Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất này là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất.Cuộc cách mạng công nghiệp này được đánh dấu bởi dấu mốc quan
Trang 1CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐỐI VỚI QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Liên hệ Việt Nam
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài.
Sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão hiện nay đã tác động tới rất nhiều lĩnh vựctrong cuộc sống Công nghệ phát triển từng ngày đã giúp nâng cao đời sống củacon người giúp cho cuộc sống được thuận lợi hơn tháo gỡ được nhiều khó khănvướng mắc cũng như nhu cầu bức thiết của cuộc sống
Có thể thấy trong những năm qua cụm từ “cách mạng công nghiệp 4.0”được nhắc nhiều trên các phương tiện truyền thông nhằm phổ biến tới người dân
về cuộc cách mạng công nghiệp mới đã và đang diễn ra trên toàn cầu và những tácđộng đang làm thay đổi về lĩnh vực kinh tế đồng thời thay đổi hoàn toàn hệ thốngsản xuất và quản trị hiện nay
Xuâts phát từ sự phát triển của KHCN làm thay đổi mạnh mẽ chuỗi cungứng và sức ép trước việc quản trị chuỗi cung ứng trong bối cảnh có rất nhiều thayđổi từ bên trong chuỗi cung ứng trong thời gian sắp tới đã đặt ra nhiều cơ hội vàthách thức trong việc tìm hiểu và đón nhận những tác động từ cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0
Với mong muốn tìm hiểu sâu về đề tài mới mẻ này em đã quyết định chọn đềtài “CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐỐIVỚI QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ.
Mục tiêu: Trên cơ sở nghiên cứu đến những tác động của cuộc CMCN 4.0
đến nền kinh tế và thực trạng, cơ hội và thách thức đặt ra cho nhà nước Việt
Trang 2Nam.Và nêu ra một số giải pháp mang tính chiến lược.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cuộc CMCN 4.0
và tác động của nó lên tình hình thương mại kinh tế của nhà nước ta
Phân tích và đánh giá thực trạng các điều kiện để tận dụng tác động tích cực
và hạn chế các tác động tiêu cực của nó đến thị trường thương mại của Việt Nam.Phương hướng và một số giải pháp vận dụng tác động tích cực và hạn chế tácđộng tiêu cực của cách mạng CN 4.0 đối với kinh tế chính trị của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Cơ hội và thách thức xoay quanh cuộc CMCN 4.0 đến các quốc gia đang pháttriển
Phạm vi giới hạn từ năm 2010 đến 2021
4 Phương pháp nghiên cứu.
Các dữ liệu cần thu thập:
_ Dữ liệu về công nghiệp và những ứng dụng của nó
_ Dữ liệu về quản lý thị trường, nền kinh tế
_ Các bài báo cáo nói về thực trạng CMCN 4.0 ở Việt Nam
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
_ Từ sách báo tạp chí, internet,
_ Giáo trình, tài liệu tham khảo,
Phương pháp xử lý số liệu:
Phân tích ảnh hưởng của nền CN 4.0
Dựa trên những già ảnh thu thập được đưa ra những kết luận và giải pháp lâu dài
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN XOAY QUANH CUỘC CÔNG NGHIỆP 4.0 CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG ĐÓ CÓ VIỆT NAM.
I Tổng quan về cuộc CMCN 4.0
1 Khái niệm và sự ra đời.
Trang 3Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
Bắt đầu vào khoảng năm 1784 Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ nhất này là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất.Cuộc cách mạng công nghiệp này được đánh dấu bởi dấu mốc quan trọng là việcJames Watt phát minh ra động cơ hơi nước năm 1784 Phát minh vĩ đại này đã châmngòi cho sự bùng nổ của công nghiệp thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến châu Âu vàHoa Kỳ
Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã mở ra một kỷ nguyên mới tronglịch sử nhân loại – kỷ nguyên sản xuất cơ khí, cơ giới hóa Cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật cũ có tính truyền thống của thờiđại nông nghiệp (kéo dài 17 thế kỷ), chủ yếu dựa vào gỗ, sức mạnh cơ bắp (laođộng thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuậtmới với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và nănglượng mới là sắt và than đá Nó khiến lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triểnmạnh mẽ, tạo nên tình thế phát triển vượt bậc của nền công nghiệp và nền kinh tế.Đây là giai đoạn quá độ từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất cơ giới trên
cơ sở khoa học Tiền đề kinh tế chính của bước quá độ này là sự chiến thắng củacác quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, còn tiền đề khoa học là việc tạo ra nền khoahọc mới, có tính thực nghiệm nhờ cuộc cách mạng trong khoa học vào thế kỷ XVII
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra từ khoảng năm 1870 đến khiThế Chiến I nổ ra Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sửdụng năng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy
mô lớn Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển củangành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép, và (đặc biệt) là sản xuất và tiêu dùnghàng loạt Cuộc CMCN lần thứ 2 đã tạo nên những tiền đề mới và cơ sở vững chắc
để phát triển nền công nghiệp ở mức cao hơn nữa
Trang 4Cuộc cách mạng này được chuẩn bị bằng quá trình phát triển 100 năm củacác lực lượng sản xuất trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và bằng sự phát triểncủa khoa học trên cơ sở kỹ thuật Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này làchuyển sang sản xuất trên cơ sở điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộtrong sản xuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần túy, biến khoa họcthành một ngành lao động đặc biệt Cuộc cách này đã mở ra kỷ nguyên sản xuấthàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp Công nghiệphóa thậm chí còn lan rộng hơn tới Nhật Bản sau thời Minh Trị Duy Tân, và thâmnhập sâu vào nước Nga, nước đã phát triển bùng nổ vào đầu Thế Chiến I Về tưtưởng kinh tế - xã hội, cuộc cách mạng này tạo ra những tiền đề thắng lợi của chủnghĩa xã hội ở quy mô thế giới.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự
ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin (CNTT), sử dụng điện tử và công nghệthông tin để tự động hóa sản xuất Cuộc cách mạng này thường được gọi là cuộccách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát triển củachất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet(thập niên 1990)
Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên vàcác nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất đểtạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơcấu của nền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I(nông - lâm - thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sảnxuất xã hội Làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất, cuộc Cách mạng KHCNhiện đại đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người, nhất là ở các nước
tư bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc cách mạng này
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Trang 5Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) xuấtphát từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013.
“Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra
sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bêntrong
Cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần
ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số
và sinh học Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, 4.0 đangtiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính Hơn nữa, nóđang phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Và chiều rộng và chiều sâucủa những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất,quản lý và quản trị
Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo(AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Trên lĩnhvực công nghệ sinh học, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu đểtạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biến thựcphẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu Cuối cùng là lĩnhvực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene,skyrmions…) và công nghệ nano
Hiện Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như
Mỹ, châu Âu, một phần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng côngnghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt
Mặt trái của Cách mạng Công nghiệp 4.0 là nó có thể gây ra sự bất bìnhđẳng Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động Khi tự động hóa thay thế laođộng chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực,hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là nhữngngười làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải
Trang 6Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới đã đặt ra vấn đề này theo các giaiđoạn khác nhau Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng,trí thức, lao động kỹ thuật Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậmhơn Với sự chuyển động của cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới thế giới
sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các doanh nghiệp thay đổi Sau đó, những bất ổn vềkinh tế nảy sinh từ Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ dẫn đến những bất ổn về đờisống Hệ lụy của nó sẽ là những bất ổn về chính trị Nếu chính phủ các nước khônghiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làn sóng công nghiệp 4.0, nguy cơ xảy ra bất ổn trêntoàn cầu là hoàn toàn có thể Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếptrên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ Thôngtin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ lụy khônlường
Cách mạng công nghiệp lần 4 mang đến cơ hội, và cũng đầy thách thức vớinhân loại
Đối với lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
Xu thế công nghệ đối với các hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác và chếbiến dầu khí sẽ thay đổi nhiều dưới cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
- Khảo sát địa vật lý
Các phương pháp mới phi truyền thống như phương pháp điện ngoài biển,
Trang 7trọng lực, từ chính xác cao, các phương pháp từ vệ tinh, ứng dụng laser là nhữngcông nghệ mới đang được nghiên cứu phát triển và sẽ được áp dụng Trong minhgiải địa vật lý, xu thế chuyển từ minh giải trong không gian 2 chiều (2D) sangminh giải trong không gian 3 chiều (3D) và 4 thành phần (4C), làm việc trực tiếpvới tài liệu điểm sâu chung (CDP), minh giải các dấu hiệu trực tiếp của dầu khí(DHI), khai thác thông tin động lực học khác là những công nghệ mới Những hệthống đo đạc, xử lý và minh giải này trong tương lai có thể kết nối với nhau chặtchẽ hơn, cho phép xử lý, minh giải trong thời gian thực cùng với thu thập tín hiệutrong khi đo đạc.
- Khai thác dầu khí
Các công ty dầu khí lớn đã áp dụng sự phát triển của công nghệ và phươngpháp mới Một số xu hướng công nghệ là hệ thống xử lý dưới biển, giếng côngnghệ thông minh, công nghệ quản lý thời gian xử lý, phân tích và sản xuất thực.Công nghệ xử lý dưới biển sâu đã được các công ty dầu khí lớn sử dụng để tiếp cậncác khu vực sâu hoặc trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt Những lợi thếcủa việc đưa các thiết bị xử lý đáy biển là để tối đa hóa và gia tăng hệ số thu hồidầu, kéo dài tuổi thọ trong lĩnh vực này; giảm số lượng mỏ sản xuất cũng như cácnhà máy xử lý trên bờ
Theo khảo sát của các chuyên gia, chi phí kỹ thuật cho khai thác giếng nướcsâu chiếm khoảng 40% chi phí tổng thể của dự án, do vậy để giảm đầu tư các côngnghệ đã được nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu quả tìm kiếm, khai thác trongcác công trình dưới biển Bên cạnh việc tối ưu hóa quy trình, các công nghệ tiêntiến như hệ thống hoàn thiện giếng thông minh cho phép khai thác dầu khí từnhiều vỉa chứa từ một giếng khoan, giúp giảm chi phí đầu tư thăm dò khai thác tạimột diện tích/khu vực có nhiều tầng chứa hoặc nhiều tầng khai thác
Trang 8Từ góc độ công nghệ thông tin, sự phát triển của cơ sở dữ liệu lớn, được gọi là
“big data”, đã cho phép các ngành công nghiệp của các phân khúc khác nhau theodõi thời gian thực và kiểm soát hoạt động lẫn nhau Trong ngành công nghiệp dầukhí, đã có một số sáng kiến nhằm theo dõi thời gian thực và điều khiển thiết bị và
hệ thống Dự báo làn sóng công nghệ này sẽ nhanh chóng lan rộng trong ngànhcông nghiệp dầu khí, hỗ trợ quản lý thời gian thực của các lĩnh vực dầu khí ngoàikhơi, cho phép quản lý sản xuất tốt hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Các
“vùng khai thác dầu kỹ thuật số” (digital oil field - DOF) là một xu hướng trongngành công nghiệp và có thể tối đa hóa lợi nhuận kinh tế Phần mềm DOF được sửdụng như một phần mềm quản lý các vùng khai thác dầu khí thông qua hệ thốngmáy tính [5]
Ngoài ra, công nghệ nano trong lĩnh vực thăm dò khai thác cũng mang lạinhiều thành tựu trong lĩnh vực thăm dò khai thác Công nghệ cảm biến nano, vớicác nano quang học có thể xác định được tốc độ dòng chảy của dầu và các sóngsiêu âm trong giếng dầu chính xác Ứng dụng công nghệ này sẽ cho những kết quả
đo đạc chính xác, tin cậy, tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng hiệu suất, tạo ra mộtbước cải tiến lớn trong thăm dò dầu khí
Đối với lĩnh vực lọc hóa dầu
Những năm gần đây, việc cải tiến công nghệ điều khiển có sự tiến bộ với hệthống điều khiển dự báo dựa trên mô hình điều khiển đa biến tạo khả năng điềukhiển trong một chương trình điều khiển thống nhất Thiết bị điều khiển có thể tự
dự báo, tự điều khiển, xử lý các trường hợp rối loạn chứ không chỉ có chức năngthông báo khi đã xảy ra Mô hình điều khiển đa biến đánh dấu sự tiến bộtrong công nghệ tự động hóa của nhà máy lọc - hóa dầu Cùng với tiến bộ trongthiết bị điều khiển, hệ thống truyền tín hiệu bằng cáp quang cũng được phổ biến sửdụng đồng thời với các thiết bị đo lường hiện đại online được ứng dụng: thiết bị đo
Trang 9NIR-analyser, chương trình LIP (Liner Programme).
Hiện nay, phần lớn các nhà máy lọc dầu trên thế giới đều sử dụng phần mềm
LP Đây là một giải pháp phần mềm dựa trên kỹ thuật lập trình tuyến tính nhằm tối
ưu hóa lựa chọn sản xuất từ việc lựa chọn dầu thô có sẵn, lập kế hoạch sản xuất và
cơ cấu sản phẩm cũng như tối đa margin Nhờ phần mềm tự động này mà các tínhtoán phức tạp trong sản xuất của nhà máy lọc dầu có thể được thực hiện, với dữliệu đầu vào đơn giản là giá dầu thô và giá sản phẩm sản xuất LP được áp dụngtrong một nhà máy lọc dầu để thực hiện: lập kế hoạch sản xuất với những đầu vàokhác nhau, xác định hoạt động trong tương lai trên cơ sở tài sản hiện tại; so sánhhiệu suất trong quá khứ và phân bổ sản phẩm, song song với việc cải tiến mô hình
để hoạt động hiệu quả; tìm kiếm phương thức hoạt động mới mang lại hiệu quả caohơn (thử nghiệm phối trộn dầu thô, đa dạng sản phẩm, kịch bản giá khác nhau…);phát triển dự án, đánh giá hiệu quả của đơn vị sản xuất mới
Công nghệ quản lý bảo trì Predictive Maintenance đã được áp dụng tại một sốnhà máy lọc dầu trên thế giới Các turbine gió được trang bị cảm biến có thể gửi
dữ liệu về hoạt động thông qua phần mềm M2M để các kỹ sư kiểm soát tình hình.Công nghệ này phân tích dữ liệu, từ đó đề xuất các biện pháp bảo trì, với trọng tâmđặt trên các nguy cơ gây ra gián đoạn ngoài kế hoạch Predictive Maintenance có
độ tin cậy cao, từ 64 - 94% Nhờ áp dụng công nghệ này, Nhà máy Lọc dầuTakreer ở Abu Dhabi đã cải thiện thời gian chết không có kế hoạch, giảm 3 - 5%.Ngoài ra, với việc quản lý dự báo tài sản, hàng tồn kho của nhà máy lọc dầu nàycũng giảm 10 - 20% [6]
Đối với lĩnh vực dịch vụ logistics
Theo dự báo của Cisco, hệ thống IoS toàn cầu sẽ tạo ra giá trị hơn 14 nghìn tỷUSD vào năm 2022 [5] Một nửa giá trị đến từ việc gia tăng năng suất lao động,
Trang 10phát triển dịch vụ logistics và giảm các chi phí sản xuất Đây là những lĩnh vực màcác nhà khai thác dầu khí cần phải cải thiện Các công ty dầu khí lớn cần phải ứngdụng công nghệ như: IoS, Big Data, điện toán đám mây, in ấn 3D, các loại xe tựlái Các công ty dầu khí hiện nay cũng đã bắt đầu thay đổi cách cấu trúc, xây dựng
và hoạt động của các tài sản, nhưng trong dài hạn mới chỉ là bắt đầu Các công tydịch vụ sẽ phải thay đổi không chỉ cách thức kinh doanh, các sản phẩm, dịch vụ,khách hàng, mà cả sự cạnh tranh mà họ phải đối mặt
Đối với hoạt động phân phối sản phẩm dầu khí (xăng, dầu), cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ 4 bùng nổ được dự báo sẽ rút ngắn kênh phân phối hàng hóa,
do các quyết định xử lý được thực hiện trực tiếp thông qua hệ thống Do vậy, cácdoanh nghiệp dầu khí cần tạo ra chuỗi giá trị công nghiệp linh hoạt và sáng tạotrong các hoạt động phân phối và thương mại các sản phẩm dầu khí ở hạ nguồn.Công ty INPEX tại Nhật Bản hiện đang sử dụng phần mềm Experion SupervisoryControl and Data Acquisition (SCADA) trong phân phối LPG SCADA được sửdụng để tích hợp và quản lý các dữ liệu đến từ hơn 160 trạm giám sát và kiểm soátcùng một mạng lưới phân phối khí hơn 1.400km trải dài 9 quận và cũng quản lýviệc cung cấp khí đốt cho gia đình và các doanh nghiệp trong các khu vực củaTokyo Ngoài việc quản lý lượng khí xuất, nhập bằng con chip một cách chính xác,
hệ thống sẽ tự động tính toán mức độ sử dụng của từng gia đình, ngày cần thaybình khí của từng hộ, ra quyết định vận chuyển tiết kiệm và hiệu quả nhất [7].Sản phẩm dầu truyền thống sẽ ngày càng mất đi vị trí quan trọng do sự xuấthiện của các nhiên liệu mới (nhiên liệu sinh học, robot thông minh, quản lý quaInternet làm giảm nhu cầu xăng dầu cho vận tải…) Xu hướng nhu cầu giảm cácsản phẩm từ dầu như xăng dầu sẽ tác động đến các doanh nghiệp dầu khí, khiến họcần xem xét thay đổi xu hướng đầu tư sản phẩm Những năm tiếp theo được đánhgiá là kỷ nguyên của nhiên liệu sinh học Người dùng có thể tự lựa chọn tiêu chuẩn
Trang 11vụ cho thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một thách thức không nhỏ.
Chuyển dịch cơ cấu chính trị - xã hội
Mọi cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra đều có tác động sâu sắc tới cơ cấuchính trị - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới Nguy cơ gia tăng xung đột khu vực,
an ninh toàn cầu bị đe dọa, luồng di cư, khủng bố mạng… đều có thể tác động đếnngành công nghiệp và thị trường dầu khí
Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam
Cũng giống như ngành công nghiệp dầu khí thế giới, ngành công nghiệp dầukhí Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn trước cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ 4
Theo Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, công tác tìm kiếm thăm
dò và khai thác dầu khí sẽ được mở rộng ra vùng nước sâu, xa bờ nên công nghệgiàn bán chìm và tàu khoan sẽ được sử dụng tại thềm lục địa Việt Nam, để khoan
Trang 12các giếng ở mức nước từ 200 - 500m và trên 500m Các thiết bị trên giàn/tàu khoanhay giữa các giàn và hệ thống các tàu dịch vụ có thể sẽ được kết nối theo giao thứccủa IoT và được điều khiển, vận hành theo cách thức hoàn toàn mới.
Theo nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) về ứng dụng công nghệnano trong bơm ép chất hoạt động bề mặt, các hạt có kích thước nano có khả năngbền với nhiệt độ, độ muối, có tính thấm ướt và làm giảm sức căng bề mặt, vì vậyvới chủng loại và kích thước phù hợp sẽ có khả năng gia tăng hệ số thu hồi dầu khi
sử dụng trong bơm ép nước, CO2, polymer… Các hạt nano có khả năng liên kếtvới các chất hoạt động bề mặt đặc biệt hiệu quả với chất hoạt động bề mặt anionbằng các liên kết hidro và liên kết cộng hóa trị làm gia tăng khả năng chịu nhiệt,cải thiện độ nhớt của chất hoạt động bề mặt, hoàn toàn có thể áp dụng để nâng caohiệu suất thu hồi dầu vỉa cát kết Miocen mỏ Bạch Hổ [8]
Hiện nay, hoạt động phân phối sản phẩm xăng dầu ở Việt Nam vẫn dựa trên
mô hình truyền thống (kênh phân phối dài thông qua nhiều trung gian phân phối),nhưng cần chuẩn bị cho sự thay đổi trong tương lai bằng cách tiếp cận công nghệ
số toàn cầu
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra trên toàncầu, ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam cần có chiến lược đón đầu công nghệ đểrút ngắn khoảng cách với các quốc gia khác và có sự chuẩn bị kỹ càng: hợp tácquốc tế mạnh mẽ trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ; triển khaiứng dụng các công nghệ mới; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
II Xu hướng phát triển công nghiệp 4.0 trên thế giới
Năm 2016 PwC thực hiện khảo sát có tên “Công nghiệp 4.0: Xây dựng công
ty kỹ thuật số” Phạm vi là 2.000 công ty trên 26 quốc gia Kết quả cho thấy, tỷ lệphần trăm kỹ thuật số hóa của những công ty này sẽ tăng từ 33% lên 72% trong
Trang 13vòng 5 năm tới Hơn thế nữa, các công ty này còn dành 5% doanh thu để đầu tưvào kỹ thuật số hóa
Nghiên cứu cho thấy có nhiều ích lợi mà công nghiệp 4.0 sẽ mang lại cho công tytrong khu vực châu Á, như tăng doanh thu (39%), tăng hiệu quả sản xuất (68%) vàgiảm chi phí (57%)
Để trở thành các doanh nghiệp 4.0 hay còn gọi là doanh nghiệp kỹ thuật số hóa,các doanh nghiệp đều thực hiện 6 bước sau:
(1) Lên chiến lược ngành chuyển đổi sang kỹ thuật số;
(2) Chọn sản phẩm chủ lực;
(3) Xác định yếu tố đầu vào;
(4) Thực hiện;
(5) Tạo cơ sở dữ liệu và phân tích dữ liệu để trở thành công ty kỹ thuật số;
(6) Tích hợp giữa vật lý và kỹ thuật số để tạo ra sản phẩm ưu việt nhất
1.Một công nhận chung - một quyết tâm cao điển hình là khu vực ASEAN
CMCN 4.0 được cho là sẽ liên tục định hình tương lai của ASEAN khi nềnkinh tế số đang phát triển mạnh tại 6 thị trường trong khu vực là Indonesia,Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, ước tính sẽ đạt 200 tỷUSD vào năm 2025, tăng gấp 4 lần so với 50 tỷ USD năm 2017 (theo Google vàTemasek - một công ty đầu tư toàn cầu tại Singapore, 2017) Hãng tư vấn quản lýhàng đầu thế giới AT Kearney cũng cho rằng, ASEAN có tiềm năng nằm trong top
5 nền kinh tế kỹ thuật số hàng đầu trên thế giới vào năm 2025 Đây là một xuhướng phát triển tích cực, dù vậy nhiều đánh giá cho rằng các quốc gia thành viên
Trang 14ASEAN vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của CMCN 4.0 Minh chứng là các nềnkinh tế kỹ thuật số mới chỉ chiếm 7% GDP của ASEAN, thấp hơn nhiều so với tỷ
lệ 16% ở Trung Quốc, 27% ở EU và 35% ở Mỹ Bên cạnh đó, các doanh nghiệpvừa, nhỏ và siêu nhỏ hiện chiếm phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp của khuvực ASEAN, có 75% doanh nghiệp nhận thấy cơ hội của CMCN 4.0, nhưng mớichỉ có 16% trong số đó sử dụng các công cụ kỹ thuật số CMCN 4.0 cũng đangtiềm ẩn không ít thách thức cho nền kinh tế khu vực Theo kết quả một số nghiêncứu, cuộc cách mạng này sẽ tạo ra nhiều việc làm mới cho xã hội, tại các nướcthành viên ASEAN như Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan vàViệt Nam sẽ phải chuyển đổi khoảng một nửa (54-56%) công việc hiện tại sang tựđộng hóa Điều này đặt ra bài toán đi tìm giải pháp khai thác những tiềm năng cũngnhư giải quyết các thách thức từ CMCN 4.0 cho cộng đồng ASEAN
Nhìn lại những năm qua có thể thấy, cộng đồng ASEAN đã sớm chuẩn bị cholàn sóng CMCN 4.0 đang lan tỏa trên toàn cầu ASEAN đã xem CMCN 4.0 là mộttrong những xu thế nổi bật nhất toàn cầu và đề ra các sáng kiến quan trọng liênquan đến nền kỹ thuật số của cuộc cách mạng, quy định rõ tại yếu tố đặc trưng B9(Các xu thế lớn toàn cầu và các vấn đề mới nổi liên quan đến thương mại) của Kếhoạch tổng thể xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN 2025 Theo đó, yếu tố này yêucầu đầu tư vào người lao động và doanh nghiệp như là các trung tâm học tập vềphát triển công nghiệp, quản lý các điều chỉnh lao động trong hội nhập ASEAN;nâng cao sức mạnh tổng hợp giữa các doanh nghiệp, người lao động và chính phủnhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh lớn hơn, cũng như đảm bảo tính năng động vàtoàn diện cho các nước thành viên
Yếu tố B9 đồng thời đề cập đến việc mở rộng các dòng kết nối xuyên quốc giatoàn cầu, đẩy nhanh tiến bộ công nghệ số hóa đang ngày càng định hình hoạt độngsản xuất, thương mại, dịch vụ và đầu tư quốc tế Để ASEAN có thể nắm bắt được
Trang 15các cơ hội, tất cả các nhóm công tác chuyên ngành được yêu cầu cần phải chủđộng xem xét tác động của các xu thế lớn và đưa vào chương trình làm việc trongtương lai.
Ngoài yếu tố B9, Kế hoạch tổng thể xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN 2025cũng đề cập đến các yếu tố khác là chìa khóa cho khả năng cạnh tranh của ASEANtrong CMCN 4.0 như: Bảo vệ người tiêu dùng (Yếu tố B2); Tăng cường hợp tácquyền sở hữu trí tuệ (Yếu tố B3); Tăng trưởng dựa vào năng suất, đổi mới, nghiêncứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ (Yếu tố B4); Thương mại điện tử(Yếu tố C3) và Khoa học và công nghệ (Yếu tố C9)
Bên cạnh đó, ASEAN cũng có các chương trình, quy hoạch chuyên ngành chohợp tác nền kỹ thuật số trong khu vực như: Quy hoạch tổng thể về công nghệ thôngtin ASEAN đến năm 2020, Chương trình làm việc ASEAN về thương mại điện tử
2017 - 2025, Kế hoạch hành động về khoa học, công nghệ và đổi mới ASEAN(APASTI) 2016-2025, Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN 2025
CMCN 4.0 còn là một trong những nội dung quan trọng trong nhiều chươngtrình nghị sự của ASEAN Lần đầu tiên là tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lầnthứ 30 vào tháng 4/2017 ở Philippines, các nhà lãnh đạo ASEAN đã chỉ đạo cácnước ASEAN cần có sự chuẩn bị sẵn sàng để tận dụng tối đa các cơ hội do cuộcCMCN 4.0 mang lại, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách toàn diện và sựphát triển cân bằng trong khu vực ASEAN Tiếp sau đó, Hội nghị Bộ trưởng Kinh
tế ASEAN (AEM) lần thứ 49 vào tháng 9/2017 đã thảo luận việc xây dựng các cơchế, chính sách trong khu vực giúp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa, nhỏ vàsiêu nhỏ (MSME) tận dụng tốt các hiệp định thương mại nội khối, vượt qua cácthách thức mới khi cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, có tác độngsâu rộng đến mọi doanh nghiệp Hội nghị đồng thời tán thành khuyến nghị giao