Vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng nhấn mạnh trước hết đến sự phát triển lực lượng sản xuất để tạo cơ sở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHẬT
BẢN
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ-NIN
mạng công nghiệp 4.0 đối với các quốc gia đang phát triển Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay.
Họ và tên sinh viên: Phạm Bá Giang
Mã sinh viên: 1577004027
Lớp: NB 15-02
Trang 2MỤC LỤC
NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN
1.1 Phương thức sản xuất 2
1.2 Lực lượng sản xuất 3
1.3 Quan hệ sản xuất 4
1.4 Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất 4
1.5 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất 5
II LIÊN HỆ THỰC TIỄN 7
2.1 Thực trạng chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam hiện nay 7
2.2 Nguyên nhân, hạn chế của nguồn lao động ở Việt Nam 8
III GIẢI PHÁP 9
PHẦN KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU
Con người là một đối tượng được nghiên cứu và quan tâm hàng đầu từ cả triết học Cổ đại, Hiện đại và Đương đại Con người đóng một vai trò cực kỳ lớn trong quá trình sản xuất và cải tạo của cải vật chất Lực lượng sản xuất chính là yếu tố quyết định mọi sự thay đổi của các kinh tế - xã hội Mặc dù ngày nay, khoa học - công nghệ đã có bước phát triển mạnh
mẽ, khoa học đã từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp nhưng có thể khẳng định, người lao động vẫn là yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại
Vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng nhấn mạnh trước hết đến sự phát triển lực lượng sản xuất để tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đảng ta đã đưa ra quan điểm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, nhất là phát triển lực lượng sản xuất hiện đại Trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, Đảng ta đặc biệt ưu tiên phát triển nhân tố người lao động, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết Do đó, việc nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn
Trang 4nhân lực, trong đó có nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và là một tất yếu khách quan Đây cũng
là một trong những nhiệm vụ được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững
Trong những năm qua, mặc dù đội ngũ người lao động tham gia vào quá trình sản xuất vật chất ở nước ta ngày càng tăng lên về số lượng; được cải thiện
Trang 5về thể lực; nâng cao về trình độ, tay nghề, có đóng góp lo lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại thì người lao động ở nước ta còn nhiều bất cập Như là sức khỏe, thể lực còn kém; trình độ, tay nghề còn thấp; ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái chưa cao, tính tích cực trong lao động sản xuất còn hạn chế… Những điểm trừ đó
đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại Nền kinh tế chủ yếu vẫn phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa vào tri thức
và khoa học công nghệ, thiếu lao động có kỹ năng, năng suất lao động và tốc độ phát triển kinh tế thấp, đời sống nhân dân chậm cải thiện
Do vậy, để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội, một trong những vấn đề cốt lõi nhất, cần được ưu tiên hàng đầu là phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại, tạo ra bước đột phá để thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững cho đất nước Và để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của người lao động cũng như tìm ra những giải pháp để phát huy và cải
thiện nguồn lao động hiện đại ở Việt Nam, tôi đã chọn đề tài “ Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay”.
PHẦN NỘI DUNG
1.1 Phương thức sản xuất
Trang 6Quá trình sản xuất vật chất được thực hiện bằng những phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng tạo thành cách thức sản xuất trong một giai đoạn nhất định của lịch sử Với một cách thức nhất định của sự sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện những tính chất, kết cấu và đặc điểm tương ứng về mặt xã hội
Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản
xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng Nhờ
vậy mà ta có thể phân biệt được những sự khác nhau của các thời đại kinh tế khác nhau
Để hiểu rõ hơn về phương thức sản xuất, ta cần khảo sát 02 thành tố của nó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.2 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên Khi tiến hành sản xuất vật chất, con người dùng những công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu thiết yếu của mình
Những yếu tố cơ bản cấu thành nên lực lượng sản xuất là người lao động và tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối
Trang 7tượng lao động Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động ( máy móc, dụng cụ ) và đối tượng lao động khác ( phương tiện vận chuyển và bảo quản sản phẩm…) Đối tượng lao động
là những yếu tố nguyên nhiên vật liệu có sẵn trong tự nhiên (than, đất đai, gỗ ) hoặc nhân tạo (pôlime, hóa chất ) Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, là người tạo ra và sử dụng tư liệu lao động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm.
Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong việc tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất Do đó, lực lượng sản xuất cũng chính là thước đo đánh dấu
sự phát triển hoạt động sản xuất vật chất của con người ở mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định
1.3 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người và con người
trong quá trình sản xuất vật chất, là một trong những biểu hiện của quan hệ xã hội, giữ vai trò xuyên suốt trong quan hệ xã hội
vì quan hệ sản xuất là quan hệ đầu tiên, quyết định những quan
hệ khác Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất bao gồm:
+) Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Nêu ra mối quan hệ giữa các nhân trong việc sở hữu và sử dụng tư liệu sản xuất.
Trang 8+) Quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất: Nêu
ra các mối quan hệ giữa các cá nhân trong việc điều hành,
tổ chức, phân công lao động.
+) Quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó: Nêu ra quan hệ giữa các cá nhân trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà cá nhân được hưởng.
Trong ba mặt quan hệ của quan hệ sản xuất đều có sự tác động qua lại lẫn nhau và quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ giữ vai trò quyết định trong quan hệ sản xuất Đồng thời quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội là sự khác nhau
về bản chất và có tính chất đối lập
1.4 Sự tác động qua lại giữa Lực lượng sản xuất và Quan
hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất như 2 mặt của một đồng xu, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Vật chất
có một khuynh hướng chung là sự không ngừng vận động và phát triển Lực lượng sản xuất có tác động đến quan hệ sản xuất bằng cách quyết định và thay đổi nó sao cho phù hợp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi một phương thức sản xuất ra đời thì quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ra đời Tuy nhiên, khi sự phát triển của lực lượng lao động đạt tới một trình độ nhất định sẽ khiến cho
Trang 9quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp với sự phát triển trở thành không còn phù hợp Do yêu cầu khách quan tất yếu của sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn Từ việc quản hệ sản xuất mới ra đời cũng dẫn đến việc phương thức sản xuất cũ mất đi, khiến cho phương thức sản xuất mới ra đời
Quan hệ sản xuất mang tính đối lập tương đối và cũng tác động qua lại đến lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối Do đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng lao động theo hai hướng: Nếu phù hợp, nó có thể thúc đẩy, làm động lực cho lực lượng lao động phát triển Và nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng lao động khi mà nó không phù hợp Từ đó, quan hệ sản xuất cũ sẽ bị thay thế bằng quan hệ sản xuất mới
để tiếp sức cho sự phát triển
1.5 Vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất vật chất
Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng của con người và của
xã hội loài người Con người tiến hành lao động sản xuất để thỏa mãn các nhu cầu tồn tại và các nhu cầu tinh thần, xã hội Không chỉ nhằm mục đích thích nghi với môi trường mà còn để cải tự nhiên, xã hội và chính con người
Con người luôn chiếm vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định trong mọi phương thức sản xuất Con người chế tạo và sử dụng công cụ để sản xuất ra của cải vật chất Con người biết lập
ra kế hoạch, lựa chọn phương pháp lao động cho sự phát triển
Trang 10xã hội Các-mác đã khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”
Con người dùng trí tuệ và khả năng của mình để chế tạo ra những tư liệu lao động giúp ích và thúc đẩy con người phát triển Tư liệu lao động dù ý nghĩa hay hữu dụng đến đâu nhưng nếu tách khỏi người lao động thì không thể phát huy khả năng, không thể trở thành lực lượng sản xuất cho xã hội Do đó, nhân
tố con người đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng yếu tố con người, coi con người là mục tiêu, là động lực phát triển của xã hội Trong các văn kiện các Đại hội
của Đảng đã khẳng định: “Con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững”
Các quan điểm trên đặt ra cho vấn đề phát triển nguồn lực con người ở nước ta những nhiệm vụ to lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực cơ bản, có tính quyết định đối với việc nâng cao chất lượng con người như: Giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe, dân số và môi trường sống của con người
Như vậy, ta có thể rút ra rằng động lực chủ yếu của sự tiến
bộ xã hội là lực lượng sản xuất, mà trong lực lượng sản xuất thì gồm 2 yếu tố là người lao động và tư liệu sản xuất Như ta đã nói và nhắc đến ở các phần trên, người lao động là chủ thể của quá trình lao động Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong việc tác động vào giới tự nhiên để tạo
Trang 11ra của cải vật chất Vậy ta có thể suy ra rằng, yếu tố con người
là yếu tố quan trọng nhất trong sự tiến bộ xã hội
Nguồn lực con người (nguồn nhân lực) là tổng thể những khả năng, tiềm năng của một cá nhân hay cộng đồng có đóng góp cho sự phát triển cho xã hội Nguồn lực con người thể hiện vai trò quan trọng việc cùng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong các mối quan hệ với các nguồn lực khác Mác – Lênin cho rằng, con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất góp phần vào phát triển xã hội Vai trò của nguồn lực con người được đặt tại ví trí trung tâm cùng các nguồn lực khác như các nguồn tài nguyên, vốn vật lực khác Chúng tác động lẫn nhau, cùng nhau phát huy và khơi dậy những tính chất, giá trị tốt nhất của mình Từ đó ta thấy, đối với bất kỳ sự phát triển nào thì nguồn lực con người luôn được coi trọng nhằm thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội
II LIÊN HỆ THỰC TIỄN
2.1 Thực trạng chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam hiện nay
Nguồn nhân lực Việt Nam có lực lượng lao động khá dồi dào
so với nhiều nước trên thế giới, cơ cấu lao động trẻ Và số lượng nhân lực của Việt Nam cũng đang ngày càng tăng cùng với sự gia tăng dân số Tính đến năm 2020, quy mô dân số cả nước đạt 97,58 triệu người (số dân đông thứ ba khu vực Đông Nam Á), trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có số lượng khoảng 54,6 triệu người, chiếm gần 65% so với quy mô dân số
cả nước (theo số liệu của Tổng cục Thống kê)
Trang 12Lực lượng lao động Việt Nam dù dồi dào nhưng lại có tình trạng dư thừa lao động Thị trường lao động có nhu cầu tuyển dụng nhân lực chất lượng cao, tuy nhiên việc tuyển dụng lực lượng này rất khó bởi nguồn lao động chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà tuyển dụng, tạo ra tình trạng dư thừa lao động Nhiều ngành nghề, lĩnh vực luôn ở trong tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực chất lượng cao như: kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử,
Nguồn nhân lực Việt Nam mang điểm mạnh là con người Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, chịu khó tìm hiểu, học hỏi Cầu ý chí và có tinh thần tự lực, tự cường phát triển về thể lực, trí lực Linh hoạt trong việc tiếp thu và áp dụng các kiến thức khoa học – kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Đây là một lợi thế của nước ta trong quá trình hội nhập Tuy nhiên, những điểm mạnh này chưa thể bù trừ cho những điểm yếu Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đang còn nhiều hạn chế bởi tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, lao động có tay nghề cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của thị trường Nhân lực Việt Nam có thể trạng thấp kém, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cường độ lao động cao của xã hội công nghiệp hiện đại Tay nghề qua đào tạo vẫn còn thấp Trình độ giáo dục nguồn lao động Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển hiện nay Lao động phân bổ không đều giữa các vùng: Các vùng đất rộng có tỷ trọng lao động thấp (vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động Tây Nguyên chiếm 6,5% lực lượng lao động), phân bổ lao động chưa tạo điều kiện phát huy lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động
và tác động tích cực đến sự di chuyển lao động từ các vùng nông thôn ra thành thị Lực lượng lao động học vấn cao cũng