1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngon ng va van hoa - từ tết trong văn hóa việt nam

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 114,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về ý nghĩa, ta sẽ thấy được trọn vẹn, có cái nhìn bao quát hơn về ngày Tết – ngày có ý nghĩa rất lớn trong nét văn hóa dân tộc người Việt từ xưa đến nay.. Vì vậy, đề tài được lự

Trang 1

HANOI OPEN UNIVERSITY

FACULTY OF ENGLISH

TIỂU LUẬN

Môn: NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA

Giáo viên hướng dẫn:

Hanoi,2019

Trang 2

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA TIẾNG ANH

ĐỀ TÀI

TỪ “TẾT” TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

Hà Nội, 2019

Trang 3

MỤC LỤC

1 Mở đầu

2 Chương I

3 Chương II

4 Chương III

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đối với mỗi người dân Việt Nam, từ “Tết” đã trở nên thân thuộc từ rất lâu Chúng ta gặp nó trong những câu ca dao, tục ngữ mộc mạc, thân thuộc đến những bài diễn văn trang trọng hay những lời cầu khấn trước bàn thờ linh thiêng Và vào mỗi dịp cuối năm cũ, đầu năm mới, nó lại rộn lên, xốn xang trong lòng bao người con đất Việt Người người, nhà nhà ai cũng mong đến ngày Tết để đoàn tụ, sum vầy Vậy nhưng ít ai trong biết rõ được nguồn gốc của từ “Tết”, từ đâu mà những ngày đặc biệt ấy lại được đặt tên như thế? Tìm hiểu về ý nghĩa, ta sẽ thấy được trọn vẹn, có cái nhìn bao quát hơn về ngày Tết – ngày có ý nghĩa rất lớn trong nét văn hóa dân tộc người Việt từ xưa đến nay Vì vậy, đề tài được lựa chọn để góp một cái nhìn chi tiết hơn về ý nghĩa của ngày Tết, giúp mỗi người hiểu được nét văn hóa quý báu ẩn chứa trong

“Tết” và giữ gìn, phát triển nó đến mãi về sau (Lý do/ mục đích chọn đề tài)

Từ Tết không chỉ được sử dụng đối với Tết Nguyên Đán (ngày Tết lớn nhất của nhân dân Việt Nam), mà nó còn được sử dụng với những ngày có mang ý nghĩa đặc biệt nhất định khác Tiểu luận sẽ chỉ ra những ý nghĩa về ngôn ngữ và văn hóa trong từ “Tết” và vai trò của nó đối với cộng đồng nhân dân Việt Nam (Nội dung nghiên cứu)

Thu thập, tổng hợp các kết quả nghiên cứu, tư liệu về chủ đề để làm rõ ý nghĩa về hình thức, nội dung của “Tết” đối với văn hóa dân tộc Việt Nam Đưa những ví dụ thực tế về ngày Tết đối với người dân Việt Nam trong đời sống hiện thực (Phương Pháp nghiên cứu)

Tiểu luận gồm 3 chương:

Chương I:

Chương II:

Chương III:

(gốm mấy chương)

Trang 5

NỘI DUNG

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI (MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA)

1 Những vấn đề ngôn ngữ của từ “Tết”

Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, Tết xuất xứ từ chữ hán đọc theo

âm Hán Việt là Tiết, có nghĩa là đốt tre đốt trúc, mở rộng nghĩa là một phiến đoạn thời gian trong năm

1.2 Những vấn đề văn hóa

Cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thời xa xưa chia thời gian thành hai phần chính: phần thời vụ và phần nông nhàn Phần thời vụ thì “nông vụ chí kỳ” không còn thì giờ để xum họp, sắp đồ cúng lễ gia tiên, dãi đằng nhau, gặp

gỡ nhau Chính vì lẽ đó trong những lúc nông nhàn, người Việt đặt ra nhiều ngày Tết, phần lễ là phần cúng bái tổ tiên, gia tiên, thánh thần Nói một cách khái quát, Tết chỉ những ngày lễ được phân bổ theo thời gian trong năm đan xen giữa các khoảng trống thời vụ Đây là dịp để người Việt hưởng thú thanh nhàn trong những lúc nông nhàn Tết trong mọt năm quan trọng nhát là Tết nguyên đán Nguyên đán là buổi sáng đầu tiên của một năm âm lịch Người Việt mong mỏi những ngày đầu tiên ấy là những ngày đẹp trời, những ngày lòng người vui vẻ, thanh thản, cuộc sống no ấm hạnh phúc, trong ấm ngoài

êm Sau ba ngày Tết Nguyên đán là tới Tết khai hạ, nghĩa là Tết hạ cây nêu; khai hạ có nghĩa mở ra một ngày vui, một năm vui Sau Tết khai hạ là Tết thượng nguyên, rằm tháng giêng Đây là một ngày lễ trọng của đạo Phật cũng

là đạo phổ biến của cư dân nông nghiệp, là đức tin cổ truyền của người nông dân Việt Dân gian có câu “Đi lễ quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng” để nói về ngày “lễ trọng” của đạo Phật Sau những ngày Tết đầu năm

âm lịch kể trên, còn hàng loạt ngày Tết trong hệt hống Lễ Tết của người Việt như Tết hàn thực (mồng ba tháng ba), ăn đồ lạnh, bánh trôi bánh chay; Tết đoan ngọ vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch- mùa hè, Tết trung thu – rằm tháng tám âm lịch dành riêng cho trẻ con… Tết Nguyên đán và các ngày Tết trong tháng giêng là vui nhất, ngày xưa các cụ ta có câu “tháng giêng là tháng ăn chơi”

Có một đặc điểm chung của ngày Tết ở Việt Nam là phần lễ cúng ông bà tiên

tổ, sau là phần gia đình xum họp ăn uống vui vẻ với nhiều loại thực phẩm hàng ngày hiếm có Cùng với hệ thống lễ hội ở Việt Nam, hệ thống lễ Tết ở Việt Nam thể hiện tình cảm cộng đồng dân tộc sâu sắc, nối kết giữa các thế

hệ, nối kết giữa quá khứ và hiện tại, giàu ý nghĩa nhân văn và văn hóa Việt./

Trang 6

1.3 quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ

Chương II

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ “TẾT”

2.1 Số lượng

Xuất phát từ tiếng Hán với nhiều ngữ nghĩa, trong tiếng Việt, “Tết” không chỉ mang nghĩa là “ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng” như Tết khai hạ, Tết thanh minh, Tết đoan ngọ, Tết Trùng cửu… trong tiếng Việt, Tết còn chỉ một dịp hết sức có ý nghĩa với người dân Việt Nam, một dịp đặc biệt đầu năm duy nhất như người ta thường nói: ăn Tết, chơi Tết, chúc Tết, đi Tết… Như vậy,

từ một danh từ chung, Tết đã trở thành danh từ riêng, được viết hoa Đây là một trong những nét giống với các nước phương Tây khi từ “năm mới – New Year” cũng được viết hoa Thể hiện một ngày lễ độc lập, riêng biệt với những đặc trưng cụ thể của dân tộc Việt Nam

2.2 Hình thức cấu tạo

Từ “Tết” bắt nguồn từ ngôn ngữ Hán với từ ban đầu là “tiết” Nghĩa gốc của “tiết” là mấu tre (vì thế khi viết chữ này, người ta phải viết với bộ Trúc) Rồi nó dần chuyển nghĩa, chỉ sự tiếp nối giữa hai gióng cây, hai khúc, hai đoạn vật thể (tương đương với "đầu mặt", "khớp", "khuỷu" trong tiếng Việt) Từ nghĩa này, nó tiếp tục mở rộng để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa hai khoảng thời gian phân chia theo thiên văn - khí tượng trong năm, ví dụ như một năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thuỷ, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu,

xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn)

2.3 Ý nghĩa

Đối với người dân Việt Nam, không biết từ “Tết” xuất hiện từ bao giờ, nhưng không ít người biết rằng đó là một từ ngữ gốc Hán Mỗi ngày Tết ở

Trang 7

Việt Nam đều mang một ý nghĩa, biểu tượng riêng trong nền văn hóa của đất nước

Tết Nguyên đán

Nguyên đán là từ gốc Hán, Nguyên là "đứng đầu, số một, nhất"; đán là "buổi sáng" Do đó, Tết Nguyên đán nghĩa là "Tết (mừng, của, vào) buổi sáng đầu (năm)"

Gọi như thế bởi vì buổi sáng ngày mồng Một tháng Giêng là thời gian quan trọng nhất trong năm; năm mới chính thức bắt đầu, mọi hoạt động tiêu

biểu nhất cho Tết được tiến hành (lễ gia tiên, chúc mừng năm mới, mừng tuổi, chúc thọ người già, đại tiệc đầu năm ) Điều kiện ngoại cảnh cũng rất đẹp và thuận lợi: bắt đầu sang xuân, cây cối đâm chồi nẩy lộc, hoa nở, chim hót, không khí ấm áp, trời quang đãng, nhịp độ lao động vất vả của một năm tạm ngừng

Con người thư thái, vui vẻ về tinh thần, trở nên lịch sự, cởi mở hơn về phong cách; rực rỡ hơn với dung nhan, trang phục mới Tất cả những hiện

tượng trên đều tập trung vào buổi sáng đầu năm khiến người ta cảm thấy buổi sáng đó thật quan trọng, thiêng liêng Ai cũng tin tưởng, mơ ước mọi

việc trong năm đều diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp, may mắn như buổi sáng đầu năm

và cố gắng không làm điều xấu để khỏi xúi quẩy cả năm

Tết táo quân

Táo gốc tiếng Hán có nghĩa là "bếp" Táo quân hay ông Táo nghĩa là "ông quản bếp", "ông vua bếp" Theo truyền thuyết nước ta, xưa có hai vợ

chồng nghèo khổ quá phải bỏ nhau, mỗi người một nơi tha phương cầu thực Sau đó, người vợ may mắn lấy được chồng giàu Một năm, vào ngày 23 tháng Chạp, người chồng cũ đi ăn xin, vô tình vào phải nhà người vợ cũ Người

vợ nhận ra chồng cũ, liền đem cho nhiều cơm gạo, tiền bạc Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ Người vợ khó xử, uất ức lao vào bếp lửa, tự vẫn Người chồng cũ đau xót, cũng nhảy vào lửa chết theo Người chồng mới ân hận, lao vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm

"vua bếp"

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"

Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có

từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán

Trang 8

Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một

cô gái đẹp, tên là ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày

không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt,

cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời)!

Còn việc "ông Công" và "ông Táo" được nhân dân ta cúng tiễn vào cùng một ngày có hai cách giải thích Một: Công là từ rút gọn của Táo công Hai: Công

là từ rút gọn của Thổ công Cách giải thích thứ nhất xem ra có lý hơn bởi nếu theo cách thứ hai thì khó thể lý giải vì sao lễ tiễn ông Công lại trùng với lễ tiễn ông Táo?!

Đêm trừ tịch

Tịch gốc tiếng Hán nghĩa là "đêm" Tuy nhiên, theo nguyên tắc thuận ngữ, trong tiếng Việt, người ta vẫn nói "đêm trừ tịch" chứ ít nói "trừ tịch", cũng như thường nói: chân thật, cây cổ thụ, sông Hồng Hà, núi Trường Sơn Còn trừ trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa gốc là "qua đi, bỏ đi" Như vậy, trừ tịch nghĩa là "đêm của năm qua đi" - đêm cuối cùng của năm cũ Tác giả Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục lại có cách lý giải hoàn toàn khác, coi trừ tịch là xua đuổi, trừ khử ma quỷ: "Nguyên tục bên Tàu ngày xưa, cứ về hôm ấy thì dùng một trăm hai mươi đứa trẻ con độ chín, mười tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống, vừa đi đường vừa đánh để trừ khử ma quỷ, cho nên gọi là trừ tịch"

Giao thừa

Giao gốc tiếng Hán nghĩa là "xen kẽ nhau, thay nhau" hoặc "nối tiếp

nhau, trao đổi lẫn nhau" Còn thừa nghĩa là "đảm nhận, thi hành (nhiệm vụ, nghĩa vụ)" hoặc "thừa kế, kế tiếp" Gọi là giao thừa vì theo quan niệm tín ngưỡng, 12 giờ đêm ngày 30 tháng Chạp - thời điểm nối tiếp giữa năm cũ và năm mới - là lúc mà hai vị thần cai quản trần gian (gọi là ông Hành khiển), một cũ và một mới, "bàn giao và tiếp nhận" công việc của nhau Vào ngày này, nhân dân ta hay làm lễ thiên địa để cầu mong các vị thần ấy ban

cho nhiều may mắn, hạnh phúc trong năm mới Lễ thường được bày ngoài trời vì mọi người cho rằng các vị thần rất bận, không thể vào tận trong từng nhà để hưởng lễ!

Trang 9

Chương III

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Đặc trưng văn hóa dân tộc của đề tài

Dù đều chỉ ngày đầu của năm mới nhưng so với các nước phương Tây,

“Tết” lại mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với dân tộc Việt Nam Điều

đó thể hiện đặc trưng văn hóa không thể trộn lẫn giữa Việt Nam và các nước khác

Điểm khác biệt đầu tiên giữa Tết ở phương Tây và Việt Nam là thời điểm để chúc mừng Các nước phương Tây thường coi ngày mùng 1 tháng 1 theo lịch dương là ngày bắt đầu một năm mới Trong khi đó,đối với Việt Nam, thường dùng lịch âm, tức là năm mới sẽ bắt đầu muộn hơn, trong khoảng tháng 1 đến tháng 2 Cả lịch dương và lịch âm đều được xây dựng dựa trên chu kì thiên văn: vòng quay của Trái Đất (một ngày), quỹ đạo Trái Đất quay quanh Mặt Trời (một năm), và quỹ đạo Mặt Trăng quay quanh Trái Đất (một tháng) Các

hệ thống lịch rất phức tạp bởi vì số ngày trong một tháng hay một năm không

cố định Lịch âm dựa trên việc theo dõi chu kì thiên văn, trong khi lịch dương chia thành các tập hợp ngày gần giống chu kì thiên văn

Trong ngày Tết cổ truyển của dân tộc, để chúc mừng năm mới, thường có những hoạt động thông thường mọi người hay làm như là bắn pháo hoa, thăm chúc nhau những lời tốt đẹp hay trang trí nhà cửa,… Bên cạnh đó, có những

lễ nghi khác nhau giữa các nước phương Tây và Việt Nam đã tạo thành tập tục

Ở văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam, ngày cuối cùng trong năm cũng rất quan trọng nên thường tổ chức bữa ăn Tất Niên Trong dịp này, mọi người thường nấu các món truyền thống như gà luộc hay thịt kho và cúng tổ tiên để bày tỏ lòng kính trọng

Truyền thống đốt hương trầm trên bàn thờ tổ tiên và khấn để cầu cho một năm mới an khang sẽ diễn ra vào ngày mùng một Mọi người có thể đến chùa hay thăm hỏi họ hàng và bạn bè để chúc mừng năm mới Trẻ con nhận lì xì từ người lớn để đánh dấu một tuổi mới

Trong khi đó, người phương Tây thường gặp gỡ nhau ở các công viên hay quảng trường để đếm ngược cho năm mới Sau đó học có thể ra ngoài đi dạo hay ăn uống cùng nhau Bởi vì kì nghỉ Tết kéo dài 2 đến 3 ngày, mọi người có

ít thời gian nghỉ hơn người phương Đông

Người phương Tây cũng không có thời gian để du xuân và thả bộ trên các con đường đủ sắc màu Ở Việt Nam còn có truyền thống “hái lộc đầu xuân” bằng cách ghé thăm các ngôi chùa nổi tiếng để xin lộc cho gia đình trong cả năm Nói chung, các nước phương Đông có rất nhiều phong tục tập quán đặc biệt trong năm mới, và mỗi tập tục đều có ý nghĩa riêng

Khi nhắc đến từ Tết, đối với người Việt Nam đó không chỉ là những điều mới mẻ mà còn là những điều may mắn sẽ đến, bên cạnh đó họ còn kiêng kị

Trang 10

khá nhiều để tránh 'xui' cả năm, như tránh cãi cọ - quét nhà vào ngày mùng một

3.2 Vai trò của từ “tết” trong đời sống cộng đồng

(lấy VD ca dao dân ca… đời sống cả tinh thần và vật chất)

Không chỉ xuất hiện như một phần không thể thiếu về đời sống vật chất trong dịp đầu năm của người dân Việt Nam, “Tết” đã trở thành một chủ đề không hề hiếm gặp trong ca dao dân ca, thơ văn… trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam

Tháng giêng ăn tết ở nhà Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.

*

Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi Tết có thịt treo trong nhà.

* Nhớ xưa trả nợ ba đời Chiều ba mươi Tết mẹ ngồi nhìn con

Gánh cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo Chừ đây hết cực hết nghèo Vui theo ra ruộng nhàn theo về nhà.

* Chưa chi anh đã vội về Hay là xuân giục vội về với xuân.

* Mưa xuân, lác đác vườn đào Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa.

* Mỗi năm vào dịp xuân sang

Em về Triều Khúc xem làng hội xuân Múa cờ, múa trống, múa lân Nhớ ai trong hội có lần gọi em…

Ngày đăng: 30/09/2022, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w