhuận, do chỉ phí
tiền lương luôn luôn tăng chậm hơn giá mua nguyên liệu và giá bán
sản phẩm Ngược lại trong bối cảnh nền kinh tế phát triển, tức mức sống được nâng cao thì cần tính đến việc tăng lương làm cho chỉ phí tăng nhanh hơn doanh thu (do tỷ lệ tiền lương chiếm đa số trong giá thành), dẫn đến số tuyệt đối về lợi nhuận sẽ bị giảm
3.2 Áp dụng tình huống ưu thế trong thẩm định
Có một hạn chế thường gặp trong quá trình lập dự án đó là không vận dụng mô
hình tình huống ưu thế trong việc xây dựng các dự toán tài chính trong dự án
Như chúng ta biết, một số chỉ tiêu tính toán trong dự án như doanh thu là các
dữ liệu không chắc chắn Nếu chúng ta không vận dụng các phương pháp thẩm định trong điều kiện không chắc chắn thì hiệu quả tài chính của dự án có thể sẽ
sai lệch và không đáng tin cậy Đôi khi chính vì sự thiếu sót đó làm cho một dự
án từ không hiệu quả khả thi thành rất hiệu quả khả thi hoặc ngược lại
Chúng ta nên vận dụng tình huống ưu thế trong trường hợp khách hàng quyết
định chọn lựa hình thức mua sản phẩm (hoặc dịch vụ) theo nhiều phương thức,
các phương thức này không phải do ý muốn chủ quan của chúng ta đưa ra, mà
là những phương thức đang tồn tại trên thị trường, thí dụ bán trả bằng tiền mặt
và bán trả góp Rõ ràng thống kê để dự báo hành vi của khách hàng để xác định xác suất chọn lựa của khách hàng là điều cần thiết, phương pháp đơn giản và tin cậy là thu thập ý kiến khách hàng thông qua bảng phỏng vấn Về mặt kỹ thuật tính toán, chúng ta có thể áp dụng tính riêng từng khoản doanh thu tỷ
lệ theo xác suất dự báo, hoặc gộp chung theo chỉ số bình quân cũng được Khi tính riêng theo từng tình huống, sẽ thuận lợi cho việc tính kết quả tương ứng
với dự báo thay đổi của từng tình huống, còn tính gộp chung thì giúp cho giảm
bớt các số liệu, thuận lợi cho việc xem các bảng báo cáo kết quả Vấn đề ở đây
là khi tính toán, chúng ta không được chủ quan chọn lựa theo một phương án,
mà cần dựa trên thông tin thống kê để áp dụng cách tính thích hợp, tăng độ tin cậy của tính toán và kết quả
3.3 Các Dự án phụ thuộc vào nhau, thời điểm quyết định đầu tư
Trong quá trình xây dựng dự án, đôi khi cần xem xét dự án có độc lập tương đối
hay phụ thuộc trực tiếp vào việc triển khai dự án khác hay không Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để xác định khả năng thành công của dự án hay thời điểm thích hợp để đầu tư Việc không tính đến mối liên quan phụ thuộc vào các dự
án khác có thể dẫn đến một dự án triển khai bị thất bại mà đáng lẽ nó sẽ thành công nếu chọn thời điểm đầu tư khác
Khi xem xét tính độc lập của dự án, chúng ta nên chú ý các trường hợp sau:
a Nếu dự án đang xem xét không bị tác động trực tiếp bởi dự án khác,
và cũng không bị tác động trực tiếp bởi một đơn vị đang hoạt động,
thì đó là dự án độc lập
b Néu du an A dang xem xét chịu tác động trực tiếp một đơn vị B đang
hoạt động, thì cần tính độ rủi ro khi có sự thay đổi kinh doanh của
công ty B Vấn đề ở đây là tính tới mức độ phụ thuộc, nếu mức độ phụ
LAP & THAM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 11MOT SO KINH NGHIEM TRONG LAP_THAM BINH PHUONG AN TAI CHINH DU AN DAU TU
thuộc quá lớn, thì đây là dự án có độ rủi ro cao Ở đây có các loại phụ
thuộc như sau:
@ Phụ thuộc về tiêu thụ: Thí dụ như dự án sơ chế cao su cung
cấp cho nhà máy sản xuất vỏ xe, nếu nhà máy vỏ xe gặp khó
khăn trong kinh doanh, giảm lượng nguyên liệu tiêu thụ,
hoặc giảm giá mua, thì nhà máy chế biến cao su sẽ bị tồn đọng sản phẩm, còn nếu đem đi tiêu thụ nơi khác sẽ làm tăng chỉ phí vận chuyển và khó khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng tiêu thụ Nếu công suất của nhà máy sơ chế cao su không đáng kể so với công suất nhà máy sản xuất vỏ xe, thì độ phụ thuộc rủi ro rất thấp, hầu như có thể bỏ qua Còn ngược lại, chúng ta nên đánh giá độ ổn định và phát triển của nhà máy
vỏ xe, cũng như đo lường khả năng tiêu thụ cho những đơn
vị khác trong trường hợp xấu, có như vậy thì chúng ta mới có
đầy đủ tầm nhìn để quyết định đầu tư vào nhà máy chế biến cao su hay không
Phụ thuộc về nguồn hàng: Thí dụ dự án xây dựng cơ sở
chăn nuôi mà thức ăn gia súc được mua từ nhà máy gần đó,
dự án tính có hiệu quả do nguyên liệu được mua rẻ, chỉ phí vận chuyển thấp Trường hợp này cũng tương tự trường hợp
trên, nếu công suất nhà máy sản xuất thức ăn gia súc lớn hơn
hẳn nhu cầu tiêu thụ của cơ sở chăn nuôi thì chúng ta không
cần phải quan tâm đến rủi ro về nguồn hàng, còn ngược lại, bắt buộc phải tính đến khả năng rủi ro khi nhà máy sản xuất
thức ăn gặp khó khăn
Cả hai trường hợp trên, chúng ta chỉ nên dừng ở sự đánh giá vào các nhà máy mà dựán chịu tác động trực tiếp, không nên phân tích xa hơn sẽ có quá nhiều biến cố trường hợp, khiến
việc đánh giá trở lên phức tạp và nhiều nghỉ ngại Thí dụ sau
khi phân tích về nhà máy sản xuất thức ăn, nếu chúng ta lại
phân tích tiếp các đơn vị hoặc vùng nguyên liệu mà nhà máy
đó phụ thuộc, như vậy là chúng ta đã tính tới các yếu tố phụ thuộc gián tiếp Chỉ một số ít trường hợp mới cần phân tích
độ phụ thuộc vào các nhà máy có tác động gián tiếp tới dự
án, đó là các dự án có tổng vốn đầu tư hoặc quy mô quá lớn, cần xem xét kỹ nhiều mặt để bảo đảm mức khả thi của du an, chấp nhận chỉ phí lớn cho việc phân tích
c Nếu dự án A đang xem xét chịu tác động trực tiếp một dự án B cũng
đang được triển khai, thì cần tính độ rủi ro khi có sự thay đổi kinh
doanh của dự án B như đã phân tích ở trên Ngoài ra còn kết hợp với
yếu tố thời điểm ra đời trước sau của 2 dự án Trong trường hợp xem xét yếu tố thời gian đầu tư, chúng ta phân ra các trường hợp sau:
@ Nếu việc triển khai đầu tư xây dựng dự án A khá phức tạp, cần
có thời gian dài, thì có thể tiến hành đầu tư dự án A đón đầu,
để khi dự án B hoàn thành, thì cũng đồng thời hoàn thành dự
án A Khi đó các nhà đầu tư khác dù thấy thời cơ cũng không
dễ nhảy vào, bởi vì muốn đầu tư nhà máy như dự án A cần
Trang 1272 PHẦN 1 CAC KIEN THUC LIEN QUAN DEN DU AN DAU TU
phải có thời gian do yếu tố đầu tư phức tạp của nó
© Ngược lại nếu việc triển khai đầu tư xây dựng du an A don
giản, thời gian đầu tư nhanh, thì không cần đầu tư dự án A
trước mà có thể chờ dự án B hoàn thành đi vào hoạt động
Sau đó qua đánh giá tình hình mới tiến hành đầu tư dự án A
Tiến hành đầu tư sau, chúng ta đã loại trừ một phần đáng kể rủi ro về tình hình đầu tư của dự án B
3.4 Tính độ nhạy giúp ích gì cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư?
s Chúng ta biết phần lớn các thông số để lập dự toán là không chắc chắn Chúng
ta không thể xác định một cách chắc chắn giá cả, sản lượng tiêu thụ, tại những thời điểm trong tương lai Việc thay đổi các giá trị của thông số cho phép chúng
ta có cách nhìn bao quát hơn về tác động của sự biến động các thông số đến dòng tiền và hiệu quả của dự án
s Thông qua bảng độ nhạy, nếu dự án nào ít bị tác động thì nó có một khả năng
ổn định cao, khá an toàn trong việc đầu tư, tuy nhiên nó sẽ không có nhiều cơ
hội gia tăng mức lợi nhuận Ngược lại một dự án bị tác động mạnh bởi độ nhạy
thì nó không có sự ổn định tốt, là một điều cần thiết hàng đầu để quyết định
đầu tư, nhưng nó lại có khả năng sinh lợi cao đột biến Do vậy, tùy theo mục đích
của nhà đầu tư, mạo hiểm hay không mạo hiểm để quyết định có nên đầu tư hay không Ngoài ra thông qua bảng độ nhạy, còn rút ra được sự chọn lựa điều kiện đầu tư để dự án có khả năng thành công, nếu muốn có những kết luận toàn diện nhất, sự chọn lựu tối ưu nhất, thì nhất thiết phải áp dụng độ nhạy trong việc thẩm định dự án
s _ Trong một dựán sản xuất có nhiều thông số ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư như:
Don giá bán, sản lượng tiêu thụ, đơn giá mua NVL, tỷ giá USD, đơn giá nhân
công, chỉ phí gián tiếp, thuế suất, tỷ lệ hao hụt Chúng ta sẽ đánh giá mức độ
dao động hiệu quả dự án trong sự thay đổi giá trị có khả năng xảy ra của từng thông số, tuy nhiên việc đánh giá chúng ta sẽ bị hạn chế vì trong trường hợp này
chúng ta giả định các thông số khác không thay đổi
® _ Sau đây là một số đề nghị trong việc phân tích độ nhạy đối với những dự án đầu
tư SXKD thông thường:
©_ Mặc dù việc xem xét nhiều tình huống để có cái nhìn đầy đủ về hiệu
quả dự án là tốt, tuy nhiên không phải lúc nào có nhiều thông tin cũng
cần thiết, nếu chúng ta có quá nhiều kết quả từ vô số tình huống, thì việc đánh giá sẽ khó khăn Giả sử chúng ta chọn 6 thông số biến động, mỗi thông số có 5 giá trị thay đổi, thì chúng ta sẽ có bao nhiêu kết quả
từ những bộ thông số này? Do vậy lời khuyên đầu tiên là chúng ta không nên quá tham trong việc chọn các thông số ảnh hưởng đến dự
án Việc chọn và loại bỏ thông số có thể theo quy tắc sau:
© Những thông số mang tính chủ quan có thể kiểm soát được
bằng biện pháp quản lý như tỷ lệ hao hụt, chi phí quảng cáo,
chỉ phí gián tiếp thì chúng ta có thể bỏ qua không tính độ
nhạy, mà chọn một giá trị bình quân, sau khi đã cân nhắc nhiều mặt
LẬP & THẤM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 13MOT SO KiNH NGHIEM TRONG LAP_THAM ĐỊNH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHƯƠNG2 73
© Những thông số mang tính khách quan, có thể ngoài tầm
kiểm soát của chúng ta như giá bán, giá mua, sản lượng tiêu
thụ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường, tỷ giá hối đoái phụ thuộc chung vào tình hình chung của nền kinh tế thì chúng ta cần tính độ nhạy Tuy nhiên chúng ta nên thể hiện hai thông số trong bảng 2 chiều mà ứng với mỗi cặp giá trị sẽ có một kết quả của dự án Với cách trình bày này chúng ta dễ xem xét và đánh giá Trong bảng hai chiều này, chúng ta cũng đánh dấu những vùng có độ tin cậy cao nhất và những vùng có độ tin cậy thấp nhất, để dễ suy xét ra quyết định Một trong những bảng 2 chiều thông dụng nhất
là đơn giá bán và sản lượng tiêu thụ, bởi vì hai thông số này
ảnh hưởng mạnh nhất đến kết quả dự án
©_ Tuy nhiên, nếu chúng ta thấy cần tính độ nhạy của nhiều hơn hai thông số, thì chúng ta có thể biểu diễn qua nhiều bảng một chiều hoặc hai chiều, việc này thực hiện dễ dàng nhờ chức năng Table (một
chiều hoặc 2 chiều) và Scenarios (kịch bản) của Excel Kinh nghiệm
cho thấy sử dụng chức năng Table giúp cho bảng báo cáo dễ nhìn hơn, vấn đề này sẽ được đề cập kỹ trong phần sau Do vậy từ các thông
số đã chọn lựa, chúng ta tiến hành tích hợp từng cặp thông số lại để cuối cùng còn khoảng 2 biến số đại diện để biểu diễn trên bảng hai chiều, phương pháp tính bình quân này dựa trên các phương pháp của thống kê, để từ rất nhiều kết quả đưa về một số kết quả mang tính tin cậy nhất
©_ Tính độ nhạy không những đánh giá mức độ rủi ro trong trường hợp biến động, mà còn có thể giúp cho nhà đầu tư hoạch định chiến lược kinh doanh sắp tới Thí dụ khi xem xét biến động lợi nhuận theo sự biến đổi của sản lượng và giá bán, nếu một sự thay đổi nhỏ của giá bán dẫn tới thay đổi lớn về lợi nhuận, trong khi sự thay đổi sản lượng tiêu thụ không dẫn tới sự thay đổi lớn về lợi nhuận Điều này có nghĩa
là trong chiến lược kinh doanh, chúng ta không nên tìm kiếm lợi
nhuận bằng cách giảm giá bán để tăng sản lượng tiêu thụ, sẽ làm lợi nhuận sút giảm nghiêm trọng
©_ Hiện nay có nhiều người áp dụng Risk Master hoặc Cystal Boll là các
công cụ chạy trên nền Excel để tính độ nhạy theo các dự báo xác suất
Việc áp dụng này sẽ cho phép tạo ra nhiều kết quả từ nhiều bộ biến
số xuất hiện theo một hàm dự báo nào đó Tuy nhiên khi vận dụng nó,
sẽ gặp phải tình trạng giống như trường hợp đưa quá nhiều thông
số để tính độ nhạy, tạo ra quá nhiều kết quả gây khó khăn trong việc đánh giá, quyết định Do vậy, chỉ nên vận dụng các công cụ này trong trường hợp những dựán lớn, mang tính vĩ mô hơn là những dự án đầu
tư kinh doanh thông thường, có vốn đầu tư vừa phải
© Để giải quyết vấn đề các thông số độ nhạy, chúng ta có thể phân loại các dự án, ứng với mỗi loại dự án nó sẽ đặc biệt nhạy với một vài thông số và các bảng kết quả của chúng ta xây dựng chủ yếu trên độ nhạy các thông số này, điều đó sẽ cô đọng những bảng kết quả cần nhất cho nhận định Thí dụ:
Trang 14
74 animes CÁC KIẾN THỨC LIEN QUAN DEN DU ÁN ĐẦU TƯ
© Đối với các dự án công nghiệp mà thời gian xây dựng nhanh,
thiết bị lắp ráp và vận hành không phức tạp, thị trường tự do
thì độ nhạy về giá bán và sản lượng tiêu thụ là đặc biệt chú
trọng, bởi vì với các dự án loại này, các đối thủ có thể nhanh chóng và dễ dàng triển khai dự án cùng loại tạo ra sự cạnh
tranh mạnh làm giá cả và sản lượng tiêu thụ bị giảm
© Đối với các dự án mà việc tiêu thụ có tính độc quyền (như dự
án cấp nước sông Sài Gòn, dự án mở rộng đường Điện Biên
Phủ bằng nguồn thu phí giao thông) thì không cần tính quá nhiều chỉ số độ nhạy về giá cả, sản lượng Mà nên xét độ nhạy trong việc chọn các phương án đầu tư, độ nhạy về tỷ giá, về lãi suất cho vay để đạt hiệu quả nhất
3.5 Chọn NPV hay IRR là yếu tố quyết định
s Rõ ràng việc áp dụng cả hai phương pháp NPV và IRR trong việc thẩm định hiệu
quả tài chính của dự án là rất cần thiết, thế nhưng vấn đề ở chỗ số liệu nào đáng tin cậy hơn để đánh giá một dự án, và so sánh giữa các dự án với nhau Về mặt
khoa học NPV và IRR chỉ là hai góc nhìn của hiệu quả tài chính dự án NPV đưa ra
giá trị tuyệt đối (giống như tổng lợi nhuận), IRR đưa ra giá trị tương đối (giống như tỷ suất lợi nhuận), về mặt toán học, khi tỷ suất chiết khấu dùng để tính NPV bằng với IRR thì NPV bằng 0 Do vậy giá trị NPV còn phụ thuộc vào tỷ suất chiết khấu áp dụng, nếu chọn không khách quan, sẽ làm kết quả NPV thiếu tin cậy
s Một số nhận định khi tính NPV và IRR: Việc áp dụng tỷ số chiết khấu r để tính
NPV người ta thường dựa trên lãi suất ngân hàng + một tỷ lệ rủi ro Chính tỷ lệ rủi
ro này làm tỷ suất r không giống nhau ở các dự án, nếu r càng lớn thì NPV càng thấp và ngược lại Tuy nhiên r không thể thấp hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng vào thời điểm tính toán, đây là chỉ phí cơ hội thấp nhất trong sử dụng đồng vốn
Về tỷ lệ rủi ro, có thể vận dụng trong các trường hợp sau:
©_ Nếu kết hợp tính toán cả hai chỉ số NPV và IRR, chúng ta có thể cho r bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng để tính NPV Bởi vì nhà đầu tư có thể xem xét IRR để đo lường khả năng hấp dẫn của đầu tư so với rủi ro để quyết định, còn NPV là số tiền tăng thêm sau khi hoàn vốn với mức chiết khấu tính bằng với chỉ phí cơ hội hiện tại không tính đến yếu tố rủi ro Ưu điểm của cách tính này là NPV luôn được tính một cách nhất quán do r luôn được lấy bằng với lãi suất tiền gửi ngân hàng
© Trong trường hợp cần cho một tỷ lệ rủi ro vào r khi tính NPV để tăng
độ tin cậy của giá trị NPV, thì r sẽ lớn hơn lãi suất ngân hàng, nhưng cũng không nên đưa ra một giá trị quá lớn, thí dụ lãi suất ngân hàng là 10%, thì r không nên vượt quá 15% Nhưng r nên là bao nhiêu sẽ dựa trên kinh nghiệm của người tính toán tại thời điểm thích hợp Có một
số nguyên tắc để xác định r như sau:
© Tùy theo dự đoán viễn cảnh của nền kinh tế và mức độ lạm
phát, nếu dự đoán mức độ lạm phát sẽ tăng thì nên tăng r và ngược lại
© Tùy theo mức độ thu hồi vốn của những tài sản đầu tư, nếu
mức độ thu hồi vốn cao thì r sẽ thấp và ngược lại Theo quan
LẬP & THẤM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 15
MOT SO KINH NGHIEM TRONG LAP_THAM ĐỊNH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ |
niệm nay thi đầu tư vào các ngành bất động sản sẽ sử dụng
r thấp hơn các ngành sản xuất, và những ngành đầu tư sản phẩm mới sẽ có r cao nhất vì độ rủi ro của nó rất lớn
s Chọn lựa dựán dựa trên NPV và IRR: Về nguyên tắc một dự án có hiệu quả là dự
án có NPV > 0 hoặc lrr lớn hơn lãi suất ngân hàng Tuy nhiên tùy quan điểm và mục đích đầu tư mà chỉ số nào đáng được quan tâm hơn, đặc biệt khi nhà đầu
tư có trong tay nhiều dự án để chọn lựa Dưới đây là một số trường hợp sử dụng NPV và IRR để đánh giá hiệu quả đầu tư khi phải chọn lựa các dự án:
©_ Nếu nhà đầu tư có vốn dồi dào, tình hình đầu tư đang gặp khó khăn, thiếu dự án cần vốn thì dự án nào có NPV càng lớn sẽ được chọn Bởi
vì nhà đầu tư không có nhiều cơ hội để chọn lựa, và vốn đầu tư không phải là vấn để quan tâm
©_ Nếu một dự án được đánh giá có độ an toàn cao thì NPV càng lớn là
yếu tố bậc nhất để quyết định đầu tư Bởi vì nếu dự án có độ an toàn cao, nhà đầu tư sẽ không lo thiếu vốn do dễ dàng huy động
© _ Nếu Nhà đầu tư muốn sử dụng vốn mình một cách có hiệu quả nhất,
và nền kinh tế đang phát triển, có nhiều dự án tốt để đầu tư, thì dự án
nào có lrr lớn hơn sẽ được chọn Bởi vì khi đầu tư vào dự án có Irr lớn
hơn thì hiệu quả sử dụng đồng vốn sẽ cao hơn là đầu tư vào dự án có lrr thấp, tất nhiên đã loại trừ yếu tố rủi ro của các dự án so sánh
©_ Nếu Nhà đầu tư có vốn ít nhưng muốn mạo hiểm thu lợi nhiều và nguồn vốn tín dụng khá dồi dào, thì dự án nào có lrr lớn hơn sẽ được
chọn Bởi vì khi đầu tư vào dự án có Irr lớn, nhà đầu tư có thể sử dụng
đòn bẩy tín dụng vay vốn ngân hàng để mang lại nhiều lợi nhuận so với số vốn hạn chế của mình
Trên đây là một số trường hợp gặp phải khi quyết định đầu tư, qua đó thể hiện
việc quyết định, chọn lựa đầu tư không có một tiêu chí nhất định trong việc đánh
giá chọn lựa Tính toán NPV và Irr khong phải là vấn đề, nhất là với các hàm tài chính của Excel, thì kết quả tính toán hết sức nhanh chóng, dễ dàng Điều quan trọng là các nhà đầu tư sẽ đánh giá, quyết định như thế nào khi có những số liệu về NPV và Irr Quyết định đầu tư luôn luôn là quyết định khó khăn hàm chứa độ mạo hiểm và quyết đoán của nhà đầu tư, có như thế hiệu quả đầu tư đem lại mới trở thành phần thưởng xứng đáng cho những người dám kinh doanh và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh
3.6 Sơ đồ quy trình thẩm định dự án
Việc lập dự án hiện nay còn mang tính chủ quan của người lập dự án mà đôi khi cố
chứng minh hiệu quả dự án để được duyệt, hoặc được vay vốn Trong khi thẩm định phải đứng trên quan điểm khách quan để xét xem có quyết định đầu tư hay tài trợ cho dự án hay không Muốn thẩm định được tin cậy giúp cho việc quyết định về dự án một cách đúng đắn và chính xác, thì đầu tiên là xem xét các dữ liệu ban đầu có đáng tin cậy không, cách lập dự toán của dự án có hợp lý vận dụng phù hợp không, nếu không chuyên viên thẩm định phải lập lại dự toán với các độ nhạy một cách có
cơ sở Thực hiện việc này sẽ tốn rất nhiều công sức, gần như tái lập phương án tài chính dự án
TS.ĐINH THẾ HIỂN
CHƯƠNG 2 75
Trang 16
2 Kiểm tra do tin cay} Không Tin câ | 3 Xay dung cac thong "
các thông số quan trọng : —Í | quan trong trong dy an
Tin cậ
học và tính thực tiễn | Không Phù hợp Ăn ey vane “ ko, i
| a Phù hợp :
Đánh giá các bảng kết | Kết quả xấu lr:
Kết quả tốt
Xây dựng độ nhậy theo
các thông số chủ yếu trong các tình huống j
Trang 17
MOT SO KINH NGHIEM TRONG LAP_THAM BINH PHUONG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHƯƠNG 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUY TRÌNH - QUY CHE THAM DINH CUA QUY DAU
TU TAI CHINH
QUY BAU TU TAI CHINH VSGE
/ QUY CHE THAM DINH DU AN DAU TU
Trong quy chế này, những từ ngữ viết tắt được hiểu va bao ham ý nghĩa sau:
giá đối tượng xem xét dựa trên những tiêu chuẩn
được qui định, qua đó, nhằm rút ra được những kết luận chính xác phục vụ cho mục đích - yêu
cầu của công tác thẩm định
Dựán Bao gồm tất cả các loại: Báo cáo nghiên cứu tiền
khả thi - nghiên cứu khả thi của một công cuộc đầu tư, các phương án kinh doanh, các đề án chương trình mục tiêu, đề án thành lập doanh nghiệp các dự thảo chiến lược, kế hoạch trung,
dai han
Tai san Bao gồm bất động sản và động sản như đất đai,
nhà ở, nhà xưởng, máy móc thiết bị, ôtô, chứng chỉ có giá, chứng chỉ tiền gửi đính kèm các hồ
sơ chứng nhận kiểm định cũng như bảo hiểm tài sản, hồ sơ về nguồn gốc xuất xứ tài sản, hồ sơ chứng nhận người/tổ chức sở hữu tài sản v.v
TS.ĐINH THẾ HIỂN
77
Trang 18
CÁC KIEN THUC LIEN QUAN DEN DU AN DAU TU
Chủ đầu tư Những tổ chức làm chủ đầu tư các dự án đã được
QDT tai trợ hoặc đang đưa ra lời đề nghị QĐT tài trợ hoặc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ của QĐT - kể
cả các Phòng ban, đơn vị trực thuộc QĐT đệ trình
dự án sử dụng vốn của QĐT hay sử dụng các sản phẩm công việc của các Phòng, ban khác
ĐIỀU 1: MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH
1.1 Mục đích thẩm định là nhằm cung cấp những luận cứ (sản phẩm hoàn thiện)
để Tổng Giám đốc hoặc Hội Đồng Đầu Tư sử dụng khi cần đưa ra các quyết
định, các nhận định hoặc xử lý thích hợp và an toàn về những đề nghị liên
quan đến cơ hội đầu tư, cụ thể:
1 Để ra quyết định đầu tư dưới các hình thức: Cho vay, đầu tư
trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp
2 Để phản biện, tư vấn cho các nhà đầu tu hoàn thiện các điều
kiện đầu tư, chọn lựa các cơ hội đầu tư
12 Công tác thẩm định phải tuân thủ các yêu cầu:
1 Phù hợp với pháp luật, chủ trương, chính sách, chuẩn mực
kinh tế kỹ thuật hiện hành của Nhà nước, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của VSGPF, của chủ đầu tư và của Nhà nước;
2 Tuân thủ Điều lệ tổ chức và hoạt động của VSGF, cụ thể là các
quy định, quy chế của VSGF đã thể hiện trong mục các căn cứ
pháp lý;
3 Độc lập trong thẩm định và không bị chi phối hay bị can
thiệp bởi bất cứ cá nhân hay bộ phận nào Người thẩm định
phải giữ tính độc lập, khách quan, trung thực, nêu cao ý thức
trách nhiệm, tinh thần hợp tác, chính xác, toàn diện;
4 Phương pháp thẩm định rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng ;
phù hợp với đối tượng thẩm định;
5: Phát hiện, làm rõ những mặt hạn chế, không chính xác,
không đầy đủ, cũng như các rủi ro tiểm ẩn của dự án
6 Thực hiện công tác thẩm định kịp thời, đúng tiến độ theo yêu
cầu, bảo đảm cho nhà đầu tư không bị mất cơ hội đầu tư;
ĐIỀU 2: ĐỐI TƯỢNG THẨM ĐỊNH
Thẩm định dự án đầu tư thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư bất động sản và
hạ tầng mà VSGF tham gia đầu tư dưới hình thức góp vốn với chủ đầu tư hoặc mua
LẬP & THẤM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 19
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG LẬP THẦM ĐỊNH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHƯƠNG2 79
cổ phần của chủ đầu tư để triễn khai dự án
DIEU 3: CÁC ĐIỀU KIỆN THẨM ĐỊNH
3.15 Đối với dự án:
1 Đã hoàn chỉnh các nội dung của một báo cáo nghiên cứu kha thi;
2 Có khả năng thu hồi vốn và hoàn trả nợ vay trong thời gian
quy định;
By Có hiệu quả tài chính - kinh tế - xã hội thiết thực
3.2 Đối với chủ đầu tu:
1 Chủ đầu tư phải là một tổ chức kinh tế - xã hội, có đủ tư cách
pháp nhân, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;
2, Nếu chủ đầu tư là một tổ chức kinh tế kinh doanh sản xuất
thuần túy thì tình hình tài chính phải rõ ràng và lành mạnh;
3 Chủ đầu tư cần phải đáp ứng được các quy định chung về tài
sản bảo đảm nợ vay trong trường hợp VSGF có tài trợ tín dụng
Phẩnll: NHUNG QUY DINH CU THE
DIEU 4: NOI DUNG THAM DINH
41 Đối với dự án:
Tùy theo tính chất dự án, thực hiện một phần hoặc toàn bộ các nội dung sau đây
theo yêu cầu:
Phân tích đánh giá về cơ sở pháp lý của dự án;
b Phân tích đánh giá về nhu cầu và tính cấp thiết đầu tư của dựán
c Phân tích đánh giá về kỹ thuật - công nghệ máy móc thiết bị, chất lượng sản phẩm, giá thành, khả năng cạnh tranh, thị trường (đầu vào, đầu ra) của sản phẩm;
d.- Phân tích đánh giá về phương án tài chính, nguồn thu dự án, khả năng hoàn trả nợ vay và khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự án, các nguồn thu khác của doanh nghiệp chủ đầu tư (nếu có);
e Phan tích đánh giá về tính hiệu quả tài chính - kinh tế - xã hội của dự an;
f Phân tích về các yếu tố rủi ro tiềm ẩn đối với dự án;
4.2 Đối với chủ đầu tư:
1, Thẩm định năng lực pháp lý của chủ đầu tư;
Trang 20
80 PHAN 1 CÁC KIẾN THỨC LIÊN QUAN.ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2 Thẩm định năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của chủ
đầu tư;
3 Thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư
ĐIỀU 5: NỘI DUNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ
Nội dung tiêu chuẩn đánh giá và kết luận khi thẩm định phải được dựa trên các
chuẩn mực quy định và các phương pháp đánh giá khoa học (đính kèm phụ lục Nội
dung các tiêu chí thẩm định)
DIEU 6: HO SOTHAM ĐỊNH
6.1 Đối với dự án:
Hồ sơ thẩm định dự án đầu tư gồm có:
— _ Quyết định phê duyệt dự án đầu tư của cấp có thẩm quyền;
— _ Báo cáo nghiên cứu khả thi (hoặc một hình thức báo cáo khác mà Nhà nước cho phép);
— _ Các văn bản có giá trị pháp lý liên quan đến dự án (nếu có): liên quan
đến quy hoạch, vị trí thực hiện dự án; liên quan đến ô nhiễm môi trường; liên quan đến việc xác định cơ cấu nguồn vốn đầu tư, khả năng huy động vốn, khả năng tiếp cận nguồn cung ứng vật tư nguyên vật liệu, khả năng tiêu thụ sản phẩm để đạt doanh thu theo dự báo
—_ Các văn bản chính thức khác của chủ đầu tư về các tài liệu liên quan
đến dự án và chủ đầu tư
6.2 Đối với doanh nghiệp
Hồ sơ thẩm định hiệu quả hoạt động doanh nghiệp gồm có:
—_ Quyết định hoặc Giấy phép thành lập doanh nghiệp của chủ đầu tư
dự án hay các văn bản có giá trị pháp lý xác nhận tư cách pháp nhân
của chủ đầu tư;
— Các báo cáo tài chính 2, 3 năm liên tục trước khi đầu tư của doanh nghiệp;
—_ Các văn bản chính thức khác của chủ đầu tư về các tài liệu liên quan
đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
DIEU 7: CO CHE THAM ĐỊNH
7.1 Báo cáo thẩm định
a Các CV.TĐ tiến hành thẩm định và lập báo cáo thẩm định;
b Chuyển báo cáo thẩm định được thông qua Trưởng Phòng ĐT đến Tổng Giám đốc theo thời gian quy định;
e Trong trường hợp TGĐ cần tổ chức thẩm định sẽ chuyển báo cáo thẩm định đến các thành viên HĐĐT theo thời gian quy định;
d Tổ chức cuộc họp thẩm định (hoặc tái thẩm định);
LẬP & THẤM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Trang 21
1
MOT SO KINH NGHIEM TRONG LAP_THAM.DINH PHƯƠNG ÁN TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ |
Cung cấp thêm tài liệu và giải đáp, thuyết minh những nội dung mà
các thành viên HĐĐT có nhu cầu tìm hiểu thêm trong quá trình chuẩn
bị tham dự cuộc họp thẩm định
Nhiệm vụ và trách nhiệm của Hội đồng Đầu Tư trong việc thẩm định dự án
1, HĐĐT có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất những ý kiến mang
tính chất đánh giá toàn diện về nội dung thẩm định cụ thể
~ kể cả về tài sản bảo đảm nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư
~ để cấp có thẩm quyền (TGĐ/HĐOT) ra quyết định đầu tư
2: HĐĐT và từng thành viên HĐĐT có trách nhiệm:
© Đưa ra những thông tin, chứng cứ, quan điểm, phương pháp
tiếp cận, phương pháp tính toán làm cơ sở cho những ý
kiến nhận định, đánh giá theo các nội dung tiêu chuẩn của
VSGF đã ban hành;
© Những ý kiến của thành viên HĐĐT phải cụ thể, rõ ràng, dứt khoát: chấp thuận hoặc không chấp thuận đầu tư, hoặc cần
bổ sung hoàn chỉnh để tái thẩm định; Trong trường hợp vắng
mặt do bận công tác, thành viên HĐTĐ phải có ý kiến bằng
văn bản thay thế;
©_ Những ý kiến của từng thành viên HĐĐT có tính chất tham
khảo, độc lập được thể hiện trong biên bản họp của buổi họp
HĐTĐ; ý kiến của các thành viên HĐTĐ là cơ sở tham khảo để TGĐ/HĐOQL ra quyết định về việc đầu tư hay không đầu tư
Trong trường hợp cần thiết, có mời chuyên gia (trong hoặc ngoài VSGF) giữ vai trò tư vấn phản biện (cho những trường hợp đặc thù khi có yêu cầu)
ĐIỀU 8: THỜI GIAN VÀ HIỆU LỰC THẤM ĐỊNH
8.1
82
Đối với dự án:
1 Tùy tính chất phức tạp và quy mô của từng dự án, thời gian
thẩm định từ 10 đến 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trường hợp đặc biệt, thời gian thẩm định có thể kéo
dài thêm nhưng không quá 25 ngày làm việc;
2 Thời gian hiệu lực của thẩm định dự án là 12 tháng kể từ khi
báo cáo thẩm định được Hội Đồng Đầu Tư thông qua;
3: Tái Thẩm định dự án: Trường hợp quá 12 tháng sau ngày
thông báo kết quả thẩm định, dự án mới thực hiện việc ký kết Hợp đồng tín dụng, thì dự án phải được HĐĐT thẩm định lại trước khi thực hiện tài trợ hay đầu tư dự án
Đối với hoạt động doanh nghiệp
Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, thời gian thẩm định hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp là 7 đến 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trường hợp
đặc biệt, thời gian thẩm định có thể kéo dài thêm nhưng không quá 15 ngày làm