lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộcngày càng trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.- Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việ
Trang 1Đề cương mônLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
1) Vì sao nói ĐCS ra đời là 1 tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên? (1806 từ)
Để chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu, trước hết
ta xem xét các bối cảnh lịch sử và những sự kiện lịch sử:
Bối cảnh lịch sử:
a) Từ hoàn cảnh thế giới:
- Nhân dân các dân t c b các nộ ị c t b n Âu – Mỹỹ áp b c vào cuốối thếố k ướ ư ả ứ ỷXIX đã đ ng lến đâốu tranh, t o thành phong trào gi i phóng dân t c m nh ứ ạ ả ộ ạmẽỹ, r ng khắốp đã tác đ ng đếốn phong trào ỹếu nộ ộ ước Vi t Nam ệ
- Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi có tác động thức tỉnh các dân tộc đang đấu tranh giải phóng
- Những tư tưởng cách mạng cấp tiến dội vào các nước thuộc địa
Tháng 8/1919, Quốc tế Cộng sản, do V.1 Lênin đứng đầu, được thành lập, đề cập các vấn đề dân tộc và thuộc địa Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền
bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản
b) Ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam:
Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Trước hành động xâm lược củaPháp, triều đình nhà Nguyễn ngày 6/6/1884 đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Tháp với Hiệp ước Patơnốt, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa…”
- Sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gaygắt thêm các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với giai cấp địa chủ phong kiến, trong đó, mâu thuẫn chủ yếu nhất là mâu
Trang 2thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.
Pháp tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và lần thứ hai (1919 - 1929) Thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mặt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề
c) Sự ra đời của Đảng là kết quả của quá trình lựa chọn con đường cứu nước
- Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc tuy diễn ra liên tục mạnh mẽ, nhưng các phong trào đều lần lượt bị thất bại vì đã không đáp ứng được những yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc
Năm 1884, một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng với nhân dân tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp, như phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1885 - 1896) Các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, nhưng đều thấtbại
Ở vùng miền núi và trung du phía Bắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang)
nổ ra Phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927 - 2/1930) tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất
cả đều không thành công
Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải
quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam
- Trong khi phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị khác nhau đang bế tắc về đường lối thì khuynh hướng vô sản thắng thế: Phong trào dân tộc đi theo khuynh hướng vô sản
Tháng 7/1920, Bác Hồ đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo),
số ra ngày 16 và 17/7/1920
Trang 3Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khảo sát, tìm hiểu để hoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản.
- Nguyễn ái Quốc thực hiện công cuộc truyền bá chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị , tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Mác-Về tư tưởng: Phải truyền bá tư tưởng vô sản, lý luận Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
Về chính trị:
Đối với các dân tộc thuộc địa, Người chỉ rõ: ở nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân
là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến bóc lột nặng nề, vì vậy phải thuphục và lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối liên minh công - nông làm động lực cách mạng
Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vữngcách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững công thuyền mới chạy”
Về tổ chức:
Ở trong nước, từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở, đến năm kỳ bộ 1997, các kỳ bộ được thành lập Hội là sự chuẩn bịquan trọng về tổ thức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 4lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộcngày càng trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
- Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản
Phân tích sự sáng tạo của ĐCSVN trong cương lĩnh đầu tiên:
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm: Chánh cươngvắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng
Sự sáng tạo của cương lĩnh chính trị đầu tiên nằm ở việc xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam: Phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với dân tộc Pháp, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến đi đến xác định mục tiêu cho cách mạng Việt Nam: Xác định nhiệm vụ CM Việt Nam là 1 cuộc CM dân tộc dân chủ và lúc đó gọi là
CM tư sản dân quyền và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản
Sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ: xác định độc lập dân tộc là mục tiêu cốt tử, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội Giai đoạn đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc
Nhiệm vụ: Cương lĩnh đã đề cao vấn đề dân tộc hơn vấn đề đấu tranh giai cấp và chống phong kiến là đúng đắn và sáng tạo Vì: Xã hội Việt Nam lúc
đó có hai mâu thuẫn như vừa nêu trên, nhưng mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp là mâu thuẫn bao trùm, chi phối việc giải quyết các mâu thuẫn khác, vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề bức xúc nhất
- Sáng tạo trong xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng, xây
dựng lực lượng
Trang 5Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc: Đảng chủ trương phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng Và để lật đổ chế độ thực dân phong kiến không thể không dùng sức mạnh của quần chúng.
oLực lượng CM: Giai cấp công – nông là gốc, tiểu tư sản, trí thức; còn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản thì lợi dụng hoặc trung lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới
oVề lãnh đạo: Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp
vô sản - sẽ giữ vai trò lãnh đạo cách mạng
oVề quan hệ CM Việt nam với phong trào CM thế giới: cách mạng Việt Nam đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa trên thế giới để chống chủ nghĩa đế quốc, là 1 bộ phận của CM thế giới.Nguyễn Ái Quốc đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân có thể đoàn kết được, có thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc và phong kiến
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX
2) Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD (1939 – 1945) liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay ở Việt Nam? / Tr.92 (1831 từ)
1/ Yếu tố thời cơ:
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN và Chủ tịch HCM, dân tộc VN đã thực hiện thành công CMT8, đánh đổ thực dân, phong kiến; thành lập nên Nhà nước VN Dân chủ Cộng hòa Một trong những yếu tố góp phần làm nên
thắng lợi to lớn là bài học về chớp thời cơ và vận dụng đúng thời cơ cách mạng
Từ khi mới ra đời, Đảng ta đã ra sức xây dựng lực lượng về các mă ‚t, mở
rô ‚ng mă ‚t trâ ‚n, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, lực lượng chính trị, lực lượng vũtrang, căn cứ địa cách mạng, lực lượng cách mạng ở thành phố,…để chuẩn bị khởinghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến Đồng thời, Đảng hết sức chăm chú theodõi sự phát triển của tình hình, diễn biến của chiến tranh thế giới lần thứ hai, dự
Trang 6đoán các khả năng, phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để có những quyếtsách đúng đắn kịp thời.
Kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (1/9/1939), trong khoảng hainăm, những thông cáo của Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, 7 đã
dự đoán cụ thể về khả năng thắng lợi của cách mạng Việt Nam: Nếu cuộc đế quốcchiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốcchiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạngnhiều nước thành công
Tháng 5 năm 1941, dựa trên những dự đoán ban đầu của tình hình cáchmạng trong nước và thế giới Hô ‚i nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8
đã nhâ ‚n định: Nếu như Liên Xô thắng trâ ‚n và Trung Quốc phản công bọn phát xítNhâ ‚t thì đây sẽ là những điều kiê ‚n thuâ ‚n lợi để Đảng ta xây dựng lực lượng tiến tớikhởi nghĩa rô ‚ng lớn
Đồng thời, Đảng cũng chỉ ra những điều kiê ‚n tạo nên thời cơ chín muồi Đólà: Ta xây dựng được mă ‚t trâ ‚n cứu quốc thống nhất trên toàn quốc Nhân dânkhông thể sống dưới sự áp bức của Pháp - Nhâ ‚t được nữa
Phe thống trị ở Đông Dương bước vào khủng hoảng Và tình hình thế giới cóchuyển biến thuâ ‚n lợi cho ta như Trung Quốc thắng Nhâ ‚t, quân Đồng Minh thắngtrâ ‚n… Từ nǎm 1942, Đảng nhận định rằng: Liên Xô chiến thắng phát xít Đức -Nhật là điều có khả năng nhất Tình thế sẽ diễn biến thuâ ‚n lợi cho ta Vì vâ ‚y, Đảngxác định chuẩn bị khởi nghĩa
Tháng 9 năm 1944, Đảng đã dự kiến rằng, mâu thuẫn Nhật - Pháp sẽ dẫn tớiNhật đảo chính lật đổ Pháp và chỉ ra phương hướng hành động cho toàn Đảng.Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc chuẩn bịkhởi nghĩa Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhâ ‚t đảo chính Pháp, chiếm Đông Dương.Pháp nhanh chống đầu hàng, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9tháng 3 năm 1945 đến ngày 10 tháng 3 năm 1945 đã đánh giá tình hình, ra chỉ thị:
“Nhâ ‚t, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Nội dung chủ yếu của bản Chỉthị: Xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân ĐôngDương là phát xít Nhật Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làmtiền đề cho cuộc khởi nghĩa Tuy nhiên Đảng ta xác định, sự kiê ‚n Nhâ ‚t đảo chínhPháp chỉ làm cho tình hình chính trị tại Đông Dương lâm vào khủng hoảng chứthời cơ cho khởi nghĩa chưa thâ ‚t sự chín muồi
- Tháng 8 năm 1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện Cuô ‚c khủng
hoảng chính trị ở Đông Dương đã đến tô ‚t đô ‚ Phe phát xít thua trâ ‚n, phát xít
Trang 7Nhâ ‚t đã đầu hàng đồng minh vô điều kiê ‚n Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim hoang man cực đô ‚ HCM và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại Tân Trào để quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong
cả nước Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm một tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh Ngay lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc
Nhận định và nắm bắt được tình hình có sự chuyển biến nhanh chóng, HCM và Trung ương Đảng quyết định tổng khởi nghĩa ngay lúc đó vì:
Thứ nhất, phát xít Nhật đã gục theo phát xít Đức; quân đội Nhật đã và đang tan rã,
bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường
Đồng thời, ta đã xây dựng lực lượng cách mạng hùng hâ ‚u Nhân dân takhông thể chịu đựng bị áp bức được nữa Quyết tâm chiến đấu để giành đô ‚c lâ ‚p tự
do cho dân tô ‚c, không khí cách mạng sôi sục
Bên cạnh đó, cách mạng phải chạy đua gấp rút với quân Anh, Mỹ trước khichúng vào Đông Dương giải giáp quân phát xít, mượn danh nghĩa pháp lý đểchiếm nước ta
Thứ hai, sự kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực lượng cách mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời cơ và vận dụng đúng thời cơ Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến; đồng thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta
Trong tình hình đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày
15 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào (Tuyên Quang) Sau khi phân tích những điềukiện chủ quan và khách quan đã chín muồi để cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ ra vàthắng lợi Hội nghị quyết định: Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dântổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phátxít Nhật trước khi quân Đồng minhvào Đông Dương Hồ Chí Minh đã kiên quyết khẳng định: “Lúc này thời cơ thuâ ‚nlợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cươngquyết giành cho được đô ‚c lâ ‚p”
Trang 8Hưởng ứng sự lời kêu gọi của Đảng, nhân dân cả nước đã vùng lên khởinghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhâ ‚t và chính quyền tay sai Chỉ trongvòng 12 ngày, từ ngày 14 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giànhđược chính quyền trong cả nước Cách mạng Tháng Tám thành công rực rơꄃ Cuối cùng, sự kiện ngày 2/9/1945, Chủ tịch HCM đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” nhằm tuyên bố với toàn thể nhân dân VN và với thế giới: Nước VN Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước VN Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dân đồng bào Nếu chậm trễ không tuyên
bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng Minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng Minh tiếp quản Vì vậy, việc HCM tiếp tục khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức quốc khánh sau khi cuộcTổng khởi nghĩa CMT8 thành công nhằm mục đích ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân VN trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng Minh chứng tỏ Người có cái nhìn xa trông rộng, biết nắm bắt và tận dụng thời cơ
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong CMT8 là: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc" Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền Nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng Minh đến tước
vũ khí; Ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thếsức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để
Thành công của CMT8/1945 chứng tỏ Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch HCM, có tầmnhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi Ðây là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi
2/ Liên hệ:
Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang tính tất yếu Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, văn hoá đến chính trị VN gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc… và có những bước phát triển mới, đảm nhiệm vai trò quan trọng, nâng cao uy tín trên trường quốc tế
Trang 9Trong thời kỳ hô ‚i nhâ ‚p quốc tế ngày nay, Đảng ta cần phải sáng suốt lãnhđạo nhân dân ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tạo thời cơ cho chính mình Bằngviê ‚c đi tắt đón đầu, nhạy bén tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuâ ‚t,…để tạođiều kiê ‚n phát triển toàn diê ‚n đất nước Xây dựng mô ‚t nước Viê ‚t Nam giàu mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh Đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hô ‚i để xứng đángvới sự nghiê ‚p mà cha ông ta đã dày công xây dựng.
3) Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 – 1954) / Tr 128 (1399 từ)
Mqh giữa đường lối và xây dựng chế độ mới:
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành, bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm từ 1945 đến
1947 Nội dung cơ bản của đường lối là dựa trên sức mạnh toàn dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính Đảng ta áp dụng phương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còntrong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ
Đường lối đó được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, lời kêu gọi,bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh,trong đó tập trung ở các văn bản: Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), Chỉ thị Tình hình và chủ trương (3/3/1910), Chỉ thị Hòa để tiến (9/1946), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch HồChí Minh (19/12/1946), tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (8/1947), )
Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: Đang và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở xác định rõ đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến Từ đó đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam
Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược làm cho Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập
Trang 10- Xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
- Gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội
Động lực của cách mạng Việt Nam là nhân dân, chủ yếu là công, nông
Lãnh đạo cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân Nông dân là bạn đồng minh
"lớn mạnh và chắc chắn" của giai cấp công nhân
Phương châm kháng chiến:
Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất làchiến lược toàn dân kháng chiến
Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực tham gia kháng thiếu Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo dài, mỗi đường phố là một mặt trận” Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp"
Trong cống cu c xâỹ d ng chếố đ m i, toàn th nhân dân chính là nguốồn ộ ự ộ ớ ể
l c chính đ thaỹ đ i đâốt nự ể ổ ước, tâốt c m i ngả ọ ười cùng nhau góp s c Bâốt kì ứ
người dân, khống phân bi t vắn hóa, vùng miếồn, tốn giáo , tu i tác…đếồu có ệ ổ
th đóng góp cống s c làm nến s c m nh t p th đâốt nể ứ ứ ạ ậ ể ước, thaỹ đ i b ổ ộ
m t nặ ước nhà
Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằngquân sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định Động
Trang 11viên và phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật chất, tinh thần trong nhân dân phục vụ kháng chiến thắng lợi
- Vếồ chính tr : Th c hi n đoàn kếốt toàn dân, tắng cị ự ệ ường xâỹ d ng Đ ng, chínhự ảquỹếồn, các đoàn th nhân dân; đoàn kếốt v i Miến, Lào và các dân t c ỹếu ể ớ ộchu ng t do, hòa bình ộ ự
- Vếồ quân s : Th c hi n vũ trang toàn dân,ự ự ệ tếu di t đ ch… Vếồ kinh tếố: xâỹ ệ ị
d ng kinh tếố t cung t túc, t p trung phát tri n nống nghi p, th cống ự ự ự ậ ể ệ ủnghi p, thệ ương nghi p và cống nghi p quốốc phòng.ệ ệ
- Vếồ vắn hóa: Xóa b vắn hóa th c dân, phong kiếốn, xâỹ d ng nếồn vắn hóa ỏ ự ựdân ch m i.Vếồ ngo i giao: thếm b n b t thù , bi u dủ ớ ạ ạ ớ ể ương th c l c ự ự
Trong cống cu c xâỹ d ng chếố đ m i, Đ ng ta ch trộ ự ộ ớ ả ủ ương xâỹ d ng toàn ự
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững chắc Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân với
tâm thế kĩ lươꄃng, cẩn thận và đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể
Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là sự kế thừa tư tưởng chiến lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ HồChí Minh Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến
Trang 12tranh nhân dân Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất Trên cơ sở đó, tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quá sự ủng hộ, giúp đơꄃ tinh thần và vật chất của quốc tế khi
có điều kiện Lấy độc lập, tự chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối kháng chiến của Đảng trở thành ngọn cờ dẫn đường, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chết thực dân Pháp xâm lược Đường lối này cũng được Đảng áp dụng trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng
4) Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn (1959 – 1964) / Tr.186 (1059 từ)
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với xuthế chung của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải đề ra được đường lối đúng đắn, hợp lí
Tháng 1/1959, Hội nghi Trung ương 15 (mở rộng) đã ra nghị quyết về tình hình cách mạng miền Nam với tinh thần cơ bản là tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân Nghị quyết 15 đã vạch rõ phương hướng tiến lên cho cách mạng miền Nam, tạo đà cho cuộc khởi nghĩa từng phần nổ ra ngày càng rộng lớn
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô
Hà Nội: Về hòa bình, thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương đó phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới Song, ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình thế Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc
Trang 13Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi
đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân miền Bắc; mặt khác là tích cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng của cả nước Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của miền Bắc ngày càng được vững mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng và uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng thêm tin tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà Cách mạng ở miền Nam hiện nay đang tiếp tục phát huy ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của
cả dân tộc Việt Nam Phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để đánh bại chính sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ - Diệm, đi đến đánh đổ sự thống trị tàn khốc của chúng, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập
và dân chủ
Tháng 1/1961 và tháng 2/1962, các cuộc hội nghị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phân tích, đánh giá tình hình giữa ta và địch ở miền Nam kể từ sau ngày Đồng khởi và ra Chỉ thị về “Phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”, Tinh thần của Chỉ thị là giữ vững thế chiến lược tiến công của cách mạng miền Nam đã giành được từ sau phong tràoĐồng khởi, đưa đấu tranh vũ trang phát triển lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược: đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn rừng núi, bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận Trên thực tế, đây là quyết định chuyển cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam từ khởi nghĩa từng phân sang chiến tranh cách mạng và chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể cho cách mạng miền Nam là phải tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân ngụy Sài Gòn và làm phá sản quốc sách “ấp chiến lược” của địch
Bộ Chính trị nhấn mạnh, do đặc điểm phát triển không đều của cách mạng miền Nam, tương quan lực lương ở mỗi vùng khác nhau, đa hình hoạt động và tác chiến khác nhau, nêu phương châm đấu tranh của ta phái linh hoạt, thích hợp với từng nơi, từng lúc cụ thể: Vùng rừng núi: lấy đấu tranh vũ trang là chủ yếu vùng nông thôn đồng bằng: Kết hợp hai hình thức đấu tranh vũ trang và chính trị, vùng
đô thị lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu
Trang 14Tháng 12/1963, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ chín, xác định những vấn đề quan trọng về đường lối cách mạng miền Nam và đường lối đoàn kếtquốc tế của Đảng Nghị quyết Trung ương 9 đã xác định “đấu tranh vũ trang đóng vai trò quyết định trực tiếp” thắng lợi trên chiến trường
Tóm lại, m uốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển lực lượng để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên cơ sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững và đẩy mạnhphong trào cách mạng ở miền Nam Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dântộc dân chủ nhân dân trong cả nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ ở miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các chính sách của đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà
5) Phân tích mối quan hệ giữa chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975) / Tr.209 (1427 từ)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính ngoại giao để chống Mỹ, cứu nước:
trị-Những năm quân và dân hai miền Nam, Bắc đối phó với chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, ta đã đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966; 1966-1967 của Mỹ, đánh bại chủ trương chiến lược “tìm diệt”, rồi
“quét-giữ”, hòng giành thế chủ động chiến trường của chúng Cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 giành được thắng lợi to lớn, đã làm lung lay
ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho Mỹ phải thừa nhận không thể giành thắng lợi quân sự Cộng với thất bại trong cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn đối với miền Bắc, Mỹ buộc phải chấp nhận đàm phán với ta để tìm lối thoát khỏi cuộc chiến tranh hao người, tốn của, mất lòng dân này
Khi chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao, Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta
đã giành được trên chiến trường Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình
Trang 15quốc tế hiện nay, đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Thực tế cuộc kháng chiến cho thấy, quân và dân ta, từ sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhờ phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa hoạt động quân
sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp cuộc chiến đấu trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên trường quốc tế và trong lòng nước Mỹ, quân
và dân ta đã từng bước giành được thắng lợi to lớn, buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở miền Nam, từng bước rút quân chiến đấu về nước, chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc
Mặc dù vậy, Mỹ vẫn triển khai thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thay cho chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở rộng chiến tranh xâm lược sang cả Cam-pu-chia và Lào Bởi thế, yêu cầu đẩy mạnh cả ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có những thay đổi, càng trở nên cấp thiết Trên chiến trường, năm 1971-1972 quân ta mở các đợt hoạt động quân sự mạnh mẽ, đánh bại các cuộc hành quân, càn quét của quân Mỹ, quân ngụy sang Cam-pu-chia, sang Nam Lào, tiến công địch ở Trị Thiên, Khu 5 và miền Đông Nam Bộ, đối phó có hiệu quả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của
Mỹ, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc cuối tháng 12-1972 Về chính trị, ngoại giao, ta đã đấu tranh và vạch trần âm mưu của Mỹ lôi kéo một số nước trong phe xã hội chủ nghĩa Đồng thời, ta đẩy mạnh tuyên truyền
về cuộc kháng chiến chính nghĩa, hướng dư luận quốc tế vào lên án Mỹ âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh, sử dụng cả máy bay ném bom chiến lược ném bom rải thảm xuống giữa thủ đô Hà Nội một cách tàn bạo, có tính hủy diệt Ta cũng lợi dụng năm 1972 là năm bầu cử tổng thống Mỹ để tranh thủ dư luận, gây sức ép buộc chính quyền Mỹ phải sớm ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương
Cơ chế và cục diện “vừa đánh vừa đàm”, được mở ra từ sau khi Hội nghị
Pa-ri nhóm họp, chính là sự phản ánh sinh động phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, đã phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, đã từng bước đánh thắng địch, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận thương lượng và ký kết theo những điều kiện của ta Mỹ đã thất bại trong mưu đồ đàm phán trên thế
mạnh, không ép buộc được ta phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đặt ra mặc
dù chúng có sức mạnh quân sự vượt trội Chiến dịch ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng cũng không khuất phục được quân và dân ta Vì thế, việc phải đặt bút
ký vào Hiệp định Pa-ri, phải rút hết quân về nước
Trang 16Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình là kết quả của một chặng đường lịch sử kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, trong đó đấu tranh ngoại giao đóng vai trò quan trọng cùng với đấu tranh quân sự, chính trị đánh bại
cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của kẻ thù, buộc Mỹ phả rút hết quân, tạo cơ sở vô cùng thuận lợi để quân và dân ta tiến lên đánh cho ngụy nhào.Trong giai đoạn sau khi ký Hiệp định Pa-ri, để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta vẫn khẳng định chỉ có thể bằng con đường sử dụng bạo lực cách mạng theo hai khả năng: hoặc là giành thắng lợi bằng một cao trào cách mạng của quần chúng hoặc là lại tiến hành chiến tranh cách mạng để tiến lên giành toàn thắng Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, họp từ 19-6 đến 6-7-1973 (đợt 1), cho rằng, tình hình cách mạng “có thể diễn ra dưới hình thức chuyển từ phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định lên thành một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong vùng địch còn kiểm soát Đây là khả năng giành thắng lợi không phải thông qua con đường chiến tranh cách mạng mà chủ yếu bằng phong trào đấu tranh cách mạng, bằng hành động bạo lực của quần chúng, nhưng cũng phải trên cơ sở ta giữ vững và củng cố được thế quân sự của ta ngày càng mạnh, biết dùng sức mạnh quân sự của ta , kết hợp chính trị với quân sự và ngoại giao để dằn địch lại, không để cho chúng mở rộng xung đột quân sự để gây lại chiến tranh”
Báo cáo nhấn mạnh: “Việc vận dụng đúng đắn, linh hoạt và sắc bén phương châm đấu tranh trong thời kỳ hiện nay là vấn đề rất quan trọng Trong quá trình tiến lên của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới thì phương châm đấu tranh của ta phải là đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao; kết hợp ba mũi chính trị, quân sự và binh vận, nắm vững phương châm ba vùng, đểgiành dân và giành quyền làm chủ”
Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân ta ở miền Nam vừa tăng cường đấu tranh quân sự, chính trị, chống địch lấn chiếm, giành và giữ quyền làm chủ, chủ động chuẩn bị lực lượng, vật chất mọi mặt, vừa kiên trì cuộc đấu tranh ngoại giao đòi chính quyền, quân đội Sài Gòn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri.
Thực tế diễn biến của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, quyết đoán trong sự chỉ đạo của Đảng trong việc động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đẩy mạnh đấu tranh quân sự chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, nên đã làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta Điều
Trang 17đó đã dẫn đến thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào ngày30-4-1975 lịch sử.
6) Vì sao trong quá trình xây dựng CNH -XHH thời kỳ đổi mới ĐCSVN lại gắn vấn đề CNH – HĐH với vấn đề bảo vệ môi trường? /Tr.286 (932 từ)
ĐCSVN luôn ban hành những cương lĩnh, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn vấn đề công nghiệp hóa – hiện đại hóa với vấn đề bảo vệ môi trường như sau:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã nêu ra 6 bài học chủ yếu qua 10 năm đổimới, trong đó có bài học về tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái./ Tr 286
Cương lĩnh năm 2011 cũng nêu lên mục tiêu bảo vệ môi trường trong tám phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường…”/ Tr 340
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng bổ sung đề cập tới những định hướng lớn phát triển mọi mặt của đất nước, trong đó đề cập tới vấn đề môi trường: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ônhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển năng lượng sạch, sản xuất và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu, dự báo, thực hiện các giải pháp ứng phó mới biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên./ Tr 343
Qua những mục tiêu trên, ta thấy Đảng coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường khi thực hiện CNH – HĐH trong thời kỳ đổi mới bởi vì những nguyên nhân sau:
a) Nguyên nhân trực tiếp: Vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trườngsinh thái, biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên ngày càngtrầm trọng cùng với đà thực hiện CNH – HĐH đất nước
- Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000
cơ sở sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ô nhiễm, hơn 200 KCN cần được
Trang 18kiểm soát về khả năng gây ô nhiễm Thực tế là, ô nhiễm nguồn nước, khôngkhí đang lan rộng không chỉ ở các khu công nghiệp, khu đô thị, mà ở cảnhững vùng nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khíhậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường;thành quả phát triển của nhiều địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợtthiên tai có thể bị xóa sạch.
b) Nguyên nhân sâu xa:
- Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, khả năng thích ứng với biến đổi khí
hậu còn bất cập Tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng
- Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc ứng phó với
biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản
- Đẩy mạnh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn là động lực lớn phát
triển các làng nghề Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần lớn các làng nghề gây ô nhiễm môi trường
- CHH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa Đây thực sự là sức ép lớn về môi trường
trong quản lý đô thị, nhất là những thành phố lớn như TP HCM, Hà Nội - những tụ điểm phát thải các chất độc hại
- Sử dụng công nghệ, máy móc cũ không đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường,
nhiều sản phẩm hoặc bao bì gây hại cho môi trường dẫn đến ô nhiễm môi trường
Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có những mục tiêu xử lý và phòng ngừa hậu quả về môi trường:
Hội nghị Trung ương 7 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24 NQ/TW ngày 6/3/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường Đây là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước Trung ương đã nêu ra các quan điểm, mục tiêu chung, mục tiêu cụ