Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứng khoán...66 3.3.1 Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, cá nhân, tổ chức trong hoạt đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYEN TRUNG HIEU
THUẾ ĐỐI VỚI KINH DOANH CHỨNG KHOÁN THEO
Chuyên ngành’ Luật Kinh Tế
Mã số’ 838 01 01 05
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hương
Hà Nội - 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực khoa học, đồng thời tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của luận văn này Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanhtoán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại họcQuốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN TRUNG HIẾU
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẤT V DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 MỘT SỚ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ PHÁP LUẬT THUẾ TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 9
1.1 Tổng quan chung về kinh doanh chứng khoán 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động kinh doanh chứng khoán 9
1.1.2 Các nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 11
1.2 Tổng quan chung về pháp luật thuế trong kinh doanh chứng khoán 23
1.2.1 Khái niệm thuế trong kinh doanh chứng khoán 23
1.2.2 Pháp luật thuế trong kinh doanh chứng khoán 25
1.3 Những tác động của chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán 29
1.4 Quy định pháp luật thuế của một số quốc gia trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 32
1.4.1 Thuế giá trị gia tăng 32
1.4.2 Thuế chuyển nhượng chứng khoán 32
1.4.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
Trang 4CHƯƠNG 2 THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHÚNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35
2.1 Quy định pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 352.1.1 Quy định thuế giá trị gia tăng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán35
2.1.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứngkhoán 38
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứngkhoán 42
2.2.1 Thực tiễn áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng trong hoạt động kinhdoanh chứng khoán 422.2.2 Thực tiễn áp dụng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp trong hoạtđộng kinh doanh chứng khoán 442.3 Đánh giá thực trạng pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứngkhoán và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay 46
2.3.1 Đánh giá thực trạng pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứngkhoán ở Việt Nam hiện nay 46
2.3.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanhchứng khoán ở Việt Nam hiện nay 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỬNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 56
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chửngkhoán tại Việt Nam 56
• • • ill
Trang 53.2 Một sô giải pháp hoàn thiện pháp luật thuê trong hoạt động kinh doanh
chứng khoán 62
3.2.1 Hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng 62
3.2.2 Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp 62
3.2.4 Hoàn thiện quy định khác trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 66
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 66
3.3.1 Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 66
3.3.2 Đảm bảo minh bạch, công khai trong giải trình 67
3.3.3 Tăng cường công tác quản lý thuế trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 68
3.3.4 Mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ thông tin cho người nộp thuế 70
3.3.5 Tuyên truyền các quy định pháp luật về thuế trong kinh doanh chứng khoán 70
3.3.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thuế 71
KÉT LUẬN CHƯƠNG 3 72
KÉT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
iv
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTGT: Giá trị gia tăng
KDCK: Kinh doanh chứng khoán
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TTCK: Thị trường chứng khoán
V
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bàng 2.1 Số quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thuế GTGT 35Bảng 2.2: Bảng lợi nhuận một số công ty chứng khoán [30] 45
vi
Trang 8MỎ ĐẦU
1 Tính câp thiêt đê tài
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, TTCK đã thể hiện vai trò quantrọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, huy động vốn trung và dài hạntrong xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; là môi trường đầu tư phong phú, đa dạng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước; góp phần tạo nên thanh khoản cho chứng khoán trên thị trường; góp phần đánh giá giá trị của doanhnghiệp và là công cụ để nhà nước thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô Giaiđoạn từ năm 2011-2020, quy mô TTCK tăng mạnh từ 19.3% GDP năm 2011 lên 72.6% GDP năm 2019 [13] Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hộigiai đoạn 2021 - 2030, Ban chấp hành trung ương đảng đề xuất rà soát, nângcao hiệu quả hoạt động của TTCK; quản lý chặt chẽ các chủ thể tham gia thịtrường, đảm bảo tính thanh khoản cao, an toàn cho hệ thống; nâng cao quy
mô, hiệu quả hoạt động của TTCK để trở thành kênh huy động vốn chủ yếucủa nền kinh tế
Là một trong những công cụ của nhà nước, các pháp luật thuế đã phát huy vai trò của mình trong hoạt động đầu tư, KDCK Trong hoạt động KDCK, các quy định pháp luật thuế vừa tạo nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, vừa giúp vận hành, điều tiết hoạt động của TTCK
Mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng quy mô vốn hóacủa TTCK tặng mạnh vào những tháng cuối năm 2020 và đầu năm 2021 Thịtrường cổ phiếu hiện có 1.665 mã cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết/đăng ký giao dịch với quy mô đạt gần 1.514 nghìn tỷ đồng Quý 1-2021, vốn hóa thịtrường cổ phiếu đạt gần 5.294 nghìn tỷ đồng, tăng 69% so với thời điểm cuối quý 1-2020, tương đương với 84,1% GDP năm 2020, vượt mục tiêu đề ra.Qua đó, TTCK Việt Nam được đánh giá là thị trường phục hồi mạnh nhất
1
Trang 9Đông Nam A, năm trong danh sách 10 TTCK có mức tăng trưởng tôt nhât trên thế giới [21] Với quy mô như vậy, TTCK là môi trường tiềm năng tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, nó cũng đòi hởi phải có
hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện để nhà nước quản lý, điều tiết hoạt độngcủa các chủ thể tham gia TTCK
Hệ thống pháp luật về thuế đã dần được hoàn thiện, phát huy vai trò là công cụ của nhà nước để quản lý, điều tiết TTCK Các quy định pháp luậtthuế đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ, các chủ thể trên TTCK Sau khi gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam phải thựchiện các cam kết về dịch vụ tài chính, bao gồm cả hoạt động KDCK Khi đó, TTCK sẽ là kênh thu hút đầu tư của các tổ chức, cá nhân chuyên nghiệp nướcngoài Đây là một thách thức đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hơn các quyđịnh về thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế và ưu đãi thị trường Thông qua các quy định pháp luật thuế, vừa giúp tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừagiúp việc quản lý, điều tiết TTCK hiệu quả, đồng thời là kênh thu hút hoạt động đầu tư, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay
về thực tiễn thi hành pháp luật thuế trên TTCK còn nhiều khó khăn, bất cập Đó là tình trạng tính thuế không công bằng giữa các chủ thể tham gia TTCK, trình trạng thuế chồng thuế trong hoạt động KDCK, việc xây dựng các văn bản hướng dẫn, thi hành chính sách mới về thuế còn chậm trễ gây lúngtúng, khó khăn cho doanh nghiệp, Điều này làm ảnh hưởng nhiều đếnquyền lợi của các chủ thế tham gia hoạt động KDCK, giảm hiệu quả quản lý của nhà nước và làm hạn chế sự phát triển của TTCK
Để làm rõ những bất cập, nguyên nhân của tình trạng trên, đưa ra nhữnggiải pháp để hoàn thiện các quy định về thuế trên TTCK, tác giả lựa chọn đềtài nghiên cứu: “Thuế đối với kinh doanh chứng khoán theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến nội dung thuế trong hoạt động KDCK có nhiều đề tàikhoa học, luận văn, tạp chí khoa học trong và ngoài nước đề cập trực tiếp hoặc lồng ghép các nội dung liên quan
2.1 Công trĩnh nghiên cứu nước ngoài
Công trình nghiên cứu: “ Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thanh
khoản của các loại chứng khoán” của các tác giả Stiglitz (1989), O”Hara vàSaar (2009), Pomeranets và Weaver (2011) Công trình nghiên cứu đã đưa rakết luận: Chính sách thuế ảnh hưởng đến thanh khoản của TTCK Điều chỉnh chính sách thuế (thay đổi cách tính thuế, thuế suất thuế) có vai trò hạn chế hoặc khuyến khích các nhà đầu tư “lướt sóng”, chuyển vốn lớn sang đầu tư trung và dài hạn Nhà đầu tư khi mua bán các loại cố phiếu khác nhau, khi sốlần mua bán càng nhiều thì chịu thuế càng nhiều [31], Do đó, để hạn chế đóng thuế nhiều, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư trung và dài hạn
Công trình nghiên cứu “ Anh hưởng của thuế chuyền nhượng đến thị trường chứng khoản ” của tác giả Pomeranets và Weaver (2011) [31] Công trình nghiên cứu này kết luận nhà đàu tư thực hiện giao dịch chứng khoán vớitần suất giảm hoặc ngừng giao dịch hoặc chuyển sang các kênh đầu tư kháckhông bị áp thuế hoặc chịu thuế thấp hơn nếu chi phí thực hiện chuyển nhượng chứng khoán tăng cao
Công trình nghiên cứu “Thuế trung gian tài chính của các nước công nghiệp” của tác giả Levin & Ritter (2007) nghiên cứu về quá trình cải cáchthuế đối với các trung gian tài chính tại các nước công nghiệp phát triển tạiChâu Âu kể từ thập niên 80 [32] Công trình nghiên cứu kết luận các nước luôn cổ gắng cải thiện hiệu của của thuế bằng giảm thuế suất và mở rộng căn
cứ tính thuế bằng các thu hẹp phạm vi miễn thuế, tạo ra các chính sách ưu đãi thuế trong một số lĩnh vực nhất định Mặc dù xu hướng toàn cầu hóa cùng
3
Trang 11mức độ co giãn cung ứng vôn cao gây khó khăn cho việc tính thuê thu nhậpvốn nhưng đây vần được coi là chính sách thuế được áp dụng trên diện rộng,
có quy mô lớn Các cài cách đều với mục tiêu để phù hợp với sự phát triểncủa các công cụ tài chính
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác của các tố chức, cánhân nước ngoài Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều chưa đề cậpnhiều đến vai trò của chính sách thuế đối với việc giảm thiểu rủi ro củaTTCK Nhiều quốc gia sử dụng chính sách thuế để phát triển TTCK nhưng có những dấu hiệu rủi ro khi nhiều tổ chức tham gia TTCK có nợ xấu cao, tổ chức yếu kém Khi đó, nhà nước thường áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tổchức như hợp nhất, mua bán, sáp nhập các tồ chức này Bên cạnh đó, mặc dù các công trình nghiên cứu đưa ra bàn luận việc hoàn thiện chính sách thuế củaTTCK nhưng việc thực thi lại chưa được đề cập trong các nghiên cứu gầnđây Với việc hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ thông tin thì nhiềutrung gian tài chính nước ngoài có thể luân chuyển vốn, chi phí, doanh thutrên toàn cầu mà không dùng tiền mặt kéo theo những rủi ro về trốn thuế, lậuthuế, gây khó khăn cho quản lý thuế của cơ quan có thẩm quyền Các vấn đề trên đều bị bỏ ngỏ trong các công trình nghiên cứu trên Bên cạnh đó, cáccông trình nghiên cứu thường tập trung đề cập đến chính sách thuế nói chungtại các quốc gia phát triển cho mọi chủ thể mà chưa cụ thể về từng loại thuế trong hoạt động KDCK và các chính sách thuế tại các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam)
2.2 Công trình nghiên cứu trong nước
Giáo trình “Quản lý thuế” của PGS.TS Lê Xuân Trường (2015) đã đónggóp những nội dung quan trọng, các phương pháp cơ bản trong quản lý và thuthuế hiệu quả Giáo trình cho thấy một các toàn diện các vấn đề về lý thuyết,thực tiễn trong quản lý thuế như thực hiện các thủ tục hành chính về thuế,
4
Trang 12thay đối các tính thuế, thanh tra, kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế [2]
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ”, Học viện Tài chính của tác giả Nguyễn Xuân Sơn (2007) Công trình nghiên cứu đưa ra các vấn đề về thuế thu nhập trong hội nhập quốc tế, thực trạng chính sách thuế thu nhập ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trong hoạch định chính sách thuế thu nhập trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tể Tuy nhiên, luận án mới chỉ
đề cập đến một chính sách thuế thu nhập của hoạt động KDCK trong điều kiện hội nhập quốc tế mà chưa đề cập đến các chính sách thuế khác [4]
Luận án tiến sỹ ‘‘Nghiên cứu chính sách thuế GTGT đoi với các dịch vụ
tài chính ”, Học viện Tài chính của tác giả Nguyễn Thị Mai Chi (2012) Côngtrình nghiên cứu đã đưa ra lý do Việt Nam không áp dụng chính sách thuế GTGT vào dịch vụ tài chính Trong đó có hoạt động KDCK là do khó xácđịnh giá trị tăng thêm Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp đế áp dụng tính thuế GTGT vào dịch vụ tài chính và các định căn cứ tính thuế là tiềnlương và lợi nhuận của tồ chức kinh doanh dịch vụ tài chính Qua đó thúc đẩy
sự công bằng, đồng đều về chính sách thuế đối với các lĩnh vực khác Tuy nhiên phương án của tác giả đưa ra khó thực thi vì lợi nhuận của các công tychứng khoán không xác định theo tháng, theo quý mà ít nhất cũng tạm tínhtheo quý, thông thường là tính theo năm, trong khi chính sách thuế GTGThiện nay tính theo tháng hoặc theo quý Việc ghi nhận doanh thu, lợi nhuậnkhó phù hợp với các nguyên tắc kế toán đã có [5]
Luận 9 án tiến sỹ “Hoàn thiện chính sách 9 thuế đoi với các dịch 9 vụ 9 tài chính ở Việt Nam ” , Học viện Ngân hàng của tác giả Bùi Thị Mến (2017).Công trình nghiên cứu đã tổng quát được các chính sách thuế đối với dịch vụ tài chính nói chung Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào từng sắc thuế trong hoạt động KDCK [6]
5
Trang 13Ngoài ra còn một sô bài viêt được công bô trên các tạp chí như “Tác động của chính sách thuế đổi với thị trường chứng khoán Việt Nam ” của tác giả Mai Thu Trang trên Tạp chí Tài chính tháng 8/2014; “Bất cập thuế chứng khoán, sao mãi không gỡ" của tác giả Nguyễn Hữu đăng trên Báo Đầu tư tháng 2/2018 [14]; “ Sửa thuế chúng khoán, cần sửa những bất cập thị trường" của tác giả Vi Hồng Lĩnh đăng trên báo điện tử Vietstock tháng1/2018 [15], Các bài báo đều nêu ra tác động của chính sách thuế, những bất cập trong thực thi chính sách thuế trên TTCK Tuy nhiên, các bài báo mới chỉ đưa ra một khía cạnh của chính sách thuế mà chưa đi sâu phân tích tác độngtừng sắc thuế đối với từng chủ thể tham gia trên TTCK.
Các công trình nghiên cứu trên đã giúp tác giả có nhiều góc nhìn khácnhau về hoạt động KDCK, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hoạt động KDCK và thuế đối với KDCK để hoàn thành luận văn Tuy nhiên, các côngtrình chưa đi sâu một cách hệ thống lý luận, thực tiễn về chính sách thuế trong hoạt động KDCK và giải pháp tầm nhìn đến năm 2030 một cách cụ thể Luận văn “Thuế đối với kinh doanh chứng khoán theo pháp luật Việt Nam” đãnghiên cứu một cách cụ thể về chính sách thuế đối với hoạt động KDCK, chỉ
ra những ưu điểm, hạn chế của chính sách thuế hiện hành và giải pháp cụ thể
để hoàn thiện chính sách thuế Bên cạnh đó, luận văn đã phân tích sự phát triển của TTCK trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang chịu tác động nặng
nề của dịch bệnh Covid-19
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của công trình nghiên cứu nhằm hệ thống hóa chính sách thuế
và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế trong hoạt động KDCK
Nhiệm vụ cụ thể của luận văn:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, đặc đặc điểm của các hoạt động KDCK;
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, đặc điểm, vai trò của chính sách thuế trong hoạt động KDCK
6
Trang 14- Phân tích kinh nghiệm quôc tê của một sô quôc gia trong xây dựng, triển khai chính sách thuế đối với hoạt động KDCK.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, thực trạng áp dụng chính sáchthuế của Việt Nam trong hoạt động KDKC
- Đề xuất định hướng hoàn thiện các chính sách thuế trong hoạt động KDCK
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là chính sách thuế áp dụng vớicác chú thể khi tham gia hoạt động KDCK là công ty chứng khoán, công ty quân lý quỹ đầu tư, quỹ đầu tư chứng khoán, nhà phát hành chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong các văn bản như Luật,Nghị định, Thông tư quy định về các chính sách thuế trong hoạt động KDCK
từ thời điểm năm 2009 cho đến nay, không bao gồm việc xử lý vi phạm, giảiquyết tranh chấp đối với thuế trong hoạt động KDCK
5 Phương pháp nghiên cứu
Đe đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiêncứu luận văn đã sử dụng nhũng phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp lịch sử: Tác giâ sử dụng phương pháp lịch sử nhằm hệthống lại quá trình phát triển của pháp luật thuế trong hoạt động KDCK
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả sử dụng phương pháp sosánh, đối chiếu các quy định pháp luật để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu Đe tài sử dụng các biểu đồ, bảng biếu đế so sánh, đánh giá các nội dung nghiêncứu trong từng thời kỳ
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các cơ sờ pháp lý về chính sách thuế trong hoạt động KDCK.Phân tích lý thuyết thành từng mặt, từng bộ phận, để nhận thức, phát hiện, khai thác các khía cạnh khác nhau của chính sách thuế đối với hoạt động KDCK Từ đó, tổng hợp lại để tạo ra hệ thống lý thuyết mới đầy đủ, sâu sắc
7
Trang 15- Phương pháp phân tích pháp luật thực định: Tác giả sử dụng phương pháp nhàm phân tích nội dung các quy định pháp luật hiện hành đang có hiệu lực tại thời điểm hiện tại để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
6 Đóng góp cùa luận văn
về mặt lý luận: Luận văn khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở nước ngoài và Việt Nam, hệ thống hóa và làm rõ một số vấn
đề cơ sở lý luận về chính sách thuế trong hoạt động KDCK; các nhân tổ làmảnh hưởng đến chính sách thuế trong hoạt động KDCK; làm rõ và cụ thể từng sắc thuế trong hoạt động KDCK; những kinh nghiệm của một số nước trong khu vực trong áp dụng chính sách thuế trong hoạt động KDCK
về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng của các chínhsách thuế đối với hoạt động KDCK; phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm củacác sắc thuế trong hoạt động K.DCK; đóng góp các giải pháp hoàn thiện chínhsách thuế trong hoạt động KDCK
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ PHÁP LUẬT THUẾ
TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
1.1 Tông quan chung vê kỉnh doanh chúng khoán
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh nói chung được hiếu là thực hiện quá trình đầu
tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ trên thị trường vớimục tiêu lợi nhuận
Trong TTCK, có thể hiểu hoạt động KDCK là hoạt động đầu tư, mua, bán chứng khoán hoặc• •thực hiện • •các dịch vụ• trên TTCK với mục• tiêu sinh lời.Hoạt động KDCK trong luận văn này được hiểu là hoạt động của các tố chức,
cá nhân, các công ty chứng khoán, nhà môi giới chứng khoán và các chế định tài chính trung gian khác trên TTCK để thực hiện các nghiệp vụ KDCK nhằm mục đích sinh lời
Theo quy định của Khoản 28 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, hoạt động KDCK là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanhchứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỳ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán vàcung cấp dịch vụ về chứng khoán Như vậy, có thể thấy sự đa dạng của các chủ thể tham gia TTCK kéo theo sự đa dạng của các hoạt động KDCK
Hoạt động KDCK mang các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đổi tượng của hoạt động KDCK là chứng khoán. Đây là loạihàng hóa đặc biệt có tính thanh khoản, tính rủi ro và tính sinh lời Chứng khoán được thể hiện dưới nhiều hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ, dữ liệuđiện gồm có một số loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỳ; chứng quyền, chứng quyền có đảm bảo,
Thứ hai, các chủ thể thực hiện hoạt động KDCK phải được cấp giấy phép. Do hoạt động KDCK là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện với đa dạng
9
Trang 17các nghiệp vụ như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, do đó các chủ thể khitham gia hoạt động KDCK phải được cấp giấy phép KDCK và phải đáp ứngcác tiêu chuẩn riêng về trụ sở, vốn, cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn củanhân sự, theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Đối với hoạt động môi giới chứng khoán pháp luật yêu cầu các điều kiện như: về cơ sở vật chất phải có trụ sở rõ ràng, có sàn giao dịch phục
vụ khách hàng; có hệ thống máy tính, phần mềm phục vụ hoạt động giao dịch;đáp ứng tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy; đảm bào an ninh, trật tự, ;
về vốn pháp định cùa tồ chức hoạt động môi giới chứng khoán ít nhất 25 tỷ đồng; về nhân sự yêu cầu có Giám đốc (Tổng Giám đốc) đáp ứng điều kiện như đối với loại hình KDCK khác và tối thiểu 03 người hành nghề chứng khoán cho nghiệp vụ môi giới chứng khoán [12]
Thứ ba, hoạt động KDCK phải đảm bảo nguyên tẳc công bằng, minh bạch, công khai, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư. Đây là nguyên tắc quan trọng để giảm thiểu tối đa rủi ro của hoạt động KDCK Tính minh bạch,công khai được thể hiện ở việc các thông tin về giao dịch chứng khoán trênthị trường được sở giao dịch chứng khoán công bố Các tố chức niêm yết chứng khoán công bố công khai các thông tin định kỳ hàng năm của các công
ty, các sự kiện bất thường trong công ty, nắm giữ cổ phiếu của Giám đốc,người quản lý, cố đông đa số Các thông tin càng công khai, minh bạch thìcàng thu hút được các nhà đàu tư tham gia vào TTCK Nguyên tắc công khai,minh bạch được nêu cụ thể tại Khoản 2 Điều 5 Luật Chứng khoán nhằm đảm bảo giá cả chứng khoán được hình thành, xác định một cách thống nhất, chính xác, công bằng cho các bên tham gia Các thông tin được cung cấp chính xác,đầy đủ, kịp thời giúp các nhà đầu tư xác định giá trị chứng khoán Do đó, pháp luật yêu cầu các chủ thể KDCK phải đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa
10
Trang 18các nhà đâu tư và bảo vệ quyên, lợi ích họp pháp của nhà đâu tư trong việc sởhữu, mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán.
1.1.2 Các nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh chúng khoán.
1.1.2.1 Hoạt động môi giới chứng khoán.
Hoạt động môi giới chứng khoán được coi là hoạt động đặc trưng, cơbản của TTCK Hoạt động môi giới chúng khoán đã được nhiều người chấpnhận và dần trở thành hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao Do đó, hoạt động môi giới chứng khoán yêu cầu người môi giới có kiến thức chuyên môn,
có kỹ năng, có trình độ nghiệp vụ, kiến thức nghề nghiệp và phải có môi trường hỗ trợ đa dạng để đem lại kết quả tốt nhất
Hoạt động môi giới chứng khoán được hiểu là việc làm trung gian thựchiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng Khi đó, một công ty kinh doanhchức khoán đại diện cho khách hàng thực hiện giao dịch chứng khoán vàchính khách hàng sẽ chịu trách nhiệm với các giao dịch đó Người môi giới được hường hoa hồng khi thực hiện giao dịch theo lệnh cùa khách hàng vàkhông chịu rủi ro từ các hoạt động đó Hoạt động môi giới có vai trò quantrọng là cầu nối giữa khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư - bộ phận có chức năng cung cấp các báo cáo nghiên cứu và khuyến nghị đầu tư cho khách hàng Đồng thời cũng là cầu nổi giữa người bán và người mua, đem cho khách hàng các loại sản phẩm, dịch vụ trên TTCK Hoạt động môi giới còn có chức năng đáp ứng các nhu cầu tâm lý của khách hàng, trở thành người chi sẻ căng thẳng, động viên kịp thời cho khách hàng, khắc phục những trạng thái cảm xúc thái quá của khách hàng và đề xuất thời điểm chốt lời, cắt lỗ hợp lý
Hoạt động môi giới chứng khoán có một số đặc điểm sau:
77u? nhất, chủ thề thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán là công tỵ
chửng khoán. Công ty chửng khoán đóng vai trò cầu nối trung gian đại diện cho khách hàng thực hiện mua, bán chứng khoán Theo quy định của pháp
11
Trang 19luật, chỉ những công ty chứng khoán được câp giây phép môi giới chứng khoán mới được thực hiện nghiệp vụ này.
Thứ hai, khách thê của hoạt động môi giới chúng khoán là chứng khoán. Môi giới chứng khoán là một trong các nghiệp vụ trong hoạt động KDCK Đối tượng của hoạt động KDCK là chứng khoán Đây là một loại hàng hóa đặc biệt, có nhiều đặc tính mà một loại hàng hóa thông thường ít cónhư tính rủi ro, tính sinh lời, tính khoản Giá trị của chứng khoán được xácđịnh bằng nhiều yếu tố và có thể biến động liên tục phụ thuộc vào thị trường
Thứ ba, hoạt động môi giới chứng khoán là một hoạt động KDCK, thể
hiện vai trò trung gian trên TTCK Công ty môi giới chứng khoán có vai trò trung gian, thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch mua, bán, chuyểnnhượng chứng khoán và được hưởng hoa hồng cho mồi giao dịch Công ty môi giới chứng khoán thực hiện các lệnh theo yêu cầu của khách hàng, không chịu các rủi ro, trách nhiệm về hậu quả, thiệt hại khi mua, bán chứng khoán.Khách hàng sẽ chịu trách nhiệm đối với các hậu quả, rủi ro khi tham gia giao dịch chứng khoán Hoạt động môi giới chứng khoán chỉ chịu trách nhiệmtrong trường hợp thực hiện lệnh sao lệch gây thiệt hại cho khách hàng
r/ỉỉ? tư, công ty môi giới chứng khoán không có quyền quyết định giá cả
khi môi giới. Môi giới chứng khoán có chức năng cung cấp cho khách hàngcác thông tin về thị trường để khách hàng quyết định mua, bán chứng khoán Giá mua vào, bán ra chứng khoán do khách hàng quyết định và công ty môigiới thực hiện theo lệnh của khách hàng Do đó, hoạt động môi giới chứng khoán không có quyền quyết định giá cả thực hiện giao dịch chứng khoán
Thứ năm, hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian phức tạp có nhiều dịch vụ đi kèm. Hoạt động môi giới chứng khoán không chỉđơn thuần là thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch mua, bán, chuyếnnhượng chứng khoán trên TTCK mà còn cung cấp rất nhiều dịch vụ khác
12
Trang 20nhau Thông thường, các công ty môi giới chứng khoán đa dạng hóa các dịch
vụ đi kèm như hồ trợ nhà đầu tư ứng trước tiền bán chứng khoán, cầm cốchứng khoán, repo cổ phiếu (cho vay có kỳ hạn với cổ phiếu khách hàng đang nắm giữ), Hoạt động môi giới chứng khoán khác với hoạt động môi giớithương mại thông thường Neu như hoạt động môi giới chứng khoán đon giản nhất là việc thay mặt khách hàng thực hiện hoạt động mua, bán, chuyểnnhượng chứng khoán theo yêu cầu thì hoạt động môi giới thương mại thôngthường chỉ có chức năng liên hệ, giới thiệu giữa các bên mua, bán với nhau, việc mua bán thường do các bên tự thực hiện
Thứ sáu, hạch toán các giao dịch thực hiện trên tài khoản thuộc sở hữu
của khách hàng. Khi tham gia TTCK, nhà đầu tư phải mở tài khoản giao dịch
để thực hiện việc mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán Thông thường, cáccông ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch cho khách hàng thông qua Giấy
đề nghị mở tài khoản và Hợp đồng đã ký kết với khách hàng Để đảm bảo an toàn trong thanh toán, khách hàng được yêu cầu ký quỳ giao dịch tại công tychứng khoán theo tỷ lệ quy định trước Mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán đều được hạch toán trên tài khoản này
ỉ 1.2.2 Hoạt động tự doanh chứng khoán.
Khoản 20 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định: “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua, bán chúng khoán cho chính mình”.Công ty chứng khoán thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán với mục đích chính là lợi nhuận và trở thành nhà đầu tư khi tham gia thị trường Vớivai trò là nhà đầu tư, chủ thể thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán tự chịu trách nhiệm với mọi rủi ro từ quyết định mua, bán chứng khoán Thông thường, các công ty tự doanh chứng khoán thường đi kèm với hoạt động môigiới chứng khoán Do đó, khi thực hiện đồng thời cả hai hoạt động này có thể dẫn đến xung đột lợi ích của khách hàng và của công ty Khi TTCK có nguồn
13
Trang 21cung lớn hơn câu khiên giá chứng khoán hạ, công ty tự doanh chứng khoán sẽ mua chứng khoán vào Khi nhu cầu chứng khoán lớn hơn cung khiến giá chứng khoán tăng thì các công ty tự doanh chứng khoán bán chứng khoán ra.
Vì vậy, hoạt động đầu tư của công ty KDCK được coi là hoạt động tạo lập thịtrường, góp phần định hướng, điều tiết hoạt động thị trường, góp phần làmbình ổn, đảm bảo tính liên tục, duy trì được giao dịch chứng khoán và tạo sự phát triển bền vững của TTCK Đặc trưng của hoạt động đầu tư chứng khoánmang tính rủi ro Vì thế, hoạt động tự doanh chứng khoán mang tính rủi rocho các công ty KDCK Các nhà đầu tư có thể không thu được số vốn đầu tư ban đầu Các công ty tự doanh chứng khoán thực hiện hoạt động tự doanhchứng khoán đòi hởi phải có kiến thức nhất định về chứng khoán, thị trườngnhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy ra
Hoạt động tự doanh chứng khoán có thề thực hiện giao dịch trực tiếphoặc gián tiếp:
Tự doanh chúng khoán thực hiện theo giao dịch trực tiếp là giao dịch giữakhách hàng và công ty chửng khoán theo thỏa thuận trực tiếp tại quầy giao dịch.Hoạt động giao dịch được thực hiện trong thời gian linh hoạt có thể là trong hoặcngoài giờ hành chính Đối tượng của giao dịch đa dạng nhưng chữ yếu là chứng khoán chưa niêm yết hoặc mới phát hành Do giao dịch thực hiện trực tiếp các thủ tục thanh toán, chuyển nhượng chúng khoán nên không chịu bất kỳ một loạiphí nào, trừ chi phí thanh toán, chi phí chuyền khoản (nếu có) Các hoạt động tự doanh chứng khoán trực tiếp không chịu sự giám sát của Sở giao dịch nhưngchịu sự thanh tra của Nhà nước về chứng khoán Doanh số giao dịch trực tiếp thường lớn hơn nhiều lần với doanh số giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán
Tự doanh chứng khoán thực hiện theo giao dịch gián tiếp là giao dịch không thực hiện thông qua các giả lập giá, các chuyên gia chứng khoán, hoặcđặt lệnh mua, bán giống lệnh mua, bán của các nhà đầu tư khác Giao dịch tự
14
Trang 22doanh chứng khoán gián tiêp không được thực hiện giao dịch trực tiêp đê đảm bảo an toàn khi có biến động lớn của giá chứng khoán và đôi khi có thể vì mục đích can thiệp giá vào thị trường Giao dịch tự doanh chứng khoán gián tiếp được thực hiện qua sở giao dịch nên phải chịu các chi phí như chi phí môi giới lập giá, chi phí thanh toán bù trừ, chi phí lưu ký chứng khoán.
Hoạt động tự doanh chứng khoán đem lại nhiều mục đích khác nhaunhư điều tiết, tạo lập thị trường, hưởng lợi nhuận, dự trữ chứng khoán đảm bảo khả năng cung ứng ra thị trường,
Hoạt động tự doanh chứng khoán có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động tự doanh chứng khoán tách biệt quản lý với hoạt
động môi giới chứng khoán Đặc điểm này đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng,công khai trong hoạt động Tính tách bạch được thể hiện qua nhiều yếu tố khác nhau, về con người, đội ngũ nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự doanhphải tách biệt với đội ngũ nhân viên môi giới Để tránh xung đột về lợi íchxảy ra giữa khách hàng và công ty tự doanh chứng khoán, pháp luật có quyđịnh hoạt động tự doanh chứng khoán không phải nghiệp vụ trong công ty chứng khoán Ở một số quốc gia quy định hoạt động tự doanh chứng khoán
và hoạt động môi giới chứng khoán phải được thực hiện ở hai khu vực tách biệt rõ ràng Các nhân viên của hai hoạt động tự doanh và môi giói chứng khoán không được sang khu vực của nhau, không được trao đồi với nhau.Tính tách biệt còn được the hiện ở việc quản lý tài sản của khách hàng tách bạch với tài sản của công ty chứng khoán Qua đó giúp hạn chế xung đột giữa các bên và đảm bảo quyền, lợi ích của khách hàng
Thứ hai, hoạt động tự doanh chứng khoản phải đăm bảo ưu tiên khách hàng. Do công ty chứng khoán có nhiều lợi thế trong tiếp cận thông tin, phân tích, dự đoán diễn biến thị trường, có thể dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng với khách hàng trên TTCK, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư Vì
15
Trang 23vậy, công ty KDCK có hoạt động tự doanh chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh nếu thỏa mãn các điều kiện nhất định Việc ưu tiên quyền lợi của khách hàng trong hoạt động tự doanh chứng khoán là cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích nhà đầu tư.
Thứ ba, hoạt động tự doanh chứng khoán giúp bình ôn, điều tiết thị trường Trong TTCK mới nối có nhiều nhà đầu tư cá nhân Vì vậy thị trườngnày không có tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư, dễ dẫn đến nhữngbiến động trên thị trường Do đó, các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các công ty
tự doanh chứng khoán có vai trò quan trọng trong điều tiết thị trường, là nguồn tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường Với nguồn vốn lớn củamình, thông qua hoạt động đầu tư KDCK, các công ty tự doanh chứng khoángóp phần không nhỏ trong điều tiết thị trường, bình ốn giá các loại chứng khoán Mặc dù chức năng binh ổn giá không phải là quy định bắt buộc trong
hệ thống pháp luật, nhưng đây là nguyên tắc mà các hiệp hội chứng khoán đặt
ra và các công ty KDCK có hoạt động tự doanh chứng khoán
ì ỉ.2.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Theo quy định tại Khoản 31, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019: “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tố chức phát hành nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắng tối đa để phânphối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành” Đây là hoạt động phổ biến của các công ty chứng khoán nhằm hồ trợ các tổ chức phát hànhchứng khoán phân phối chứng khoán ra công chúng Các công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán thỏa thuận mua toàn bộ hoặc một phần chứng khoán
để bán lại hoặc thay mặt tổ chức phát hành chứng khoán bán một phần hoặctoàn bộ số chứng khoán đã phát hành Hoạt động này rất được ưa chuộng vàphù họp với các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, chưa xây dựng được
16
Trang 24thương hiệu trên thị trường vì giúp các công ty phát hành chứng khoán tiêpcận được nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường Các công ty phát hành chứng khoán sẽ bị mất một khoản phí bảo lãnh trên số tiền thu được từ đợt phát hành Phí bảo lãnh phụ thuộc vào tính chất, tổng giá trị đợt phát hành và lãi suất trái phiếu phát hành Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán đem lạinhiều lợi ích cho tố chức phát hành chứng khoán như nâng cao hiệu quả quản
lý tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn vốn thu được từ đợt phát hành thôngqua tư vấn quản lý tài chính từ công ty bảo lãnh; đảm bảo mức độ thành côngcao hơn của đợt phát hành do các tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán cóđội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, nam bắt được nhu cầu thị trường, cósẵn mạng lưới các nhà phân phối với các quan hệ với các đại lý, nhà đầu tư;giảm thiểu rủi ro khi phát hành chứng khoán với tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán Tuy nhiên, hình thức này lại có một số nhược điểm như tổ chức phát hành chứng khoán phải trả một khoản phí khá lớn để được bảo lãnh; không kiểm soát được các cổ đông mới do việc phát hành thông qua tổ chứcbảo lãnh và mức độ thành công của đợt phát hành chứng khoán phụ thuộc vào chuyên môn, trình độ của tố chức bảo lãnh phát hành chứng khoán
Hoạt động báo lãnh phát hành chứng khoán có các phương thức sau:
Bửỡ lãnh chắc chắn là hình thức tổ chức hảo lãnh phát hành chứng khoán cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán mới phát hành theo giá thỏa thuận cho dù có phân phối hết hay không. Thông thường, mức giá thỏa thuậnnày là mức chiết khấu so với mức giá chào bán trên thị trường Giá thị trường
là giá bán của tố chức bảo lãnh và được ghi trong bản cáo bạch Lợi nhuậncủa tổ chức bảo lãnh là khoản chênh lệch giữa giá bán chứng khoán trên thịtrường và giá chiết khấu theo thỏa thuận, hoa hồng bảo lãnh Ở hình thức này,
tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán sẽ chấp nhận rủi ro khi không bán hết chứng khoán đã mua họ sẽ trở thành nhà đầu tư của tổ chức phát hành
17
Trang 25chứng khoán, hoặc khoản hoa hông bảo lãnh mà họ nhận được không đù bù đắp chi phí đã bỏ ra để thực hiện hợp đồng như chi phí tư vấn, giới thiệu, quăng cáo, lãi vay,
Bảo lãnh cổ gắng cao nhất là phương thức bảo lãnh mà tô chức bảo lãnh phát hành chứng khoán thỏa thuận làm đại lý cho tô chức phát hành
chứng khoán. Theo đó, tổ chức bảo lãnh cam kết cố gắng cao nhất đễ bán chứng khoán ra công chúng với mức giá đã định sằn số chứng khoán không bán hết sẽ được trả lại cho tổ chức phát hành chửng khoán Tổ chức bảo lãnh
sẽ nhận được hoa hồng trên số chứng khoán đã bán hoặc số vốn đã huy động.Hình thức này phụ thuộc nhiều vào khả năng, uy tín của tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán Rủi ro xảy ra sẽ được san sẻ cho cả tổ chức phát hànhchứng khoán và tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán vì số hoa hồng nhậnđược phụ thuộc vào số lượng chứng khoán đã bán và số vốn huy động được
Bảo lãnh tất cá hoặc không là phương thức bảo lãnh có thỏa thuận giữa
tô chức phát hành chứng khoán và tô chức bảo lãnh chứng khoán nếu không phân phổi het so chứng khoán thì hủy bỏ đợt phát hành. Thông thường, chứng khoán khi nhà đầu tư mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi bên thứ ba
để chờ kết quả phát hành Trường hợp phát hành thành công, nhà đầu tư sẽ sởhữu chứng khoán mình đã mua, ngược lại, nếu đợt phát hành không thànhcông, toàn bộ số chứng khoán đã chào bán sẽ bị thu lại và nhà đầu tư sẽ nhận lại toàn bộ số tiền đặt cọc Hình thức này áp dụng với tổ chức phát hành cầnmột số vốn tối thiểu nhất định để phục vụ sản xuất, kinh doanh Neu tổ chức bào lãnh bán được số chứng khoán, huy động được đủ số vốn cần thiết tronghọp đồng thì sẽ nhận được hoa hồng bảo lãnh và công ty sẽ thực hiện đợt phát hành Trường hợp không huy động được số vốn mong muốn, công ty sẽ hủy đợt phát hành và tổ chức bảo lãnh sẽ không nhận được hoa hồng bảo lãnh
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng là phương thức bảo lãnh mà tố
18
Trang 26chức bảo lãnh phát hành chứng khoán cam kêt sẽ mua hêt sô chứng khoán còn lại chưa được phân phoi hết và bán ra công chúng. Phương thức nàythường áp dụng cho tổ chức phát hành là công ty đại chúng phát hành thêm cốphiếu để tăng vốn Các cổ đông cũ sẽ được ưu tiên mua cổ phiếu được phát hành thêm Trường hợp các cổ đông không mua hoặc không mua hết số cổ phiếu được phát hành thêm thì tố chức bảo lãnh phát hành chứng khoán sẽ mua và bán lại ra công chúng Tổ chức bảo lãnh chỉ nhận được hoa hồng khi
tồ chức phát hành không bán hết chứng khoán Rủi ro trường hợp này là thịtrường e ngại khi cổ đông cũ không mua hết cổ phiếu mới vì đó là dấu hiệu đểcác nhà đầu tư khác cho rằng đầu tư vào công ty đó kém hấp dẫn, phần cổphiếu còn lại khó bán trên thị trường trong khi hoa hồng không cao
Bảo lãnh theo phương thức tối thiêu - tối đa là phương thức kết hợp
giữa phương thức bảo lãnh co gang cao nhất và phương thức báo lãnh tất cả
hoặc không Theo đó, tổ chức bảo lãnh phải bán được chứng khoán ở một tỷ
lệ nhất định theo yêu cầu của tổ chức phát hành Neu vượt qua mức này, tổchức bào lãnh được phép bán chứng khoán đến mức tối đa Neu không vượt qua mức này thì đợt phát hành bị hủy bỏ và số tiền đặt cọc mua chửng khoán
sẽ trả lại cho nhà đầu tư
Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tiềm ẩn nhiều rủi ro nênpháp luật các nước thường yêu cầu mức vốn pháp định cao đối với tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán Bên cạnh đó, tổng giá trị bảo lãnh phát hànhcũng bị khống chế ở một tỷ lệ nhất định so với tổng vốn chủ sở hữu của nó.Bào lãnh phát hành chứng khoán là điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệpthành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ cao
1.1.2.4 Hoạt động tư vẩn đầu tư chủng khoán.
Cũng như các hoạt động tư vấn khác, hoạt động tư vấn chứng khoán là việc đưa ra lời khuyên, phân tích tình huống, thực hiện một số công việc khác
có tính chất dịch vụ cho khách hàng Việc tư vấn đầu tư chứng khoán là việc
19
Trang 27cần thiết giúp các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư mới, ít kinh nghiệmthẩm định được thông tin và có quyết định đúng đắn trong đầu tư chứng khoán Hoạt động tư vấn chứng khoán gồm nhiều chuyên gia có trình độ họcvấn, chuyên môn cao, có uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư giảm thờigian, chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả đầu tư Theo Khoản 32 Điều 4Luật Chứng khoán năm 2019: “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấpcho khách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán” Như vậy, hoạt động đàu
tư chứng khoán là hoạt động đưa ra các thông tin về thị trường, các thông tin
về ngành nghề kinh tế, thông tin hoạt động doanh nghiệp, để gợi ý các nhàđầu tư mua, bán chứng khoán Đặc điểm của TTCK luôn biến đổi không ngừng nên hoạt động tư vấn gặp nhiều khó khăn, đồng thời có thể xảy ra mâu thuẫn về lợi ích, hoạt động tư vấn có thể gây ra hiểu lầm về giá và xu hướng giá của chứng khoán Do đó, người thực hiện hoạt động tư vấn phải có chứng chỉ hành nghề do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp Nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán đa dạng như tư vấn chiến lược, kỹ thuật giao dịch; tư vấn định giá chứng khoán, dự báo biến động các loại chứng khoán; tư vấn phân tíchhoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty phát hành chứng khoán; tư vấn xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu; tư vấn các rủi ro của thị trường và cậpnhật, báo cáo, phân tích về thị trường
1.1.2.5 Hoạt động của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Trên thị trường, ngoài hình thức đầu tư riêng lẻ, tự thực hiện giao dịch còn có hình thử đầu tư tập thể Các nhà đầu tư đơn lẻ tập hợp nhau lại, góp vốn để thành lập quỳ đầu tư để đầu tư trên TTCK Quỳ đầu tư chứng khoántheo Khoản 37 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019: “Quỹ đầu tư chứng khoán là quỳ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong
20
Trang 28đó nhà đâu tư không có quyên kiêm soát hăng ngày đôi với việc ra quyêt định đầu tư của quỹ” Quỳ đầu tư được quản lý bởi công ty quản lý quỳ Công tyquản lý quỹ được thực hiện nhiều nhiều nghiệp vụ KDCK nhau nhưng cơ bảnnhất là hoạt động quản lý quỳ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán
Hoạt động quản lý quỳ đầu tư chứng khoán là hoạt động của các công tyđầu tư chuyên nghiệp do các nhà đầu tư cùng góp vốn Các nhà đầu tư ủy thác cho công ty quản lý đầu tư để đầu tư số tiền đó vào chứng khoán và các tàisản khác để làm tăng giá trị tài sản thông qua quỹ đầu tư được lập ra
Theo Khoản 35 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định: “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong việc mua, bán, nấm giữ chứng khoán và các tài sản khác của nhàđầu tư”
Hình thức đầu tư vào quỳ đầu tư chứng khoán được coi là an toàn, hiệu
2 2 • _
quả Bởi vì:
Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán đa dạng hóa danh mục đầu
tư, qua đó giảm thiêu rủi ro. Các nhà đầu tư cá nhân với số vốn ít, không cónhiều kinh nghiệm sẽ khó đa dạng hóa được danh mục đầu tư đế đem lại hiệu quả cao Trong khi hoạt động của quỹ đầu tư có lượng vốn lớn, có thể đem đầu vào các dự án lớn, có khả năng sinh lời cao hoặc đầu tư vào nhiều loạichứng khoán khác nhau Chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư NHẢM giảm rủi ro là việc đầu tư nhiều loại chứng khoán không có tương quan cùngchiều với nhau Khi đó biến động giảm lợi nhuận của chứng khoán này sẽ được bù đắp bằng biến động tăng lợi nhuận của chứng khoán khác Danh mục đầu tư đa dạng duy trì sự tăng trưởng ngay cả khi một số mã cổ phiếu trong danh mục giảm giá, trong khi các mã cổ phiếu khác vẫn tăng giá cao hơn
Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Các quỳ đầu
tư được quản lý, vận hành bởi chuyên gia chuyên nghiệp, giàu kiến thức, kỳ
21
Trang 29năng, kinh nghiệm vê TTCK Các chuyên gia sẽ thay mặt nhà đâu tư quyêt định mua, bán loại chứng nào để đem lại hiệu quả cao nhất Việc lựa chọn các chuyên gia căn cứ vào tổng lợi nhuận họ tạo ra khi tham gia hoạt động đầu tư.Những chuyên gia không được ra được lợi nhuận sẽ bị công ty quản lý quỹ thay thế.
Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tiết kiệm chi phỉ đầu tư Cácquỳ đầu tư có danh mục đầu tư được quàn lý bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm nên có thể dễ dàng tiếp nhận các thông tin về thị trường, dự án đầu tư với chi phí thấp Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý bởi chuyên gia nên không mất chi phí thuê dịch vụ tư vấn bên ngoài và mức hoađồng cho các giao dịch cũng thấp hơn so với các nhà đầu tư đơn lẻ
Vai trò của hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán:
Hoạt động quán lý quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển kinh
tế và sự phát triển của thị trường sơ cấp.
Hoạt động quản lý quỹ góp phần ôn định thị trường thứ cấp. Với vai trò
là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, hoạt động quản lý quỳ góp phần tạo bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp Qua đó góp phan phát triển thị trườngnày qua các hoạt động đầu tư và phương pháp phân tích khoa học
Hoạt động quản lý quỹ góp phần làm đa dạng TTCK. Cùng với sự phát triến của nền kinh tế, các tài sản tài chính ngày càng thế hiện rõ chức năng sinh lời Các nhà đầu tư có xu hướng đa dạng hóa hóa nhiều công cụ tài chính
để đầu tư Do đó, quỳ đầu tư được thành lập với nhiều sản phẩm tài chính khác nhau như độ an toàn, thời gian đáo hạn, khả năng sinh lời, để nhà đầu
tư riêng lẻ có thể chọn lựa
Hoạt động quản lý quỹ góp phần xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư tập hợp nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ, có vốn ít, chưa có nhiều
22
Trang 30hiểu biết về TTCK Thông qua tham gia quỹ đầu tư, các nhà đầu tư này có thể gián tiếp tham gia đầu tư trên TTCK mà vẫn đem lại lợi nhuận, mức độ antoàn cao.
1.2 Tổng quan chung về pháp luật thuế trong kỉnh doanh chứng khoán
1.2.1 Khái niệm thuế trong kinh doanh chứng khoán
1.2.1.1 Tông quan chung về thuế
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuế Các nhà kinh tế cónhiều quan điểm, góc nhìn khác nhau để đưa ra định nghĩa về thuế TheoC.Mác thì chính sách thuế được hiểu là: “ Đề duy trì quyền lực công cộng, cần
phái có đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế
khóa, ” [3, tr 254], Thuế theo định nghĩa của C.Mác là được hiểu là một biện pháp đặc biệt mà Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển mộtphần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước Như vậy, thuế được hiểu là công vụ để duy trì quyền lực nhà nước Thuế là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lựccủa giai cấp thống trị Đối với giai cấp không phải là tầng lớp thống trị sẽ coi thuế không phải là nghĩa vụ của họ và sẽ tìm cách để trốn thuế, tránh thuế.Quan điểm này hồ trợ cho các nhà kinh tế có góc nhìn xã hội trong củng cố,đấu tranh giai cấp
Theo từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh là Chrisopher Pass và BryanLowes định nghĩa: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập củacải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” [33]
Theo từ điển Tiếng Việt cùa Trung tâm từ điển học (năm 1998) địnhnghĩa thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định
23
Trang 31Mặc dù có các quan diêm khác nhau vê thuê, tuy nhiên, các định nghĩa
về thuế đều có chung các khía cạnh:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các thể nhân, pháp nhân, không mang tính hoàn trâ trực tiếp
Thứ hai, những quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan, có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc của nhà nước
Thứ ba, các pháp nhân, thể nhân chỉ nộp các khoản thuế cho nhà nướcnếu pháp luật quy định Tiền thuế được sử dụng vào mục đích chung
Như vậy, có thể hiểu thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộccủa các chủ thể trong xã hội cho nhà nước theo mức độ, thời hạn đã đượcpháp luật quy định, nhằm sử dụng cho các lợi ích chung
1.2 ỉ 2 Tông quan chung về thuế trong kinh doanh chứng khoán
Thuế trong KDCK là các khoản thu mang tính chất bắt buộc mà các chủ thể khi tham gia hoạt động KDCK phải nộp cho nhà nước Thuế được cụ thể hóa thông qua những chính sách thuế của nhà nước Các chính sách thuế là các quan điểm, định hướng, công cụ của nhà nước để giải quyết các vấn đề như tăng nguồn thu ngân sách, thu hút hoạt động đầu tư và KDCK
Thuế trong hoạt động KDCK có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thuế trong hoạt động KDCK có phạm vi điều tiết rộng Thuế
sau khi được thiết lập chứa đựng các công cụ điều tiết làm thay đổi khốilượng giao dịch chứng khoán trong từng thời kỳ theo định hướng của nhànước Bên cạnh đó, chính sách thuế trong hoạt động KDCK có tác độngkhuyến khích, hạn chế sự tham gia của các nhà đầu tư Thuế có phạm vi điều tiết rất rộng vì tác động đến thu nhập của các chủ thể khi tham gia TTCK nóichung và hoạt động KDCK nói riêng
Thứ hai, thuế trong hoạt động KDCK được thê hiện thông qua các chỉnh sách đa dạng. Hoạt động KDCK ngày càng đa dạng với các dịch vụ
24
Trang 32chứng khoán khác nhau được hình thành, nhiêu loại chứng khoán khác nhauđược bồ sung và nhiều hình thức đầu tư, KDCK khác nhau Chính sự đa dạng
đó là cơ sở phát sinh các sắc thuế khác nhau, hình thành nhiều hình thức thuế khác nhau trong hoạt động KDCK
Thứ ba, thuế trong hoạt động KDCK thế hiện mục tiêu của nhà nước
trong chính sách tài chính quốc gia Thuế gắn liền với các mục tiêu kinh tế -
xã hội trong từng thời kỳ, góp phần tái cấu trúc TTCK, góp phần thực hiện các mục tiêu công bàng, phát triển ổn định, hiệu quả của nền kinh tế nóichung và TTCK nói riêng
T/iw- z/zwe nhạy cám với lạm phát. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và hoạt động KDCK Khi lạm phát tăng, nhà nước điều chỉnh chính sách thuế, đẩy thu nhập chịu thuế của người nộp thuế vào khung thuế suất cao hơn, tác động trực tiếp vào thu nhập cùa họ Do đó, có thế ảnh hưởng đến tâm lý chung của các chủ thể tham gia hoạt động KDCK và làm vỡ cấu trúc thuế đang được áp dụng sẵn trên thị trường này
1.2.2 Pháp luật thuế trong kinh doanh chứng khoán.
1.2.2.1 Thuế trực thu trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thuế trực thu trong hoạt động KDCK là khoăn thuế đánh trực tiếp vàothu nhập của tố chức tham gia hoạt động KDCK như công ty chứng khoán, quỳ đầu tư, công ty quản lý quỹ, Thuế này đánh vào doanh thu từ hoạt động
tự doanh chứng khoán, chuyền nhượng vốn, lưu ký, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
Thuế trực thu có đặc điểm thu nhập của người nộp thuế càng cao thìphải nộp thuế càng nhiều Do đó, thuế trực thu mang tính chất công bằng Tuy nhiên, đặc điếm này đem lại tác động tiêu cực, làm hạn chế phần nào sự cổ gắng tăng thu nhập của các chủ thể, gây ra cảm giác gánh nặng tâm lý về thuế
và có thể dẫn tới các hành vi trốn thuế, lậu thuế
25
Trang 33Thuê trực thu trong hoạt động KDCK là thuê TNDN của các tô chức tham gia vào hoạt động KDCK Thu nhập chịu thuế được xác định là thu nhậpsau khi đã trừ đi các chi phí họp lý tạo ra thu nhập Các chi phí này phải đạt những điều kiện chặt chẽ để tránh tình trạng khai khống chi phí.
Khi áp dụng, xây dựng chính sách về thuế TNDN sẽ thường gặp một sốtình trạng như:
Chuyến giá: Gồm có chuyển giá nội địa và chuyển giá quốc tế Các chủ thể thực hiện hành vi này nhằm mục đích khai báo chuyển nhượng khác vớithực tế để điều chuyển doanh thu, chi phí theo hướng có lợi về thuế Đây là hành vi đề giảm thuế hoặc né tránh nộp thuế;
Đánh thuế trùng: Là hiện tượng đánh thuế nhiều lần trên một khoản thunhập phát sinh đối với hoạt động KDCK có yếu tố nước ngoài Tình trạng nàythường xảy ra do sự khác biệt về nguyên tắc, phương pháp tính thuế giữa các quốc gia Hiện nay, các quốc gia ký kết thỏa thuận, hiệp định đánh thuế 2 lần
để khắc phục tình trạng này
“Von mỏng ” : Là tình trạng duy trì vốn vay hoặc vốn của chủ sở hữu lớn
để hưởng lợi về thuế Điều này làm biến dạng thuế có lợi cho vay nợ thay vìgóp vốn đầu tư khiến đòn bẩy tài chính dư thừa Để hạn chế tình trạng này,nhiều quốc gia áp dụng các quy định riêng để hạn chế khấu trừ lãi suất dưới ngưỡng nhất định hoặc quy định tỷ lệ tối đa vốn chủ sở hữu
Thuế TNDN trong hoạt động KDCK có đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thề có nghĩa vụ nộp thuế là các doanh nghiệp KDCK Có thể phân loại doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế TNDN là doanh nghiệpthường trú và doanh nghiệp không thường trú Doanh nghiệp thường trú là doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở tạiViệt Nam Doanh nghiệp không thường trú là doanh nghiệp được thành lập
26
Trang 34theo pháp luật nước ngoài và có tiên hành một sô hoạt động phát sinh thunhập chịu• 1 • thuế tại • Việt • Nam.
Thứ hai, thuế TNDN là thu nhập phát sinh từ hoạt động KDCK. Thu nhập chịu thuế được xác định bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các loại chi phí phát sinh đế tạo ra thu nhập Doanh nghiệp thường trú KDCK phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh ở Việt Nam và ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động doanh nghiệp Doanh nghiệp không thường trú hoạt ở Việt Nam chi nột thuế thu nhập phát sinhthông qua các hoạt động KDCK của cơ sở thường trú tại Việt Nam
77ỉứ £>ữ, mức động viên thuế TNDN phụ thuộc vào năng lực chịu thuế.
Thuế suất thuế TNDN được quy định phù hợp với khả năng đóng thuế của cácdoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KDCK nói riêng Thuế TNDN đượcđiều chỉnh phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử nhằm bảo vệ lợi thể cạnhtranh và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư Dưới góc độ kinh tế, thuế suất thuế TNDN là công cụ điều tiết thu nhập doanh nghiệp để thúc đẩy kinh tế, miễngiảm thuế góp phần khuyến khích hoạt động kinh doanh Ngoài ra, việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN trong một số hoạt động của KDCK giúp bảo vệdoanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp trong điều tiết thịtrường khi có biến động
ỉ 2.2.2 Thuế gián thu trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập, tài sản của người nộp thuế Thuế gián thu được tính thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó Thuế này dễ thu hơnthuế trực thu vì tránh được quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế và cơ quan nhà nước Thuế gián thu trong hoạt động KDCK điển hình là thuế GTGT Hiện nay, thuế gián thu được coi trọng vì đem lại nguồn thu lớn cho ngânsách nhà nước, không tốn kém chi phí quản lý để thu thuế, dễ thu, dễ điều
27
Trang 35chỉnh và không gây áp lực cho người chịu thuê Tuy nhiên, mức độ áp lực của người chịu thuế có giới hạn nhất định Khả năng thu thuế tối đa cho ngân sáchnhà nước trên TTCK là các khoản thu nhập nhà đầu tư sẵn sàng dành ra để trảthuế mà không làm thay đổi hành vi đầu tư kinh doanh vốn có của nhà đầu tư trên TTCK Neu áp thuế ở mức cao, các nhà đầu tư sẽ không tham gia thịtrường, ảnh hưởng nhiều đến tính thanh khoản, khối lượng giao dịch chứng khoán trên thị trường, và số thuế thu được của ngân sách nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán [7], Thuế gián thu áp dụng cho mọi đổi tượng khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, không phân biệt người có thu nhập cao hay thấp Tronghoạt động KDCK, thuế gián thu là GTGT Thuế này không đánh trực tiếp vàotài sản, thu nhập của nhà đầu tư mà đánh gián tiếp thông qua các dịch vụ cungcấp trên TTCK Hiện nay, chỉ có duy nhất hoạt động tư vấn tài chính trong KDCK phải chịu thuế GTGT Hoạt động kinh doanh tài chính nói chung vàhoạt động KDCK khác nói riêng không thuộc đối tượng của thuế GTGT vớinhiều lý do như:
- Khó xác định GTGT của hoạt động chứng khoán Việc sử dụng giá trịthị trường cửa các giao dịch KDCK để xác định GTGT cũng khó thực hiện.Đánh thuế GTGT nếu không tính toán kỳ sẽ làm bóp méo băn chất của hoạt động kinh tế Do đó, nhiều quốc gia không đánh thuế GTGT mà đánh thuế thunhập trong hoạt động KDCK
- Đối tượng đánh thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng Hiện nay,phần lớn các doanh nghiệp đăng ký kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Đánh thuế GTGT trong hoạt động KDCK làm tăng chi phí sử dụng vốn, việc tiếp cận vốn khó khăn hơn, việc huy động vốn trong xã hội để phát triển sản xuất, kinh doanh ít hấp dẫn các nhà đầu tư hơn
- Vốn đầu tư trên TTCK có thể luân chuyển giữa các quốc gia khác
28
Trang 36nhau khi nhà đâu tư nước ngoài đâu tư vào Việt Nam và khi nhà đâu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Hoạt động này diễn ra liên tục, phức tạp khiến hoạt động quản lý, thu thuế trở lên khó khăn hơn.
1.3 Những tác động của chính sách thuế đối vói hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ nhất, thuế tác động đến giá cả.
Giá cả trên TTCK bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tổ như hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty, uy tín của tố chức phát hành chửng khoán, tâm lý nhà đầu tư, chính sách tài khóa của nhà nước, sự tăng trưởngcủa nền kinh tế Là một công cụ của nhà nước, chính sách thuế có nhiều tácđộng đến giá cả trên TTCK Các thay đổi về quy định thuế chuyển nhượngchứng khoán, thuế từ cổ tức, lợi tức cổ phần, trái tức, lãi tiền vay, tác động trực tiếp đến tỷ suất sinh lời của các công cụ tài chính Qua đó ảnh hưởng đếngiá cả trên TTCK Để tăng tính hấp dẫn cho các công cụ đầu tư trên TTCK, nhà nước thường áp dụng chính sách miễn, giảm, giãn thời gian nộp thuế trong hoạt động KDCK đề làm tăng tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư khiếngiá cả tăng Ngược lại, tăng các khoản thuế này sẽ khiến dòng tiền thay đổi đồ vào những nơi có khả năng sinh lời cao hơn, làm cho giá cả thấp đi
Thứ hai, thuế tác động đến tính thanh khoản và các giao dịch
Tính thanh khoản của TTCK thể hiện ở chủ sở hữu chứng khoán có thể chuyển nhượng chứng khoán cho người khác hoặc chuyển đổi thành tiền mặttheo nhu cầu bản thân Tính thanh khoản giúp TTCK ổn định, đảm bảo quyềnlợi nhà đầu tư, tránh nguy cơ biến động lớn trên thị trường Đây cũng là công
cụ để đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, sức khỏe tàichính của nền kinh tế và tâm lý, niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK Cácchính sách thuế có tác động đến tâm lý của nhà đầu tư khi tham gia vàoTTCK Các chính sách ưu đãi thuế trong hoạt động KDCK khuyến khích các
29
Trang 37nhà đâu tư tham gia TTCK Từ đó giúp thị trường giao dịch chứng khoán trở lên sôi động, tính thanh khoản của thị trường tăng cao, tránh được các giao dịch bị thao túng, làm giá trên thị trường và phản ánh thực chất giá chứng khoán đúng hoạt động cung - cầu.
Thứ ba, thuế tác dụng đến cung - cầu tín dụng và lãi suất.
Chính sách thuế thay đổi tác động đến cung - cầu tín dụng Từ đó dẫnđến tác động đến lãi suất Nếu lãi vay phải trả được tính vào chi phí doanhnghiệp trước khi tính thuế sẽ làm doanh nghiệp được hưởng lợi về thuế, tạo nên sức hấp dẫn của hoạt động vay, khiến cho cầu tín dụng tăng Ngược lại, nếu chính sách thuế quy định tính thuế dựa trên thu nhập trước lãi vay phải trả
sẽ khiến nhu cầu tín dụng giảm
Đối với khoản thu nhập là lãi vay, nếu luật thuế quy định việc đánh thuế dựa trên thu nhập mà không được trừ các khoản chi phí khác thì lượng cungtín dụng sẽ giảm do các doanh nghiệp cho vay không được hưởng lợi về thuế khi cho vay Ngược lại, nếu luật thuế quy định thuế trên thu nhập lãi bị triệt tiêu sẽ khiến việc cho vay trở lên hấp dẫn hơn, từ đó làm cung tín dụng tăng.Cung tín dụng tăng sẽ khiến lãi suất giảm
Khi mức cung - cầu tín dụng trên thị trường đáp ứng được nhau sẽ tạo ra
sự cân bàng về lãi suất Lãi suất có ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận củachứng khoán, từ đó cũng gây ảnh hưởng đến giá chứng khoán
Thứ tư, thuế tác động đến việc thu hút đầu tư trong KDCK
Giá chứng khoán bị tác động bởi chính sách thuế Các khoản thu nhậpcủa doanh nghiệp đều bị đánh thuế lần đầu theo chính sách thuế TNDN Phầnlợi • • nhuận còn lại• được• • chia cho các cố đông hoặc được• tái đầu tư vào sảnxuất, kinh doanh Lợi nhuận chia cho các cổ đông là cổ tức bị đánh thuế thunhập Lợi nhuận đem đi tái đầu tư sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu, dẫn đến chịu mức thuế cao hơn trên khoản chênh lệch khi cổ phiếu bị bán đi Tăng hoặcgiảm các mức thuế này đều kéo theo giảm hoặc tăng giá trị của cổ phiếu
30
Trang 38Chính sự tác động của chính sách thuê làm ảnh hưởng đên tỷ suât sinh lời củacác chủ thể có liên quan Nếu mức thuế phải chịu thấp, giá cổ phiếu sẽ tăng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia Sự tăng cầu đầu tư thúc đẩy giá cổ phiếutăng và tăng tỷ suất lợi nhuận cho các nhà đầu tư khi nắm giữ chúng Sự tăng lên của tỷ suất sinh lời giúp các công ty chứng khoán có thề tồn tại, phát triểnbền vừng hon Các chứng khoán được phát hành có chất lượng và phong phú,
có thanh khoản cao Từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp là tổ chức
Sự sôi động của TTCK và các chính sách ưu đãi về thuế chính là động lực thuhút nhiều nhà đầu tư tham gia
77ỉứ năm, chính sách thuế tác động đến hoạt động của các tổ chức
KDCK.
Tùy thuộc vào mục tiêu của nhà nước mà quy định thuế áp dụng cho các
tồ chức KDCK là khác nhau Tuy nhiên, nguyên tắc thuế suất phổ thông, cơ
sở tính thuế, của các công ty chứng khoán, quỳ đầu tư chứng khoán, là như nhau Mặc dù có sự khác biệt về các tính doanh thu, chi phí nhưng không
có sự khác biệt đáng kể giữa công ty tài chính và công ty phi tài chính
Với các doanh nghiệp tài chính không phải công ty cồ phần, lợi nhuậncủa công ty chỉ bị tính thuế TNDN Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ thay đổi khi chính sách thuế TNDN thay đổi Thuế càng cao thì lợi nhuận sauthuế sẽ giảm, làm giảm cơ cấu phân chia lợi nhuận và tái đầu tư của công ty
Với các doanh nghiệp tài chính là công ty cổ phần, thu nhập của công ty
bị • tính thuế TNDN Phần lợi• nhuận • còn lại• được chia • cho các cổ động hoặc• ^7 •đem đi tái đầu tư Phần lợi nhuận chia cho các cổ đông bị đánh thuế cổ tức Phần lợi nhuận đem tái đầu tư làm tăng giá trị cổ phần, từ đó làm tăng thuế khichuyền nhượng chúng khoán Việc đánh thuế đều làm giảm giá trị của công tyvới cố đông Neu đánh thuế thấp, lợi nhuận của công ty tăng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư Giá cổ phiếu công ty tăng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát hành thêmchửng khoán để huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh
31
Trang 391.4 Quy định pháp luật thuê của một sô quôc gia trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
1.4.1 Thuế giá trị gia tăng.
Thuế GTGT ở một số quốc gia còn được gọi là thuế tiêu dùng Thuế GTGT được Pháp đề xướng đầu tiên, sau đó dần được phổ biển trên toàn thế giới Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ đượccung cấp Trong hoạt động KDCK, rất nhiều quốc gia hiện nay miễn thuế GTGT Tại Châu Á hiện nay chỉ có duy nhất Thái Lan hiện áp dụng thuế GTGT trong hoạt động KDCK với thuế suất là 7% trên phí dịch vụ mà các tổ chức cung cấp dịch vụ Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính sách của nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán mà mỗi quốc gia đều quy định khác nhau vềthuế GTGT
1.4.2 Thuế chuyển nhượng chứng khoán
Thuế chuyển nhượng chứng khoán ở nhiều quốc gia còn được gọi là thuế tem Đây là khoản thuế phải trả khi mua cổ phiếu để cơ quan có thẩm quyền đóng dấu vào các giấy tờ nhằm hợp thức hóa việc mua bán Tại Mỹ,thuế giao dịch chứng khoán được đánh với thuế suất 0,2% trên giá giao dịch năm 1914 và được tăng lên 0,4% vào năm 1932 Đây là sắc thuế được đề xuất trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế (1929-1933) để hạn chế giao dịch đầu cơtài chính ngắn hạn Năm 1966, thuế chuyển nhượng chứng khoán đã được Mỹloại bỏ
Hiện nay, thuế giao dịch chứng khoán vẫn được nhiều quốc gia đang phát triển áp dụng vì có thể gia tăng ngân sách nhà nước mà không tốn kémnhiều chi phí quản lý thuế Ở các nước như Trung Quốc, Àn Độ, Indonexia, Hàn Quốc, Nam Phi, thường áp dụng mức thuế suất từ 0,l%-0,5% giá trịgiao dịch Tuy nhiên, nhiều quốc gia phát triển đã loại bỏ sắc thuế này trongnhững thập kỷ gần đây
32
Trang 401.4.3 Thuê thu nhập doanh nghiệp
Tại Trung Quốc, thuế TNDN đánh vào thu nhập từ hoạt động sản xuất,kinh doanh của các công ty trong và ngoài nước với mức thuế suất 25% Cáccông ty bắt đầu hoạt động KDCK từ trước năm 2008 được hưởng thuế suất ưu đãi là 15% và các công ty có vốn ít chịu thuế suất 20% Đối với các quy đầu
tư mạo hiểm thực hiện đầu tư vào doanh nghiệp kỹ thuật cao quy mô vừa vànhỏ chưa niêm yết được phép nghi nợ 70% số thuế phải nộp trong tối đa 2năm Việc khấu trừ thuế tại nguồn đối với các doanh nghiệp KDCK có vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc có thu nhập từ cố tức, lãi vay, thì có thuế suất khấu trừ tại nguồn là 20%
Tại Malaysia thuế TNDN được tính linh hoạt trong việc điều chỉnh lãisuất để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế Cụ thể như điều chỉnh thuế suấtthuế TNDN từ 26% xuống 25% trong năm 2008 cho các công ty, trong đó có các công ty K.DCK Đối với các tồ chức tài chính đặc biệt với mục đích phát hành chứng khoán Hồi giáo không vị tinh thuế và không bị bắt buộc tuân theo các thủ tục quàn lý hành chính thuế Các công ty quản lý quỹ thuộc về Hồi giáo phải được ủy vụ chứng khoán Malaysia chấp thuận cho phép hoạt động cũng được miễn trừ nghĩa vụ thuế TNDN
33