BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG ĐÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần Lị.
Trang 2MỤC LỤC
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tư tưởng quản lý kinh tế của Hồ Chí Minh là một hệ thống, quan điểm,toàn diện và sâu sắc về những vấn đề kinh tế cơ bản trong sự nghiệp cáchmạng của Việt Nam Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng bước giải quyết những vấn đề kinh tế hết sức cơ bản, đặt nền móngcho nền kinh tế độc lập tự chủ, phát triển kinh tế phục vụ cho kháng chiến vàkiến quốc
Có thể thấy tư tưởng quản lý kinh tế của Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá
độ gồm rất nhiều vấn đề như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc điểm, mục tiêu
và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ; tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu ngành kinh
tế, về thành phần kinh tế; tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao năng suất laođộng, về nguyên tắc phân phối trong thời kỳ quá độ; tư tưởng Hồ Chí Minh
về quản lý kinh tế…
Hệ thống nền kinh tế quốc dân với mức lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất tương ứng là nền tảng của chế độ xã hội Chế độ kinh tế mới ở nước tagắn liền với một chế độ chính trị phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhândân vì một xã hôi dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh;đồng thời cũng là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta Nền kinh tếquốc dân với tư cách là đối tượng quản lý của một hệ thống phân công, hợptác lao độngtreen quy mô toàn xã hội, được đặc trưng bởi hai yếu tố cơ bản là
cơ cấu kinh tế và cơ cấu quản lý kinh tế Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã quan tâm đến việc lựa chọn mô hình, cơ cấu của nền kinh tế quốc dântrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Vì vậy, em chọn đề tài:
Trang 52 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống lại các kiến thức đã được học về môn Lịch sử tư tưởng quảnlý
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng quản lý nền kinh tế Việt Nam trongnhững năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trong quản lýkinh tế ở Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về Lịch sử tư tưởng quản lý trong đó tập trungvào nội dung của tư tưởng quản lý kinh tế Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu thực trạng quản lý kinh tế Việt Nam trong những năm gầmđây
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề trong quản lýkinh tế ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng quản lý kinh tế Hồ Chí Minh và giá trị của tư tưởng đó đối vớiViệt Nam trong thời đại ngày nay
1 Khái quát về lịch sử tư tưởng quản lý
2 Tư tưởng quản lý kinh tế của Hồ Chí Minh
Trang 63 Giá trị của tư tưởng quản lý kinh tế Hồ Chí Minh đối với Việt Namtrong thời đại ngày nay
4 Một số giải pháp giúp cải thiện tình hình quản lý doanh nghiệp ở ViệtNam
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ
1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA TRƯỜNG PHÁI QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÀ THÍCH NGHI
1.1 Khái quát về lịch sử tư tưởng quản lý
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm “Quản lý”
Quản lý được tiếp cận từ nhiều góc độ nên có nhiều cách hiểu khácnhau
Về bản chất, quản lý là quá trình làm việc với hoặc thông qua những người khác nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả nhất
Ở mỗi cấp, mỗi dạng thì quản lý đều có những đặc điểm, nhiệm vụ vàphương thức đặc thù Hoạt động quản lý là thực thi các chức năng với nhữngcông cụ đặc trưng và phương pháp phù hợp
Quản lý là một dạng hoạt động thực tiễn, là hoạt động mang tính loài,
ra đời rất sớm Quản lý xuất hiện khi có sự hợp tác trong hoạt động của ítnhất hai người trở lên
1.1.1.2 Khái niệm “Tư tưởng quản lý”
Tư tưởng quản lý xuất hiện khi có sự phân công lao động giữa laođộng trí óc và lao động chân tay
- Học thuyết quản lý là các tư tưởng quản lý phản ảnh được thực tiễn quản lý một cách hệ thống, trọn vẹn và được sắp xếp một cách logic.
- Việc nhận diện các tư tưởng quản lý từ:
Trang 8+ Nguồn tư liệu thông thường: bài phát biểu, chuyên luận, tác phẩmcủa các tác giả
+ Nguồn tư liệu thực tiễn hoạt động của con người
1.1.1.3 Khái niệm lich sử tư tưởng quản lý
- Với tính cách là một quá trình hiện thực, lịch sử tư tưởng quản lý làquá trình hình thành và phát triển của các tư tưởng, học thuyết quản lý trongtiến trình lịch sử
Với tính cách là một khoa học, lịch sử tư tưởng quản lý dựng lại
những logic cơ bản nhất mang tính quy luật của sự sinh thành, kế thừa và pháttriển của các tư tưởng, học thuyết quản lý trong lịch sử Đó là hiện thực lịch
sử được trừu tượng hóa, khái quát hóa để gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên,không bản chất, giữ lại cái logic của sự hình thành và phát triển
1.1.2 Đặc điểm của lịch sử tư tưởng quản lý
Thứ nhất, phản ánh sự vận động khách quan của các tư tưởng, trường
phái quản lý trong lịch sử bằng cách chỉ ra sự tác động của điều kiện kinh tế
-xã hội lên các tư tưởng, trường phái đó trong từng giai đoạn nhất định, phảnánh đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Thứ hai, lịch sử tư tưởng quản lý là một khoa học có tính liên ngành, sử
dụng hệ thống tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau (chính trị, kinh tế,triết học, tôn giáo…)
Thứ ba, lịch sử tư tưởng quản lý đặc biệt quan tâm đến con người trong
các thời đại khác nhau, nhằm phát huy tính hiệu quả của con người
Thứ tư, lịch sử tư tưởng quản lý không đi vào mô tả sự kiện, mà khái
quát những nội dung quản lý để chỉ ra tính lô gic cũng như xu hướng vậnđộng của các tư tưởng quản lý trong một thời đại nhất định
Trang 91.1.3 Nội dung của lịch sử tư tưởng quản lý
Trước hết ở phương Đông thời kỳ cổ-trung đại với các tư tưởng về Đứctrị - Nho giáo của Khổng Tử, tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi tử và tư tưởngquản lý theo Phật giáo ở Ấn Độ
Đến giai đoạn phương Tây thời kỳ cổ- trung đại với Tư tưởng quản lýcủa Đêmôcrit, Platon, Aristot S.Ôguytxtanh, T Đa-canh
Bước sang thời kỳ cận – hiện đại của Tây Âu với sự ra đời của cáctrường phái quản lý theo khoa học, hành chính, tổ chức, hành vi, tổng hợp vàthích nghi,…đã có những dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của lịch sử
tư tưởng quản lý
Cuối cùng đó là tư tưởng quản lý của C.Mác, Lê nin và Hồ Chí Minh,
đó là những tư tưởng có giá trị đối và đưa nhân loại bước sang một trang mới
1.1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng quản lý
Cung cấp cho các nhà nghiên cứu lý luận về quản lý cũng như nhữngngười làm công tác thực tiễn quản lý có được một kiến thức nền tảng về quản
lý, nhằm hiểu được một cách cặn kẽ và có hệ thống về Khoa học quản lý hiện
đại
Cung cấp cho chúng ta phương pháp luận sáng tạo trong quản lý: Quyluật hình thành, phát sinh và phát triển của các tư tưởng quản lý trong lịch sử.Giúp chúng ta có nhận thức và suy nghĩ linh hoạt hơn trong việc ứng xử vớinhững vấn đề thực tiễn quản lý sinh động
2 TƯ TƯỞNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA HỒ CHÍ MINH
2.1 Tư tưởng quản lý kinh tế của Hồ Chí Minh
2.1.1 Quan điểm về quản lý kinh tế và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế
*Quan điểm của HCM về quản lý kinh tế
Trang 10Quản lý kinh tế là một nội dung quan trọng trong tư tưởng kinh tế HCM.Những quan điểm của Người về quản lý kinh tế có từ khá sớm, mang tínhsáng tạo và có nội dung tổng kết sâu sắc.
Ngày 1-1-1953, khi nước ta còn đang ở trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp, trong phòng họp Hội đồng Chính phủ, HCM đã nói: “Quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, phải có lãi” Đồng thời, Người cũng nói: “Quản lý xí nghiệp nhằm mục đích xây dựng XHCN Muốn xây dựng XHCN, phải tăng gia sản xuất và thực hành tiếp kiệm Muốn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì phải quản lý tốt Muốn quản lý tốt thì cán bộ
và công nhân phải thông suốt tư tưởng, phải có thái độ làm chủ nước nhà, làm chủ xí nghiệp Muốn quản lý tốt phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phải làm đến nơi đến chốn, làm tốt, vượt mọi khó khăn Phải thực hiện cán bộ tham gia lao động, công nhân tham gia quản lý” Đó là quan điểm mang tính
cách mạng và thực tiễn của Người khi chỉ ra vai trò của và tầm quan trọngquản lý kinh tế đối với sự phát triển của một quốc gia
HCM yêu cầu trong công tác quản lý kinh tế thì phải đặt ra những
chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện Người cho rằng: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần Có như thế mới chắc chắn hoàn thành tốt kế hoạch” Đồng thời, HCM cũng yêu cầu: “Khi đặt kế hoạch phải nhìn xa Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn Phải thấy rộng Có thấy rộng mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với mỗi cơ sở”.
Theo HCM: “Kế hoạch sản xuất không định theo cách quan liêu, mà phải liên hệ chặt chẽ với tình hình kinh tế, với nguồn của cải, với sự tính toán
rõ rệt sức hậu bị của ta Kế hoạch không nên tụt lại sau, nhưng cũng không
Trang 11nên chạy quá trước sự phát triển của công nghệ, không nên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức hậu bị của ta”.
Trong hoạt động quản lý kinh tế HCM còn yêu cầu cán bộ phải dân chủ,công bằng, minh bạch Phải chí công vô tư và phải tài chính công khai Tàichính công khai là vấn đề luôn được Người đặt ra khi bàn về quản lý kinh tế ởnước ta và là một vấn đề trọng tâm của phong trào cải tiến quản lý, cải tiến kỹthuật do Người phát động trong những năm đầu xây dựng XHCN ở miền Bắc.Suy cho cùng, mọi nguyên nhân lãng phí, tham ô là bắt nguồn từ việc khôngthực hành dân chủ trong quản lý mà biểu hiện cụ thể là không công khai,minh bạch về tài chính
*Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế
HCM cho rằng, để có một nền kinh tế phát triển thì cần phải có một độingũ cán bộ quản lý kinh tế đủ đức, đủ tài Cán bộ quản lý phải thật sự cần,kiệm, liêm, chính; phải thật sự chống bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí ; phảikhéo đoàn kết và lãnh đạo công nhân; mọi việc đều phải dựa vào lòng nồngnàn yêu nước và năng lực sáng tạo dồi dào của công nhân; dùng phương phápdân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm Theo HCM,cán bộ quản lý kinh tế phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
Thứ nhất, đối với tự mình, người cán bộ quản lý kinh tế phải có đạo đức;
phải có những phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư Đồngthời, phải chống những căn bệnh do chủ nghĩa cá nhân sinh ra trong quá trìnhlàm việc như: quan liêu, tham ô, lãng phí
Thứ hai, đối với công việc, cán bộ quản lý kinh tế phải có phương pháp,
phải có tinh thần đoàn kết, phải dựa vào dân và phải dân chủ trong lãnh đạohoạt động kinh tế Trong hoạt động quản lý kinh tế, HCM yêu cầu phải đặcbiệt đề cao vấn đề dân chủ, phải thực hành dân biết, dân bàn, dân kiểm tratrong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả lao động, chống tham ô, lãng
Trang 12phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm trong sản xuất, nâng cao năng lực của cảngười quản lý và người lao động trong sản xuất và quản lý kinh tế.
Cùng với phát huy dân chủ trong quản lý kinh tế, HCM cũng yêu cầuphải chống và loại trừ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu Theo HCM, tham ô là
trộm cướp, và “Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ Có khi tai hại hơn nạn tham ô” Từ
đó, HCM cũng chỉ ra căn nguyên của nạn lãng phí và tham ô, đó “là do bệnh quan liêu, mệnh lệnh trong công tác của các cấp lãnh đạo ở các cơ quan nhà nước gây ra” Những biểu hiện: xa nhân dân; khinh nhân dân; sợ nhân dân;
không tin cậy nhân dân; không hiểu biết nhân dân; không yêu thương nhândân của bệnh quan liêu không chỉ xa lạ với chuẩn mực đạo đức người cán bộ,
mà còn trái ngược với trách nhiệm người được nhân dân ủy quyền thực thiquyền lực của nhân dân
HCM cho rằng kiên quyết chống quan liêu không những loại bỏ cănnguyên của lực lượng cản trở và phá hoại đối với quá trình tiến lên XHCN ở
nước ta mà còn có tác dụng rất lớn, “giúp cơ quan nhà nước cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ, góp phần củng cố bộ máy nhà nước”.
Khẳng định tầm quan trọng của nhiệm vụ này, Người đã trực tiếp phát độngphong trào chống quan liêu, tham ô, lãng phí và cho rằng thực hiện tốt nhiệm
vụ này còn có hai ý nghĩa quan trọng:
Một là, nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần
làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hànhtiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân
Hai là, “nó giúp cho cán bộ và Đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm”.
Trang 13Với những ý nghĩa đó, HCM khẳng định: Chống tham ô, quan liêu, lãngphí là dân chủ; và muốn chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu thì phải dânchủ.
Trong hoạt động quản lý kinh tế vai trò của đội ngũ cán bộ tạo sự chuyển
biến lớn cho phát triển đúng như Chủ tịch HCM khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém” Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tốt là trách nhiệm của
Đ&NN và toàn thể nhân dân trong sự nghiệp cách mạng XHCN
2.1.2 Các nguyên tắc quản lý kinh tế
Trong hoạt động quản lý kinh tế, HCM đã nhấn mạnh đến một số nguyêntắc sau:
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế, nhân dân thể hiệnquyền làm chủ của mình trước hết trên lĩnh vực kinh tế Ở đó, người lao độngđược tham gia quản lý mà trước hết ở khâu đầu của quá trình sản xuất là xâydựng kế hoạch HCM chỉ ra những căn cứ để xác định kế hoạch đầu tư, pháttriển kinh tế đất nước cũng như của mỗi đơn vị sản xuất; đó chính là: Vốn,trình độ công nghệ, mục tiêu, thị trường, nguồn dự trữ thực tế của đất nước,của đơn vị sản xuất
HCM còn cho rằng: Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạchdân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên; nghĩa là chính phủtrung ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương căn cứ theo kế hoạchtoàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương mình Từ đó, mỗi ngành,mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình ăn khớp với kế hoạchchung
Trong kế hoạch cụ thể của đơn vị sản xuất, Người nhắc: phải bàn bạcdân chủ và phải tính toán cho công bằng, hợp lý
Trang 14Nguyên tắc phân phối công bằng bình đẳng, kết hợp hài hòa các lợi ích.HCM đưa ra hai tiền đề sau làm cơ sở cho sự xuất phát nguyên tắc phân phốibình đẳng, kết hợp hài hòa các lợi ích:
Thứ nhất, “từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản
lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”
Thứ hai, khẳng định “một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động”
HCM khẳng định: XHCN là công bằng, hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều,làm ít hưởng ít, không làm không hưởng - những người già yếu tàn tật sẽđược Nhà nước giúp đỡ, chăm nom Như vậy, phân phối theo lao động trướchết căn cứ vào sự đóng góp sức lao động của người sản xuất để làm thước đophân phối kết quả kinh doanh, hình thành thu nhập cá nhân cho người laođộng Phân phối theo lao động là căn cứ vào tính chất, đặc điểm, điều kiện vàmôi trường lao động,căn cứ vào số lượng, chất lượng và kết quả đóng góp củamỗi người vào thành quả chung của tập thể
Tác dụng của phân phối theo lao động được thể hiện rõ rệt trong chế độlàm khoán của XHCN Trên cơ sở những nguyên tắc phân phối XHCN, HCMcoi chế độ làm khoán là một điều kiện của XHCN Chế độ làm khoán khuyến
khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ, vì “làm khoán
là ích chung và lợi riêng”.
Các nguyên tắc khác cùng tham gia vào quá trình quản lý kinh tế như:Nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp và hình thức, nguyên tắc kếthợp giữa toàn diện với chú ý những khâu then chốt và nguyên tắc hiệu quả.Trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệpđổi mới đất nước, Đảng chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phầnđịnh hướng XHCN, thực hiện nhiều hình thức phân phối Tuy vậy, Đảng vẫn