1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay (2)

16 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay (2)
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Đại Nam
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 224,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TRIẾT HỌC Đề tài số 4: Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng c

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN

TRIẾT HỌC

Đề tài (số 4): Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở

Việt Nam hiện nay

Học phần: Triết học

Họ và tên:

Mã sinh viên:

Lớp:

Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

I Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 4

1.1 Phương thức sản xuất 4

1.2 Lực lượng sản xuất 5

1.3 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất 6

II Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay và biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam 7

2.1 Nguồn nhân lực 8

2.1.1Chất lượng nguồn nhân lực 8

2.1.2 Đặc trưng vùng địa lý 8

2.1.3 Năng suất lao động 9

2.2 Hạn chế trong nguồn nhân lực ở Việt Nam 9

2.2.1 Sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao 9

2.2.2 Sự thiếu hụt nhân lực giữa các ngành 10

2.2.3 Nạn chảy máu chất xám 11

2.3 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam 12

2.3.1 Nguồn nhân lực gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế 12

2.3.2 Tập chung vào việc đào tạo, sử dụng, khai thác nguồn nhân lực 12

Trang 3

2.3.3 Tiền hành đào tạo ơ các vùng miền xa xôi 13

2.3.4 Thường xuyên đánh giá, tổng kết 13

2.3.5 Học tập kinh nghiệm, bí quyết các nước trên thế giới 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử phát triển của loài người là lịch sử phát triển của nền văn minh, văn hóa Vấn đề con người là vấn đề thực tiễn, khách quan Con người

là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, và là thước đo của mọi bậc thang giá trị Trong triết học cổ đại hay hiện đại, con người luôn là một đối tượng được quan tâm hàng đầu Đặc biệt, trong học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác – Lenin, vai trò của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất là vô cùng to lớn “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là thực thể cải tạo tự nhiên, xã hội Con người giữ vai trò quyết định, không thể thiếu trong sản xuất phát triển nền kinh tế Lao động là một trong bốn yếu tố tác động tới tăng trường kinh tế và nó là yếu tố quyết định nhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó Trong một xã hội dù lạc hậu hay hiện đại cũng cân đối vai trò của lao động, dùng vai trò của lao động để vận hành máy móc Lao động là một yếu tố đầu vào của mọi qúa trình sản xuất không thể có gì thay thế hoàn toàn được lao động và con người

là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cài vật chất,

là cơ sở tồn tại sự phát triên xã hội Như đã nói ở trên, yếu tố con người là quan trọng nhất, là quyết định Vì thế mà một đất nước phát triển đến đâu, đều được đánh giá qua trình độ của người lao động Tuy vậy, vai trò của người lao động trong quá tình sản xuất từ xưa đến nay ngoài mặt tốt, mặt tích cực thì luôn có những mặt tiêu cực cần phải khắc phục Với Việt Nam là một nước đang phát triển đi lên Chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những sự phát triển

về khoa học kĩ thuật thì nguồn lực lao động cũng là một vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của người lao động trong quá trình sàn xuất cũng như tìm những phương pháp giải quyết và phát huy

Trang 5

chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam, em chọn đề tài “Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất và các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay"

NỘI DUNG

I, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.1 Phương thức sản xuất

Khái niệm: Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sàn xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định của xã hội loài người Tương ứng với mỗi cách thức đó, trong lịch sử xã hội sẽ hình thành nên những tính chất, kết cấu và đặc điểm tương ứng về mặt lịch

sử Và “phương thức mà con người sản xuất ra nhữmg tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy có sẵn và phải tái sản xuất ra"

Vì thế, dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta có thể phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế – xã hội nào Đối với sự vận động của lịch sử loài người cũng như sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng

Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới Và sự thay thế hợp quy luật khách quan của các phương thức sản xuất

Trang 6

tạo nên quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch

sử – tự nhiên Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sàn xuất nhất định Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sàn xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao Trong sản xuất, con người

có “quan hệ song trùng": một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, biểu hiện ở lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

1.2 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sự sàn xuất xã hội, con người chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải

xã hội Lực lượng sàn xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và

tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất trong đó lực lượng sàn xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,

là người lao động'

Người lao động là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước tiên là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Trong quá trình sản xuất của cải vật chất, người lao động con được nâng cao về trình độ, trí tuệ

1.3 Vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất

Lịch sử phát triên xã hội loài người cho đến nay, về cơ bản, là lịch sử vận động, phát triển của sản xuất và tái sản xuất xã hội Chính trong quá trình lao động

Trang 7

con người đã bộc lộ bản chất của mình và thế hiện một vai trò đặc biệt quan trọng -động lực của sự phát triển sản xuất xã hội Theo C.Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản của con người Đó là quá trình con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào tự nhiên, tạo ra những của cải vật chất nhằm phục

vụ nhu cầu của bản thân mình và phát triển xã hội Để tiến hành sản xuất, con người phải sử dụng những tư liệu sản xuất như đối tượng lao động, công cụ lao động và những điều kiện vật chất khác Những vật đó được C.Mác gọi là “khí quan" giúp con người có khả năng nối dài đôi bàn tay và làm cho quá trình tác động vào tự nhiên trở nên có hiệu quả hơn Lao động sản xuất là một hình thái hoạt động chỉ có ở con người Con người tiến hành lao động sản xuất nhằm thoả mãn không chỉ nhu cầu mang tính sinh vật mà cả những nhu cầu tinh thần, xã hội; không chỉ để thích nghi mà còn để cải tạo giới tự nhiên, cải tạo xã hội, và cải tạo ngay cả chính bản thân con người Trong mọi phương thức sản xuất, con người bao giờ cũng ở vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định so với công cụ lao động và đối tượng lao động Con người không chi chế tạo ra công cụ lao động, không chi đề ra

kế hoạch, lựa chọn phương pháp lao động, mà còn trực tiếp sử dụng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất Các-Mác đã khắng định: “Những thời đại kinh

tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào."

Chính con người, với trí tuệ và khả năng của mình đã chế tạo ra tư liệu lao động và sử dụng nó để thực hiện sản xuất Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội Như thế có thể nói, nhân

tố con người (người lao động ) có vai trò hết sức quan trọng và đã trở thành động lực của sự phát triển sản xuất xã hội Ngoài việc nhấn mạnh đến vai trò của tư liệu sản xuất - yếu tố cần thiết của mỗi quá trình sản xuất, C.Mác đã khẳng định, để quá trình sản xuất được tiến hành không thể thiếu vai trò của người lao động Theo

Trang 8

C.Mác, yếu tố vật thể sẽ không có bất cứ tác dụng nào nếu không có một lực lượng

xã hội để tiến hành sản xuất vật chất Tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa nếu không có sự tác động của con người Điều này đã được C.Mác khẳng định như sau:

“Một cái máy không dùng vào quá trình lao động chỉ là một cái máy vô ích Ngoài

ra, nó còn bị hư hỏng do sức mạnh hủy hoại của sự trao đổi chất của tự nhiên Sắt thì han rỉ, gỗ thì bị mục Sợi không dùng để dệt hoặc đan thì chỉ là một số bông bị hỏng" Như vậy, động lực chủ yếu của sự tiến bộ xã hội là lực lượng sàn xuất, mà trong lực lượng sản xuất thì con người là yếu tố quan trọng nhất Cho nên, bất kỳ

sự tiến bộ xã hội nào, đều do con người trực tiếp thực hiện Cho đến nay tất cả những phương tiện hùng hậu phục vụ cho nền sản xuất có trên trái đất này đều là kết quả của bàn tay và khối óc con người Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất và tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thể

xã hội.tạo thành năng lực của con người và của cộng đồng người Năng lực đó khi được sử dụng, phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Theo đó, con người không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biển tự nhiên và xã hội, con người là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mọi quá trình lịch sử, con người là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, là lực lượng sản xuất quyết định nhất của xã hội và cách mạng xã hội cũng là sự nghiệp của quần chúng lao động

II, THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

2.1 Về nguồn nhân lực

Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tổng số dân của Việt Nam năm 2020 là 97.757.118 người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người (chiếm gần 58% dân số) đang trong độ tuổi lao động Tỷ trọng dân số tham

Trang 9

gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29 Với nhóm người lao động trẻ tuổi như trên thì Việt Nam cũng đang nắm giữ ưu thế trong việc sử dụng nguồn nhân lực và phát triển kinh tế

2.1.1 Về chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Lao động Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động (chiếm 20,87%) qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đằng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động Trong 10 năm qua, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn còn 76,9% người tham gla lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên môn

2.1.2 Về đặc trưng vùng địa lý

Lực lượng lao động đã được đào tạo có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) ở khu vự thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%), cho đến hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục cố gắng trong việc đưa công tác giáo dục phủ sóng cho toàn bộ nhân dân cả nước đặc biệt là người dân ở vùng sâu, miền núi còn chưa được thực sự phổ cập giáo dục cũng như hiểu được tầm quan trọng của việc học tập

2.1.3 Về năng suất lao động

Theo số liệu thống kê mà Bộ Kế hoạch – Đầu tư năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysla; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Phillippines,

Trang 10

68,9% của Brunel So với Myanmar, Việt Nam chỉ bằng 90% và chỉ bằng 88,7% Lào Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia Đây là một vấn đề lớn cần phải giải quyết của nguồn nhân lực Việt Nam khi lao động Việt được đánh giá là thông minh và nhanh nhẹn

2.2 Những điểm hạn chế trong nguồn nhân lực ở Việt Nam

2.2.1 Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

Mặc dù chất lượng nguồn nhân lực đang ngày càng được cải thiện, thế nhưng, nguồn nhân lực chất lượng cao để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp lớn là rất hạn chế

Nguyên nhân một phần xuất phát từ công tác giáo dục chưa thực sự phù hợp

và nghiêm túc Số lượng và chương trình lại chưa thực sự đáp ứng tốt cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Sự ứng dụng lý thuyết vào thực tế còn yếu kém, đặc biệt là sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa cao, dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực bị hạn chế trong kỹ năng “thực chiến” của mình Học sinh, sinh viên chỉ đặt nặng về lý thuyết trong khi việc thực hành mới là vấn đề quan trọng để nâng cao tay nghề và kinh nghiệm phần lớn chưa đáp ứng được sự thay đổi về tư liệu sản xuất, sự phát triển của công nghệ hiện đại thì nhanh mà sự thay đổi của người lao động thì chậm dẫn đến chưa tận dụng được hết những lợi ích của công nghệ hiện đại

2.2.2 Sự chênh lệch về nguồn nhân lực giữa các ngành

Với số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao hạn chế khi số lượng người trong độ tuổi học đại học ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 28,3% Điều này đã phần nào khiến cho sự phân bố nguồn nhân lực có sự chênh lệch giữa các ngành nghề Theo thống kê, số lượng sinh viên theo đuổi và lựa chọn các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ chỉ chiếm khoảng 23% là nam và 9% là nữ Còn lại, các ngành kinh tế, xã hội lại chiếm phần lớn Sự thiếu hụt nguồn nhân lực trong các ngành

Trang 11

khoa học kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho nền kinh tế tại Việt Nam cũng có những nét chênh lệch tương ứng Điều này cũng có thể cho thấy chính phủ, các cơ

sở đào tạo chưa thực sự khiến cho sinh viên hiểu rõ về các ngành nghề, những tiềm năng, sự định hướng nghề nghiệp còn chưa được chú trọng và đầu tư Hơn hết, điều này sẽ dẫn đến việc khan hiếm về nguồn nhân lực chất lượng cao trong những nhóm ngành được xem là có rất nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai và mang lại lức hút đầu tư lớn vào Việt Nam

2.2.3 Nạn chảy máu chất xám

Việc chảy máu chất xám là một trong những vẫn đề quan trọng với nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay Chắc có lẽ rất nhiều người sẽ biết đến câu chuyện 13 nhà vô địch Olympia đi du học nhưng chỉ có duy nhất 1 người trở về Việt Nam để làm việc Điều này cho thấy được sự chả máy chất xám tại Việt Nam đang diễn ra

và là hồi chuông cảnh báo về tình trạng này trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Mức sống và chế độ lương thưởng, phúc lợi khi làm việc trong nước đẫ phần nào dẫn đến nạn chảy máu chất xám ở Việt Nam Ngoài ra Việt Nam ta vẫn còn những trường hợp “nhất tiền tệ, nhì quan hệ” dẫn đến những người thực sự có năng lực và xứng đáng lại không thể ngồi ở vị trí phù hợp với năng lực của mình để có thể phát huy những giá trị của mình trong quá trình làm việc dẫn đến nhiều du học sinh không thực sự muốn quay trở lại làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam Vì thế, việc nâng cao mức sống và chế độ trong các công ty, doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ là cách phần nào hạn chế cho sự gia tăng của tình trạng này ở nước ta

2.3 Các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam

Qua đây chúng ta cần đưa ra các biện pháp cụ thể để cải thiện về chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay Cùng với đó là các biện pháp khắc phục hạn

Ngày đăng: 29/09/2022, 20:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w