1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập NHỎ môn LỊCH sử ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG bước HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG dân tộc (1930 1945)

27 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 375,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH  BÀI TẬP NHỎ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 1945) LỚP L0.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH



BÀI TẬP NHỎ MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI

CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 -1945)

LỚP L02 - NHÓM 14 - HK 221

NGÀY NỘP 30/09/2022 Giảng viên hướng dẫn: GVC.TS Đào Thị Bích Hồng

Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA

TỪNG THÀNH VIÊN

3 Nguyễn Thị Duyên Ngọc 2013895 Phần II mục 2, phần tiểu kết 100%

5 Nguyễn Hoàng Nguyên 2013921 Phần III mục 3, 4, mục tiểu

Nhóm trưởng

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN NỘI DUNG 1

I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM (1930-1935) 1

1 Luận cương chính trị (10/1930) 1

1.1 Bối cảnh lịch sử 1

1.2 Chủ trương của Đảng 1

a Nhiệm vụ cách mạng 1

b Lực lượng cách mạng 2

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 2

d Nhận xét 3

2 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I (03/1935) 3

2.1 Bối cảnh lịch sử 3

2.2 Chủ trương của Đảng 4

a Nhiệm vụ cách mạng 4

b Lực lượng cách mạng 5

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 5

d Nhận xét 5

TIỂU KẾT GIAI ĐOẠN 1930 - 1935 6

II CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM (1936-1939) 7

1 Chủ trương đấu tranh giành quyền dân chủ dân sinh (7/1936) 7

1.1 Bối cảnh lịch sử 7

1.2 Chủ trương của Đảng 7

a Nhiệm vụ cách mạng 7

b Lực lượng cách mạng 8

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 8

d Nhận xét 8

2 Chung quanh vấn đề về chính sách mới (10/1936) 9

2.1 Bối cảnh lịch sử 9

2.2 Chủ trương của Đảng 9

a Nhiệm vụ cách mạng 9

b Lực lượng cách mạng 9

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 9

d Nhận xét 10

Trang 4

TIỀU KẾT GIAI ĐOẠN 1936 - 1939 11

III CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM (1939-1945) 13

1 Bối cảnh lịch sử……….13

2 Hội nghị trung ương Đảng toàn quốc lần thứ VI (11/1939) 13

2.1 Chủ trương của Đảng 13

a Nhiệm vụ cách mạng 13

b Lực lượng cách mạng 14

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 14

2.2 Nhận xét 14

3 Hội nghị trung ương Đảng toàn quốc lần thứ 7 (11/1940) 14

3.1 Chủ trương của Đảng 15

a Nhiệm vụ cách mạng 15

b Lực lượng cách mạng 16

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 16

3.2 Nhận xét 16

4 Hội nghị trung ương Đảng toàn quốc lần thứ 8 (5/1941) 16

4.1 Chủ trương của Đảng 16

a Nhiệm vụ cách mạng 16

b Lực lượng cách mạng 17

c Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc 18

4.2 Nhận xét 18

TIỀU KẾT GIAI ĐOẠN 1939 – 1945 19

TỔNG KẾT 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 5

Từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị thông qua Nghị quyết "Về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng" và Điều lệ Đảng, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời thảo luận bản Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương Trong đó, Luận cương xác định rõ mâu thuẫn giai cấp diễn ra ngày càng gay gắt ở Việt Nam, Lào và Cao Miên là giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong

kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa Pháp

1.2 Chủ trương của Đảng

Trước mâu thuẫn gay gắt mà Luận cương của Đảng đã nêu ra, Đảng xác định rõ phương hướng chiến lược của cách mạng đó là một cuộc cách mạng tư sản dân quyển mang tính chất thổ địa và phản đế với mục tiêu sau khi cuộc cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ bỏ qua thời kỳ tư bản mà đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng cũng đồng thời khẳng định nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng đó là đánh đổ phong kiến để thực hiện cách mạng ruộng đất và đánh đổ đế quốc Pháp để tiến tới một Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến có quan hệ mật thiết với nhau trong việc giải phóng đất nước Xã hội Việt Nam lúc này là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, trong đó công nhân, nông dân có mâu thuẫn với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết Trước tình hình đó chúng ta đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt

Trang 6

và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc nên được đặt ở vị trí hàng đầu

Đoàn kết công nhân, nông dân đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo Bởi vì đây là giai cấp có lực lượng đông đảo và có tinh thần cách mạng triệt để nhất Họ cũng có mâu thuẫn gay gắt nhất đối với đế quốc vì họ bị bóc lột nặng

nề và không còn gì để mất

Đảng cũng xác định rằng chỉ có các phần tử lao khổ ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới thật sự đi theo cách mạng mà bỏ qua các giai cấp khác như tư sản thương nghiệp, công nghiệp

và các giai cấp tiểu tư sản khác Điều này có thể được xem là một thiếu sót của Luận cương chính trị khi Đảng đã xác định không đúng tình hình xã hội Đông Dương hiện tại dẫn đến việc bỏ qua một số thành phần tư sản, tiểu tư sản, trí thức hay một bộ phận địa chủ yêu nước sẵn sàng cống hiến cho cuộc cách mạng

Thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương để lãnh đạo nhân dân ba nước Đông Dương chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp Đây được xem như đầu não giúp cho nhân dân toàn Đông Dương dễ dàng đoàn kết hợp lực chống lại đế quốc

Tuy nhiên, việc xác định phạm vi giải quyết vấn đề trên toàn Đông Dương đã dẫn đến nhiều hạn chế trong quá trình vận hành Đảng Cộng sản Sự khác biệt về tình hình kinh tế, chính trị, bản sắc dân tộc giữa ba nước Đông Dương Việt Nam, Lào, Cao Miên

đã dẫn đến nhiều sự xung đột trong việc quyết định các chính sách, chủ trương do đó

Trang 7

Luận cương xác định rõ nhiệm vụ của cách mạng đó là đánh đổ phong kiến để thực hiện cuộc cách mạng về ruộng đất triệt để cùng với đó là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp để tiến đến một Đông Dương hoàn toàn độc lập Trong đó, đề cao vấn đề thổ địa cách mạng là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền Đồng thời Luận cương còn xác định được lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, đây là nguồn lực quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng

Hạn chế:

Hạn chế lớn nhất của Luận cương chính trị 10/1930 là chưa vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không nêu cao được vấn đề dân tộc lên hàng đầu mà nặng về vấn đề đấu tranh giai cấp, chưa xác định được mâu thuẫn dân tộc hay mâu thuẫn giai cấp là chủ yếu, kẻ thù nào là chủ yếu

Đảng nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến nhưng lại đề cao nhiệm vụ chống phong kiến lên hàng đầu trong khi mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến không thực sự sâu sắc

Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, trung và tiểu địa chủ,… và khả năng liên minh với giai cấp tư sản dân tộc; không thấy được khả năng phân hóa và lôi kéo một bộ phận giai cấp địa chủ trong cách mạng giải phóng dân tộc Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc trên toàn Đông Dương là không hợp lý khi cả

ba nước có nền kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau và đều có các vấn đề riêng cần giải quyết

2.1 Bối cảnh lịch sử

Trang 8

4

Trên thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tiếp tục phát triển có lợi cho cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa Những thành tựu to lớn về mọi mặt của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có tác động to lớn tới phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa Các nước tư bản chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc

Ở Đông Dương, sau các cuộc khủng bố trắng phong trào cách mạng đang ở thời

kỳ thoái trào và có dấu hiệu hồi phục Các tầng lớp nhân dân ở thành thị và nông thôn

đã tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức như bãi khoá của học sinh, bãi thị của thương nhân, biểu tình chống thuế của nông dân Trên cơ sở phong trào cách mạng đã được phục hồi và sự chuẩn bị trước đó, từ ngày 28 đến 31/03/1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng với 13 đại biểu tham dự đã họp tại Ma Cao (Trung Quốc) nhằm xác định đường lối cho thời kỳ đấu tranh mới khi Đảng đã phục hồi

2.2 Chủ trương của Đảng

Đại hội nêu ra 3 nhiệm vụ chính:

Củng cố và phát triển Đảng, tăng cường phát triển lực lượng Đảng vào các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, đường giao thông quan trọng biến mỗi xí nghiệp thành một

cơ sở vững chắc của Đảng; đồng thời phải đưa nông dân lao động và trí thức cách mạng

đã trải qua thử thách vào Đảng Phải chăm lo tăng cường các đảng viên ưu tú xuất thân

từ công nhân vào các cơ quan lãnh đạo của đảng Để đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng

và hành động, các cán bộ cần tăng cường phê bình và tự phê bình, đấu tranh trên cả 2 mặt chống “tả” khuynh và hữu khuynh, giữ vững kỷ luật của Đảng

Đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng “Đảng mạnh là căn cứ vào ảnh hưởng và thế lực của Đảng trong quần chúng… muốn đưa cao trào cách mạng mới lên tới trình độ cao, tới toàn quốc vũ trang bạo động, đánh đổ đế quốc phong kiến, lập nên chính quyền Xôviết, thì trước hết cần phải thu phục quảng đại quần chúng Thâu phục quảng đại quần chúng là một nhiệm vụ trung tâm, căn bản, cần kíp của Đảng hiện thời.”1

Mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô, thành trì của cách mạng thế giới và ủng hộ cách mạng Trung Quốc

1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Tập 5, trang 26

Trang 9

5

Trong đó, Đại hội tiếp tục thừa nhận những chủ trương của Luận cương chính trị (10/1930) như vẫn đề cao mâu thuẫn giai cấp, hai nhiệm vụ chính có mối quan hệ khăng khít với nhau là chống đế quốc và phong kiến, trong đó vẫn đề cao việc chống phong kiến nên hiện tại vẫn chưa có nhiều điểm mới

Đảng vẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của giai cấp công nhân và nông dân Tuy nhiên, Đảng đã mở rộng vận động lực lượng cho cách mạng không chỉ bao gồm công nhân, nông dân mà còn mở rộng ra thanh niên, phụ nữ, binh lính, dân tộc thiểu số,…

Đảng vẫn giữa nguyên phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc trên toàn Đông Dương

Ưu điểm:

Đặt ra các nhiệm vụ trước mắt phù hợp với bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ như là củng cố, phát triển lại cơ sở Đảng vì lúc bấy giờ cơ sở Đảng vừa tan rã, Đảng vừa tổ chức đại hội với số lượng Đảng viên rất ít chỉ với 13 người Đại hội cũng đẩy mạnh các công cuộc thu phục quần chúng lại để củng cố lực lượng cho Đảng Cộng sản Những nhiệm vụ này đều phù hợp với tình cảnh của Việt Nam hiện tại khi đang trong quá trình phục hồi hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng quần chúng

Hạn chế:

Chủ trương của Đại hội chưa có điểm gì mới nổi bật Đại hội vẫn đứng trên những quan điểm sai lầm của Luận cương chính trị (10/1930) do vẫn chưa đặt nhiệm vụ chống

đế quốc lên hàng đầu, chưa thấy được các giai cấp khác ngoài nông dân, công nhân vẫn

có thể tham gia đóng góp cho cách mạng

Trang 10

6

TIỂU KẾT GIAI ĐOẠN 1930 - 1935

Về Luận cương chính trị (10/1930), đã xác định được nhiều vấn đề cơ bản về chiến lược cách mạng trong đó bao gồm xác định được hai nhiệm vụ chống phong kiến và đế quốc, kêu gọi lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân Tuy nhiên, Luận cương vẫn chưa xác định được mâu thuẫn chủ yếu của cách mạng là giữa toàn thể dân tộc và đế quốc chủ nghĩa Pháp mà chỉ đề cao mâu thuẫn giai cấp do đó dẫn đến việc đề cao nhiệm vụ chống phong kiến thực hiện cách mạng ruộng đất Đồng thời, Luận cương vẫn chưa thấy được khả năng cách mạng của các giai cấp khác ngoài công nhân, nông dân như một bộ phận địa chủ phong kiến và các giai cấp tư sản, tiểu tư sản yêu nước Bên cạnh đó, việc xác lập phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc trên toàn Đông Dương cũng

là một hạn chế lớn khi cả ba nước có những đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau

và cần thành lập Đảng Cộng sản cho riêng mình

Về Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (03/1935), có ý nghĩa lịch

sử quan trọng Đại hội đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tuy nhiên, Đại hội vẫn thừa nhận lại những quan điểm sai lầm của Luận cương chính trị (10/1930) Điều này đã dẫn đến chủ trương của Đại hội không có những điều mới và giữ nguyên những quan điểm của Luận cương như đề cao các cuộc đấu tranh giai cấp, giữ nguyên phạm vi giải quyết vấn đề trên toàn Đông Dương,… Đặc biệt, Đại hội đã đặt ra nhiều nhiệm vụ trước mắt phù hợp với tình hình hiện tại như khôi phục, củng cố cơ sở Đảng và mở rộng việc kêu gọi lực lượng cách mạng ngoài công nhân, nông dân còn có thêm phụ nữ, trí thức, dân tộc thiểu số,…

Trang 11

7

II CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM (1936-1939)

1.1 Bối cảnh lịch sử

Trên thế giới, sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, chủ nghĩa phát xít cầm quyền ở các nước Đức Italia, Tây Ban Nha… phát động chiến tranh nhằm chia lại thị trường Thắng thế ở một số nơi, chủ nghĩa phát xít lan rộng và lớn mạnh Quốc tế Cộng sản họp Đại hội VII tháng 7/1935 tại Mátxcơva, Liên Xô xác định chủ nghĩa phát xít trở thành kẻ thù chung cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới, trở thành mối đe dọa cho nền hoà bình trên toàn cầu Đảng Cộng sản Pháp cũng thành lập Mặt trận nhân dân Pháp (5/1935) và giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử năm 1936, dẫn đến sự ra đời của Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp Nhờ đó nhân dân lao động ở các nước thuộc địa của Pháp được cải thiện đời sống, thêm nhiều quyền tự do, dân chủ Góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của phong trào cách mạng

Ở trong nước, Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế và

sự vơ vét, đàn áp phong trào cách mạng của lực lượng cầm quyền ở Đông Dương Các tầng lớp nhân dân trong xã hội đều mong muốn có những cải cách về dân chủ nhằm thoát khỏi tình trạng áp bức, bóc lột từ chính sách nặng nề của thực dân Pháp Ngoài ra, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phục hồi hệ thống tổ chức và chớp lấy thời cơ thuận lợi này để xây dựng và mở rộng tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng của quần chúng

1.2 Chủ trương của Đảng

Nhiệm vụ chiến lược:

Ngày 26/7/1936, tại Thượng Hải, Trung Quốc, đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì cuộc Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Sửa chữa những sai lầm” trước

đó và “định lại chính sách mới” dựa theo những nghị quyết của Đại hội lần thứ VII Quốc

tế Cộng sản Cách mạng ở Đông Dương vẫn là cách mạng tư sản dân quyền và tình hình hiện tại chưa cho phép để có thể trực tiếp đối kháng với thực dân Pháp Tạm gác hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Các Hội nghị lần thứ ba tháng 3/1937 và lần thứ tư tháng 9/1937 còn bàn sâu thêm về vấn đề tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân

Trang 12

Thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương

Đoàn kết cùng Quốc tế Cộng sản Đoàn kết với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp và Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp chống lại bọn phản động đế quốc và tay sai

Đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương

Các phong trào từ giữa năm 1936 trở đi cũng phát triển mạnh mẽ nhưng hình thức trở nên công khai, nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp Vẫn giữ vững nguyên tác củng cố, tăng cường tổ chức và hoạt động bí mật của Đảng

Tập hợp tất cả các lực lượng dân chủ Tất cả các giai cấp trong xã hội, có cả những

người Pháp có mặt tại Đông Dương

Trên toàn Đông Dương

Ưu điểm:

Đảng đã sáng suốt tạm gác lại nhiệm vụ chiến lược, xác định được nhiệm vụ cấp thiết trước hết Phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng đúng mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân Xác định đúng đắn kẻ thù trước mắt là bọn phản động thuộc địa

và tay sai - một bộ phận kẻ thù của dân tộc Tập hợp lực lượng một cách tối ưu Tự nhận thức được điều kiện hiện tại của Đảng Cộng sản Việt Nam Biết linh động nắm bắt cơ hội để có thể công khai đấu tranh, hợp pháp kêu gọi quần chúng ủng hộ phong trào cách mạng

Trang 13

9

Hạn chế:

Chưa giải quyết những hạn chế của Đại hội Đảng lần thứ nhất

Chưa nêu được những khẩu hiệu thích hợp về dân tộc lúc còn tạm gác khẩu hiệu chiến lược đánh đổ đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc cho các dân tộc Đông Dương.Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng thành lập trong Hội nghị còn chưa thích ứng với hoàn cảnh cụ thể Tháng 3/1938 sau này đã đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương để có thể phù hợp hơn với yêu cầu lịch sử đặt ra

2.1 Bối cảnh lịch sử

Thắng lợi của Mặt trận Nhân dân Pháp trong cuộc tổng tuyển cử tháng 5-1936 đã

có những ảnh hưởng tích cực đến tình hình Đông Dương Đảng Cộng sản Đông Dương

đề ra sách lược mới thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế, tập hợp rộng rãi quần chúng đấu tranh trong tình hình mới

Ngày 30-10-1936, Đảng xuất bản tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới để giải thích cho đảng viên và quần chúng hiểu rõ hơn về sách lược mới của Đảng

2.2 Chủ trương của Đảng

Nhiệm vụ chiến lược ở thời kỳ này không khác với nhiệm vụ đã đề ra trong Luận cương chính trị là tập trung chống đế quốc và phong kiến Xong, việc chống đế quốc và phong kiến không còn “khăng khít” như trước, mà ở đây họ đề cao chống đế quốc hơn Tập trung chống đế quốc rồi mới quay lại chống phong kiến Đó cũng là điểm mới đầu

tiên trong bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị

Tất cả các giai cấp có cả những người Pháp có mặt tại Đông Dương

Có thể tập trung toàn thể lực lượng cho cuộc đấu tranh chống đế quốc

Phạm vi cách mạng trên toàn bộ Đông Dương

Ngày đăng: 01/10/2022, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA TỪNG THÀNH VIÊN   - BÀI tập NHỎ môn LỊCH sử ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG bước HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG dân tộc (1930  1945)
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA TỪNG THÀNH VIÊN (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w