Bài viết Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính chấn thương sọ não trẻ em tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não trong chấn thương sọ não ở trẻ em.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG
Nguyễn Tâm Trung*, Trần Văn Việt**, Nguyễn Ngọc Sáng***
* Bệnh viện Nhi Hải Dương, ** Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương, *** Đại học Y Dược Hải Phòng
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não trong chấn thương sọ não (CTSN) ở trẻ em Đối tượng: 63 bệnh nhi bị CTSN và điều trị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng Phương pháp: Mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh Kết quả: Tình trạng rối loạn ý thức chủ yếu ở mức độ nhẹ (73%) Chỉ có 11,1% có khoảng tỉnh, 9,5% có dấu hiệu thần kinh khu trú
Có 3,2% số trẻ có dấu hiệu thần kinh thực vật (mạch chậm, huyết áp tăng, rối loạn nhịp thở) Các dấu hiệu lâm sàng hay gặp: đau đầu (58,7%), nôn (65,1%), tụ máu dưới da đầu (49,2%) Tổn thương gặp nhiều nhất là tổn thương hộp sọ (76,2%), vị trí xương hay gặp là thái dương (33,3%) Trong số các tổn thương nội sọ, máu tụ ngoài màng cứng chiếm 22,2% và máu tụ dưới màng cứng gặp 17,5% Vị trí hay gặp tụ máu ngoài màng cứng là vùng thái dương (57,1%) Tổn thương phối hợp gặp 39,7% Có liên quan giữa triệu chứng nôn với tổn thương dập não trên cắt lớp vi tính với p < 0,05 Dấu hiệu khoảng tỉnh và liệt khu trú gặp ở bệnh nhân máu tụ ngoài màng cứng cao hơn ở nhóm tổn thương khác với p < 0,05 Kết luận: Dấu hiệu lâm sàng thường gặp nhất là: đau đầu, nôn, tụ máu dưới da đầu Tổn thương hay gặp nhất là tổn thương hộp sọ,
vị trí xương hay gặp là xương thái dương Trong tổn thương nội sọ, thường gặp là tụ máu ngoài màng cứng và tụ máu dưới màng cứng Từ khóa: Chấn thương sọ não, tụ máu ngoài màng cứng, tụ máu dưới màng cứng, cắt lớp vi tính.
ABSTRACT
CLINICAL FEATURES AND COMPUTED TOMOGRAPHY IMAGING OF TRAUMATIC BRAIN
INJURY IN CHILDREN AT HAIPHONG CHILDREN’S HOSPITAL
Trung Tam Nguyen, Viet Van Tran, Sang Ngoc Nguyen Objective: To describe the clinical features and computed tomography imaging of traumatic brain injury in children Subjects: Included 63 patients with traumatic brain injury at Haiphong Children’s Hospital Method: describes a prospective case series Results: A consciousness disorders status was mainly mild level (73%) There was only 11.1% of patients having lucid interval and 9.5% of patients having astereognosia The autonomic nervous system disorders had seen in 3.2% of patients Common clinical signs were mainly headache (58.7%), vomited (65.1%) and scalp hematoma (49.2%) The most injury was in skull (76.2%), with 33.3% of cases took place at temporal bone In intracranial lesions, epidural hematoma accounted for 22.2% and subdural hematoma accounted for 17.5% The common position largely occurred epidural hematoma in temporal lobe (57.1%) The coordinated injury was 39.7% There was association between vomitting with brain contusion on CT (p < 0.05) Conclusions: Common clinical features are: headache, nausea, hematoma under the scalp The most common injury is an injury to the skull, bones are common position temporal bone In intracranial lesions, Common epidural hematoma and subdural hematoma Keywords: Traumatic brain injury, epidural hematoma, subdural hematoma, computed tomography imaging.
Nhận bài: 15-3-2017; Phản biện: 7-4-2017
Người chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Tâm Trung
Địa chỉ: BV Nhi Hải Dương
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não (CTSN) được định
nghĩa là một tác động lên đầu hoặc chấn thương
xuyên qua sọ gây phá vỡ chức năng bình thường
của não bộ CTSN có thể xảy ra khi đầu va chạm
đột ngột và mạnh vào một vật, hoặc khi một
vật đâm xuyên qua hộp sọ và đi vào mô não
[6] [8] CTSN có thể gặp dưới dạng sang chấn
nhẹ như chấn động não, tụ máu da đầu nhưng
cũng có thể nặng nề khi có máu tụ hay các tổn
thương trong não Triệu chứng của CTSN có thể
nhẹ, vừa hoặc nặng, tùy thuộc vào mức độ tổn
thương não Các trường hợp nhẹ có thể gây ra
thay đổi ít về tình trạng tâm thần hoặc ý thức,
trong khi các ca nặng có thể gây ra mất ý thức
kéo dài, hôn mê, hoặc thậm chí tử vong Trong
CTSN, hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đã
giúp cho các bác sĩ lâm sàng đánh giá một cách
toàn diện tổn thương để đưa ra các giải pháp
xử trí kịp thời để cứu sống bệnh nhân Chụp
CLVT sọ não còn có giá trị rất lớn trong theo
dõi và tiên lượng bệnh Vậy đặc điểm lâm sàng
và hình ảnh chụp CLVT ở những bệnh nhân
CTSN như thế nào? Là câu hỏi rất cần lời giải
đáp Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này với mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng
và hình ảnh chụp CLVT sọ não trong CTSN ở trẻ
em tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 02
năm 2016 đến tháng 9 năm 2016.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Gồm 63 trẻ bị CTSN vào khoa Ngoại và khoa
Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
từ tháng 02/2016 đến tháng 9/2016 được chụp
CLVT có tổn thương.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả tiến cứu một loạt các ca bệnh.
- Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê y học với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 16.0.
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung
- Tuổi: Lứa tuổi hay gặp CTSN nhất là dưới 6 tuổi chiếm 74,6%.
Tuổi trung bình nhập viện là: 4,1 ± 3,3 nhỏ nhất là 1 tháng tuổi, lớn nhất là 14 tuổi.
- Giới: Tỷ lệ trẻ trai bị CTSN trong nghiên cứu chiếm 54%, cao hơn trẻ gái Tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái là: 1,2/1.
3.2 Đặc điểm lâm sàng
- Tình trạng ý thức khi nhập viện: Tỷ lệ gặp chủ yếu là rối loạn ý thức (RLYT) mức độ nhẹ (Glasgow
từ 13 - 15 điểm) chiếm 73% Có 11,1% số bệnh nhi
có khoảng tỉnh, đa số là không có khoảng tỉnh.
- Dấu hiệu thần kinh khu trú (TKKT): Tỷ lệ gặp trẻ có dấu hiệu liệt nửa người chiếm 6,3%, dấu hiệu giãn đồng tử gặp 3,2%, trong khi dấu hiệu liệt mặt gặp tỷ lệ thấp hơn 1,6%.
- Dấu hiệu thần kinh thực vật: Số bệnh nhi
có mạch chậm < 70 lần/phút chiếm 3,2% Có 1 trường hợp tăng huyết áp chiếm 2,5% trong số khảo sát được huyết áp (n=40 do chỉ có 40 bệnh nhân đo được huyết áp).
3.3 Các loại tổn thương trên hình ảnh CLVT
Trang 33.3.1 Phân loại tổn thương
STT Loại tổn thương Số lượng Tỷ lệ (%)
4 Máu tụ ngoài màng cứng 14 22,2
9 Tổn thương trục thần kinh lan tỏa 1 1,6
Nhận xét: Hầu hết các loại tổn thương của CTSN trên hình ảnh CLVT đều có trong nghiên cứu Máu
tụ ngoài màng cứng chiếm 22,2%, máu tụ dưới màng cứng 17,5%.
3.3.2 Vị trí các tổn thương
Nhận xét: Tỷ lệ gặp các vùng gần tương đương nhau, vùng thái dương gặp nhiều nhất chiếm 30,2% 3.3.3 Phân bố vị trí máu tụ ngoài màng cứng
Vị trí máu tụ Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Trong số các bệnh nhân tụ máu ngoài màng cứng, tỷ lệ tụ máu ngoài màng cứng vùng
thái dương gặp nhiều nhất 8/14 trường hợp (chiếm 57,1%).
Trang 43.3.4 Đối chiếu giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh chụp CLVT
a Đối chiếu giữa triệu chứng nôn với tổn thương CLVT
Nôn Tổn thương CLVT (n=41) Nôn Không nôn (n=22) p OR (95%CI) Phù não Có 2 2 0,43 (0,07 - 3,92) 0,51
Dập não Có 7 0 0,04 (1,34 – 2,03) 1,65
Máu tụ trong não Có 3 1 0,56 (0,16 – 16,96) 1,66
Máu tụ NMC Có 8 6 0,34 (0,19 – 2,19) 0,64
Máu tụ DMC Có 9 2 0,18 (0,55 – 14,37) 2,81
Chảy máu màng mềm Có 2 0 0,42 (1,29 – 1,89) 1,56
Tổn thương trục lan tỏa Có 1 0 0,65 (1,29 – 1,86) 1,55
Tổn thương hộp sọ Có 30 18 0,39 (0,17 – 2,19) 0,61
Nhận xét: Ở những bệnh nhân có dập não, tỷ lệ gặp triệu chứng nôn cao gấp 1,65 lần ở những
bệnh nhân không dập não (p < 0,05).
b Đối chiếu giữa dấu hiệu RLYT với tổn thương CLVT
RLYT Tổn thương CLVT RLYT nhẹ (n=46) nặng (n=17) (*) RLYT vừa và p OR (95%CI) Phù não Có 2 2 0,29 (0,04 – 2,64) 0,34
Dập não Có 3 4 0,08 (0,05 – 1,15) 0,23
Máu tụ trong não Có 1 3 0,06 (0,01 – 1,08) 0,1
Máu tụ ngoài màng cứng Có 7 7 0,04 (0,07 – 0,9) 0,26
Máu tụ dưới màng cứng Có 7 4 0,33 (0,15 – 2,32) 0,58
Chảy máu màng mềm Có 1 1 0,47 (0,02 – 6,02) 0,36
Tổn thương trục lan tỏa Có 0 1 0,27 (2,54 – 5,91) 3,88
Tổn thương hộp sọ Có 39 9 0,01 (1,42 – 17,23) 4,95
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhi máu tụ ngoài màng cứng ở nhóm RLYT vừa và nặng cao hơn bệnh nhi máu
tụ ngoài màng cứng ở nhóm RLYT nhẹ (p < 0,05) Tỷ lệ bệnh nhi ở nhóm tổn thương hộp sọ có nhóm RLYT nhẹ cao hơn bệnh nhi tổn thương nội sọ ở nhóm RLYT vừa và nặng (p=0,01).
Trang 5c Đối chiếu giữa dấu hiệu khoảng tỉnh với tổn thương CLVT
Khoảng tỉnh Tổn thương CLVT Có (n=7) Không (n=56) p OR (95%CI) Phù não Có 2 2 0,06 (1,24 – 93,98) 10,8
Dập não Có 1 6 0,58 (0,14 – 13,58) 1,39
Máu tụ trong não Có 1 3 0,38 (0,26 – 32,96) 2,94
Máu tụ ngoài màng cứng Có 6 8 0,01 (3,81 – 39,98) 16,0
Máu tụ dưới màng cứng Có 0 11 0,24 (1,04 – 1,28) 1,16
Chảy máu màng mềm Có 1 1 0,21 (0,51 – 166,11) 9,17
Tổn thương trục lan tỏa Có 0 1 0,89
Tổn thương hộp sọ Có 5 43 0,53 (0,13 – 1,29) 0,76
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân máu tụ ngoài màng cứng có khoảng tỉnh cao hơn nhóm máu tụ ngoài
màng cứng không có khoảng tỉnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.
d Đối chiếu giữa dấu hiệu liệt khu trú với tổn thương CLVT
Liệt khu trú Tổn thương CLVT Có (n=6) Không (n=57) p OR (95%CI) Phù não Có 1 3 0,07 (1,51 – 12,98) 3,75
Dập não Có 1 6 0,22 (0,99 – 8,21) 1,25
Máu tụ trong não Có 1 3 0,34 (0,31 – 41,37) 3,6
Máu tụ ngoài màng cứng Có 5 9 0,001 (2,77 – 15,06) 6,67
Máu tụ dưới màng cứng Có 0 11 0,30 (1,03 – 1,25) 1,13
Chảy máu màng mềm Có 0 2 0,82 (1,02 – 1,21) 1,11
Tổn thương trục lan tỏa Có 0 1 0,91 (1,02 – 1,2) 1,107
Tổn thương hộp sọ Có 5 43 0,56 (0,18 – 15,14) 1,63
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu liệt khu trú gặp ở nhóm máu tụ ngoài màng cứng cao hơn
nhóm không có máu tụ ngoài màng cứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,001.
Trang 6e Đối chiếu giữa giữa dấu hiệu liệt khu trú với vùng tổn thương CLVT
Liệt khu trú Các vùng
tổn thương trên CLVT
Có (n=6) Không (n=57) p OR (95%CI)
Vùng trán Có 1 12 0,6 (0,74 – 6,26) 0,68
Vùng đỉnh Có 0 16 0,16 (1,03 – 1,3) 1,15
Vùng thái dương Có 1 18 0,41 (0,05 – 3,98) 0,43
Vùng chẩm Có 0 15 0,18 (1,03 – 1,27) 1,14
Nhận xét: Tỷ lệ gặp bệnh nhân liệt khu trú ở nhóm có tổn thương vùng trán cao hơn nhóm không
có tổn thương vùng trán với p=0,001.
4 BÀN LUẬN
4.1 Về đặc điểm chung của đối tượng nghiên
cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung
bình nhập viện là 4,1 ± 3,3; trẻ nhỏ nhất là 1 tháng
tuổi Nhóm trẻ bị CTSN nhiều nhất < 6 tuổi chiếm
74,6%, nhóm từ 6 – 10 tuổi chiếm 17,5% Kết quả
của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Dunning
nhóm tuổi < 5 là 56% [7]; nghiên cứu của Trương
Văn Việt tại Bệnh viện Chợ Rẫy nhóm tuổi thường
gặp nhất là 0 - 5 tuổi chiếm 40% [4] Có sự khác
biệt giữa các nhóm tuổi là do trẻ nhỏ có đặc tính
là tinh nghịch, thích leo trèo, ưa vận động… nên
tỷ lệ gặp CTSN cao Trong 63 trường hợp CTSN có
54% nam, 46% nữ; tỷ lệ nam/nữ là 1,2/1 Kết quả
của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn
Văn Quang (2005) tại Bệnh viện Việt Đức tỷ lệ
nam/nữ là 2/1 [1]; và của Dương Chạm Uyên
(1992) tại Bệnh viện Việt Đức là 3/1 [3]
4.2 Đặc điểm lâm sàng
4.2.1 Về tình trạng ý thức khi nhập viện
Đánh giá tình trạng tri giác trong CTSN trẻ em
là rất quan trọng Đây là dấu hiệu có tính quyết
định đến tiên lượng của bệnh Vì vậy khám CTSN trẻ em phải thật cẩn thận, tỉ mỉ để đánh giá tình trạng rối loạn tri giác Đồng thời cần khai thác việc dùng thuốc an thần ở tuyến trước làm ảnh hưởng tình trạng tri giác Xác định thang điểm Glasgow giúp bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thần kinh đưa ra những chỉ định thích hợp Trong nghiên cứu của chúng tôi có 73% số trẻ có thang điểm Glasgow từ 13 - 15 điểm, có 19,1% số trẻ có thang điểm Glasgow từ 9 - 12 điểm, có 7,9% số trẻ có thang điểm Glasgow từ 3 - 8 điểm Nếu lấy
8 điểm làm điểm trung gian: số bệnh nhi vào viện
có điểm Glasgow > 8 chiếm 92,1%, số bệnh nhi
có điểm Glasgow ≤ 8 điểm chiếm 7,9% Như vậy,
số bệnh nhi CTSN nặng chiếm khoảng 1/11 lần trong tổng số bệnh nhi CTSN nhập viện.
4.2.2 Về khoảng tỉnh: Do đặc điểm cấu tạo của
bộ não nên tình trạng phù nề dễ lan tỏa có thể chỉ trong một thời gian ngắn bệnh tình đã trở nên trầm trọng Kronlein R (1885) và Cushing HW (1902) coi khoảng tỉnh là dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của máu tụ nội sọ đặc biệt là máu tụ ngoài màng cứng Nhiều tác giả cho rằng khoảng tỉnh càng dài nếu
Trang 7trẻ càng nhỏ do hộp sọ có khả năng giãn nở, các
bể dịch não tủy còn rộng, các khớp sọ còn di động
[10] Do đó thầy thuốc dễ bị nhầm lẫn cho rằng trẻ
đã trở lại bình thường Trong nghiên cứu của chúng
tôi, trẻ có khoảng tỉnh chiếm 11,1% Kết quả này
tương đương với nghiên cứu của Dương Chạm
Uyên (1992) tại Bệnh viện Việt Đức có 12,5% trẻ có
máu tụ ngoài màng cứng có khoảng tỉnh [3]
4.2.3 Về dấu hiệu thần kinh khu trú: Dấu hiệu
này rất quan trọng giúp xác định vị trí tổn thương
của vỏ não Dấu hiệu định khu hay gặp là giãn
đồng tử 1 bên với ổ máu tụ và liệt ½ người bên đối
diện Nó càng có ý nghĩa khi các dấu hiệu này xuất
hiện từ từ và tăng dần Nghiên cứu này cho thấy
dấu hiệu liệt ½ người chiếm 6,3% Liệt ½ người
bên đối diện được giải thích là do bó tháp ở phía
đối diện bị đè ép Trẻ bị CTSN trong nghiên cứu đa
phần là trẻ có RLYT mức độ nhẹ và vừa nên tỷ lệ
gặp dấu hiệu thần kinh khu trú cũng ít hơn.
4.2.4 Về dấu hiệu thần kinh thực vật: Dấu hiệu
này thường gặp trong CTSN nặng, khi áp lực nội
sọ (ALNS) tăng cao đè ép vào thân não Nghiên
cứu của Kocher (1901) cho thấy: nhịp thở, mạch,
huyết áp là ba dấu hiệu của tăng ALNS đối với
CTSN nói chung, đặc biệt đối với CTSN nặng
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số trẻ em có
mạch chậm < 70 lần/phút chiếm 3,2% Ở trẻ em ít
gặp mạch chậm hơn ở người lớn vì khả năng bù
trừ khi tăng ALNS tốt hơn người lớn.
* Huyết áp động mạch (HAĐM): do máu tụ
đè ép dịch chuyển phần đầu của thân não vào
khe lều tiểu não làm cho HAĐM tăng Khi dịch
chuyển phần đuôi của thân não đi qua lỗ chẩm
có thể phát sinh giảm HAĐM và mạch tăng dần
Khả năng thích nghi của não mất làm ALNS tăng
dẫn đến HAĐM tăng cao
* Hô hấp: khi bệnh nhân hôn mê, phản xạ
ho giảm, niêm mạc đường hô hấp tăng tiết gây
tắc đường hô hấp trên, gây rối loạn hô hấp kiểu
ngoại vi, kết hợp với thiếu oxy não, chèn ép và tụt kẹt não Theo Trương Văn Việt thì 45% bệnh nhi thiếu oxy có đời sống thực vật hoặc chết.
4.2.5 Về các dấu hiệu lâm sàng khác: Trẻ em
có thể chịu đựng một khối choán chỗ trong hộp
sọ hơn người lớn nhờ thóp, các khớp sọ còn di động, các bể dịch não tủy còn rộng Điều này dễ làm lu mờ các dấu hiệu về khối choán chỗ trong hộp sọ cho đến khi cơ chế bù trừ này sụp đổ, các dấu hiệu lâm sàng mới rõ ràng Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng, đau đầu chiếm 58,7%; nôn chiếm 65,1%; kích thích vật vã chiếm 25,4% Đây
là những dấu hiệu hay gặp nhất của tăng ALNS Kết quả của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng (2005), tỷ lệ gặp các dấu hiệu theo thứ tự: nôn (45,1%), đau đầu (42,1%)[2] Theo Dunning, ở trẻ em, dấu hiệu nôn hay đau đầu không phải là yếu tố dự đoán có tổn thương nội sọ [6].
4.3 Hình ảnh chụp CLVT ở bệnh nhân CTSN
4.3.1 Về các loại tổn thương trên hình ảnh CLVT
Chụp CLVT là phương tiện phổ biến hiện nay
để chẩn đoán sớm các tổn thương sọ não do chấn thương gây ra Theo Dương Chạm Uyên, từ khi có CLVT, tỷ lệ tử vong của CTSN giảm từ 37% còn 12,5% [3] Kết quả của chúng tôi cho thấy, tổn thương xương sọ có tỷ lệ cao nhất 76,2% Trong các loại tổn thương xương sọ, gặp chủ yếu
là rạn xương Kết quả này cao hơn Nguyễn Văn Thắng tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ gặp tổn thương xương sọ 40,4% [2] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quang (2005) tại Bệnh viện Việt Đức
là 34,4% [1]
Ba loại máu tụ nội sọ: ngoài màng cứng (22,2%), dưới màng cứng (17,5%), trong não (6,3%), tổng cộng gặp 46% Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của Nguyễn Văn Quang (2005) là 60,5% [1], nhưng cao hơn Nguyễn Văn Thắng (2005) là 35,1% [2] Ở trẻ em, máu tụ nội sọ
Trang 8trên lâm sàng thường có khoảng tỉnh hay tri giác
xấu dần, một số có dấu hiệu thần kinh khu trú.
4.3.2 Về phân bố vị trí các tổn thương: Chúng
tôi cho thấy rằng: vị trí gặp nhiều nhất là tổn
thương vùng thái dương (30,2%), các vùng còn
lại có tỷ lệ gặp tương đương nhau Nguyễn Văn
Quang (2005), tỷ lệ gặp theo thứ tự: vùng trán,
vùng thái dương, vùng đỉnh chẩm [1].
4.3.3 Về phân bố vị trí máu tụ ngoài màng cứng:
Hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng là hình thấu
kính lồi nằm sát phần xương sọ Trong nghiên
cứu của chúng tôi tỷ lệ máu tụ ngoài màng cứng
vùng thái dương 57,1%, vị trí vùng đỉnh 21,4%
Theo Dương Chạm Uyên (1992), vùng thái dương
chiếm 47% [3] Máu tụ ngoài màng cứng vùng
thái dương gặp nhiều nhất do động mạch màng
não giữa và các nhánh của nó nằm sát xương, dễ
có nguy cơ tổn thương khi có va đập
4.3.4 Về tỷ lệ các nhóm tổn thương chính trên
hình ảnh chụp CLVT: Tổn thương xương đơn độc
chiếm 42,9%, tổn thương phối hợp từ hai tổn
thương trở lên gặp 39,7% Các tổn thương phối
hợp có thể bao gồm: tổn thương xương kết hợp
với máu tụ ngoài màng cứng, máu tụ dưới màng
cứng, và tổn thương máu tụ kết hợp Xét tổng
hợp lại thì tổn thương đơn độc gặp nhiều nhất
(60,3%).
4.4 Đối chiếu giữa đặc điểm lâm sàng với hình
ảnh chụp cắt lớp vi tính
4.4.1 Đối chiếu giữa lâm sàng với tổn thương
trên phim chụp CLVT
Dấu hiệu nôn trong nhóm có dập não cao hơn
ở bệnh nhân không có dập não, sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Mặc dù nôn là triệu
chứng khá phổ biến ở trẻ bị CTSN nhưng chưa
thấy có mối liên hệ nào giữa triệu chứng nôn
với tổn thương trên phim chụp CLVT Ở những
bệnh nhi CTSN, nôn hiếm khi là dấu hiệu duy
nhất, do đó cần phải khám kỹ để phát hiện các
triệu chứng lâm sàng khác Tuy nhiên, ở những trẻ có dấu hiệu nôn liên tục.
Mối liên quan giữa tình trạng RLYT với máu
tụ ngoài màng cứng và tổn thương xương sọ
Tỷ lệ RLYT vừa và nặng ở nhóm máu tụ ngoài màng cứng cao hơn ở nhóm không có MTNMC với p<0,05 Ngược lại, ở nhóm có tổn thương hộp
sọ chủ yếu gặp RLYT mức độ nhẹ (p = 0,01) Theo Rollins (2011), ở những bệnh nhân có tổn thương xương sọ đơn thuần rất ít gây RLYT [10] Nghiên cứu của Dunning (2006) cho thấy, ở những bệnh nhân RLYT, nguy cơ xuất huyết nội sọ cao hơn gấp 2,23 lần ở trẻ không có RLYT (p < 0,05) [7] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với 2 nghiên cứu trên Tuy nhiên, theo Lois K Lee (2014), RLYT đơn độc ít có giá trị tiên lượng trong tổn thương nội sọ, thường phải kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng khác [9].
Dấu hiệu khoảng tỉnh và dấu hiệu thần kinh khu trú đều cao hơn ở nhóm máu tụ ngoài màng cứng so với nhóm không có máu tụ ngoài màng cứng Dấu hiệu khoảng tỉnh gặp ở nhóm máu tụ ngoài màng cứng cao hơn gấp 16 lần so với nhóm không tụ máu ngoài màng cứng (p = 0,01) Dấu hiệu thần kinh khu trú gặp ở nhóm máu tụ ngoài màng cứng cao hơn gấp 6,67 lần so với nhóm không có máu tụ ngoài màng cứng (p=0,001) Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Dunning (2004), ở những bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh khu trú, nguy cơ xuất huyết nội sọ cao hơn 9,43 lần Nghiên cứu của Kuppermann (2009), dấu hiệu khoảng tỉnh và dấu hiệu thần kinh khu trú có giá trị tiên lượng trong máu tụ nội sọ đặc biệt ở trẻ trên 2 tuổi [8].Theo Dietrich (1993), các yếu tố lâm sàng có giá trị dự đoán tổn thương trên phim chụp CLVT là: dấu hiệu RLYT, Glasgow dưới 15 điểm và mất trí nhớ (p<0,05)[5]
4.4.2 Đối chiếu giữa lâm sàng với vùng tổn thương trên phim chụp CLVT: Các triệu chứng
Trang 9nôn, đau đầu thường không đặc trưng và có tính
lan tỏa Khi có dấu hiệu khoảng tỉnh, bác sĩ lâm
sàng có thể định hướng đến một khối choán
chỗ Dấu hiệu liệt khu trú, chúng tôi gặp là dấu
hiệu liệt nửa người, liệt mặt trong khi các dấu
hiệu liệt khu trú bao gồm rất nhiều triệu chứng
khác nhau mà trong phạm vi nghiên cứu này
chưa khảo sát hết được Mỗi vùng não khi tổn
thương sẽ ảnh hưởng đến các chức năng vùng
đó chi phối, nó gây ra nhiều hội chứng và triệu
chứng trên lâm sàng.
5 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 63 bệnh nhi CTSN có tổn
thương trêm phim chụp CLVT điều trị nội trú tại
Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 2/2016 đến
9/2016, chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Tuổi trung bình nhập viện: 4,1 ± 3,3; nhóm
tuổi hay gặp nhất là dưới 6 tuổi chiếm 74,6% Tỷ
lệ trẻ trai/trẻ gái là: 1,2/1.
- Tình trạng RLYT chủ yếu ở mức độ nhẹ (73%)
Chỉ có 11,1% có khoảng tỉnh, 9,5% có dấu hiệu
thần kinh khu trú Có 3,2% số trẻ có dấu hiệu
thần kinh thực vật (mạch chậm, huyết áp tăng,
rối loạn nhịp thở) Các dấu hiệu lâm sàng hay
gặp: đau đầu (58,7%), nôn (65,1%), tụ máu dưới
da đầu (49,2%) Tổn thương gặp nhiều nhất là
tổn thương hộp sọ (76,2%), vị trí xương hay gặp
là xương thái dương (33,3%) Trong số các tổn
thương nội sọ, máu tụ ngoài màng cứng chiếm
22,2% và máu tụ dưới màng cứng gặp 17,5% Vị
trí hay gặp tụ máu ngoài màng cứng là vùng thái
dương (57,1%) Tổn thương phối: hợp gặp 39,7%.
- Đối chiếu triệu chứng lâm sàng với từng tổn
thương CLVT:
- Triệu chứng nôn gặp ở bệnh nhân dập
não cao hơn ở bệnh nhân có tổn thương khác
(p<0,05).
- Dấu hiệu khoảng tỉnh và liệt khu trú gặp ở
bệnh nhân MTNMC cao hơn ở nhóm tổn thương
khác (p < 0,05).
- Đối chiếu triệu chứng lâm sàng với vùng tổn
thương trên phim CLVT: chưa thấy có mối liên quan
giữa các dấu hiệu lâm sàng với vùng tổn thương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Quang (2005), Nghiên cứu chẩn
đoán và thái độ xử trí sớm CTSN kín ở trẻ em tại
Bệnh viện Việt Đức năm 2004-2005, Luận văn Bác
sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội.
2 Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Ngọc Ánh (2005), “Nghiên cứu một số đặc điểm của chấn thương sọ não do giao thông ở trẻ em điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong bốn năm
2002 - 2004”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc gia
về phòng chống tại nạn thương tích lần thứ nhất, tr.232-243.
3 Dương Chạm Uyên (1992), Vai trò của CT Scanner trong cấp cứu CTSN, Báo cáo khoa học – Bệnh viện Việt Đức 5/1992.
4 Trương Văn Việt (2002), “Các yếu tố nguy cơ gây chấn thương sọ não do tai nạn giao thông tại
TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Số 1 – Chuyên đề Ngoại thần kinh, tập 6, tr.14-20.
5 Dietrich, A.M., Bowman, M.J., et al (1993),
“Pediatric head injuries: can clinical factors reliably predict an abnormality on computed tomography”, Ann Emerg Med, 22: 1535–1540.
6 Dunning J., Batchelor J., et al (2004), “A meta
- analysis of variables that predict significant intracranial injury in minor head trauma”, BMJ Journals, 89(7): 653–659.
7 Dunning J., Daly JP., Lomas JP., et al (2006), Derivation of the children’s head injury algorithm for the prediction of important clinical events decision rule for head injury in children Arch Dis Child pp 91-885.
8 Kuppermann K., Holmes JF., et al (2009),
“Identifi cation of children at very low risk of clinically-important brain injuries after head trauma: a prospective cohort study”, The Lancet Journals, 374: 1160-70.
9 Lois K. Lee MD, David Monroe MD, et al (2014), “Isolated Loss of Consciousness in Children With Minor Blunt Head Trauma”, JAMA Pediatr, 168(9): 837-843.
10 Rollins MD, Barnhart DC, Greenberg RA, et
al (2011), “Neurologically intact children with an isolated skull fracture may be safely discharged after brief observation”, Journal of Pediatrics Surgery, 46(7):1342–1346.