ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT CHÂU QUỐC AN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC TP Hồ Chí Minh năm 2022 ĐẠ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
CHÂU QUỐC AN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành: 62.38.01.07
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Phạm Duy Nghĩa
PGS TS Nguyễn Ngọc Điện
Phản biện độc lập 1: PGS.TS Vũ Thị Lan Anh
Phản biện độc lập 2: PGS.TS Dư Ngọc Bích
TP Hồ Chí Minh năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và thông tin nêu trong luận văn là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng, chính xác và đã được cơ quan có thẩm
quyền công bố hoặc cho phép công bố Các dữ liệu, luận điểm
được trích dẫn đầy đủ, nếu không thuộc ý tưởng hoặc kết quả
tổng hợp của chính bản thân tôi Những kết luận khoa học
trong luận án là mới và chưa được công bố trong bất cứ công
trình khoa học nào
Tác giả
Châu Quốc An
Trang 4MỤC LỤC
Bảng danh mục các từ viết tắt trang i Danh mục biểu đồ trong luận án trang iii Lời mở đầu trang 1
1 Tính cấp thiết của đề tài tr 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu tr 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tr 4
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài tr 5
5 Điểm mới của Luận án tr 5
6 Kết cấu của luận án tr 8 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU trang 9 1.1 Tình hình nghiên cứu tr 9
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài tr 9 1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước tr 14 1.1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu tr 17
1.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu tr 20 1.3 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu tr 24 1.3.1 Học thuyết về chi phí giao dịch tr 24 1.3.2 Học thuyết về các bên có quyền lợi liên quan tr 25 1.3.3 Học thuyết đại diện tr 26 1.3.4 Học thuyết về các quyền sở hữu tr 28 1.3.5 Học thuyết bất cân xứng về thông tin tr 31 1.4 Phương pháp nghiên cứu tr 31
Trang 5Tiểu kết chương 1 tr 33 Chương 2: KHÁI LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG trang 35 2.1 Khái niệm về công ty đại chúng (công ty cổ phần đại chúng) tr 35 2.2 Khái niệm về quản trị công ty và pháp luật quản trị công ty đại chúng tr 38 2.3 Vai trò của pháp luật quản trị công ty đại chúng tr 48 2.4 Những yêu cầu cốt lõi trong điều chỉnh pháp luật quản trị công ty đại chúng tr 53 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản trị công ty đại chúng tr 57 2.5.1 Cơ chế quản lý kinh tế tr 57 2.5.2 Mức độ phát triển của thị trường chứng khoán, cấu trúc vốn của công ty và thành phần sở hữu tr 60 2.5.3 Cơ cấu sở hữu và kiểm soát trong công ty đại chúng tr 64 2.5.4 Văn hóa kinh doanh tr 70 2.5.5 Truyền thống pháp lý tr 77 2.5.6 Các yếu tố chính trị và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước tr 82 2.5.7 Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế tr 88 Tiểu kết chương 2 tr 89 CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRONG BỐI CẢNH CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY trang 92 3.1 Bối cảnh xây dựng pháp luật QTCTĐC Việt Nam và tác động của nó lên hoạt động xây dựng pháp luật QTCTĐC tr.93 3.1.1 Các yếu tố kinh tế đặc trưng của Việt Nam tr.93
Trang 63.1.2 Yếu tố chính trị và tư duy tổ chức quyền lực ở Việt Nam tr.96 3.1.3 Các yếu tố văn hóa kinh doanh Việt Nam tr.98 3.1.4 Truyền thống pháp lý Việt Nam tr 102 3.1.5 Cơ cấu sở hữu và thành phần sở hữu trong các công ty đại chúng ở Việt Nam tr 104 3.1.6 Hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế tr 106 3.2 Đánh giá chung sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đối với việc xây dựng pháp luật QTCTĐC tr.108 3.3 Các khuyến nghị về mô hình QTCTĐC và phương cách tiếp cận trong việc hoàn thiện pháp luật QTCTĐC tr.121 Tiểu kết chương 3 tr.130 Chương 4: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN trang 132 4.1 Tổng quan về pháp luật QTCTĐC và những điểm tiến bộ của pháp luật QTCTĐC tr.132 4.2 Những hạn chế của pháp luật QTCTĐC hiện hành tr 135 4.2.1 Những bất cập và vướng mắc của pháp luật về cơ cấu quản trị nội bộ công ty đại chúng tr.135 4.2.2 Vấn đề bảo vệ lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan (stakeholder) và vai trò của ngân hàng chủ nợ, người lao động trong hệ thống QTCTĐC tr.145 4.2.3 Những hạn chế của pháp luật liên quan đến cơ chế điều chỉnh của thị trường cổ phiếu lên hành vi của người quản lý công ty tr 149 4.2.4 Kiểm soát giao dịch giữa công ty và người có liên quan tr 160 4.3 Khuyến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật quản trị công ty đại chúng tr.163
Trang 74.3.1 Hoàn thiện các quy định về cơ cấu quản trị nội bộ công ty tr.164 4.3.2 Xây dựng và ban hành các quy định về cơ chế phối hợp giám sát của ngân hàng chủ nợ và tăng cường bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngân hàng chủ nợ tr.173 4.3.3 Hoàn thiện các quy định hỗ trợ nâng cao vai trò điều chỉnh của thị trường cổ phiếu lên hành vi của người quản lý công ty tr 174 4.3.4 Hoàn thiện các quy định nâng cao hiệu quả kiểm soát giao dịch giữa công ty
và người có liên quan nhằm hạn chế hành vi tư lợi tr.179 4.3.5 Ban hành các quy định thiết lập cơ chế động viên vai trò giám sát và phản ánh thông tin của người lao động tr.180 Tiểu kết chương 4 tr.181 Kết luận tr.184 Danh mục tài liệu tham khảo tr.186
Trang 8
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Economic Management)
(Comprehensive and Progressive Agreement for Trans - Pacific Partnership)
(Free Trade Agreement Between The Socialist Republic of Viet Nam and European Union)
Trang 9IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (International Financial
Reporting Standards)
NASDAQ Sàn giao dịch báo giá tự động Hiệp Hội nhà Buôn Chứng khoán
quốc gia - Hoa Kỳ (National Association of Securities Dealers Automated Quotation System)
Economic Co-operation and Development)
Commission)
Commission of Viet Nam)
Trang 10DANH MỤC DANH BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
(Không bao gồm các biểu nằm trong quyển phụ lục)
QTCTĐC trung bình của các công ty niêm yết 2018-2021
134
thông tin giai đoạn 2011-2020
151
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho sự vận hành và phát triển của nền kinh tế Bên cạnh
đó, sự chủ động hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới đã tác động đến nỗ lực hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam Đặc biệt là những đột phá
về tư duy cải cách hành chính và quản trị công ty (QTCT) đã góp phần giúp khai thông dòng chảy nguồn vốn của xã hội vào hoạt động kinh doanh Điển hình là số lượng doanh nghiệp (DN) thành lập mới tăng nhanh Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, song song với số lượng lớn DN được thành lập mới thì số lượng DN kinh doanh thua
lỗ, tạm ngừng hoạt động kinh doanh hoặc giải thể, phá sản cũng tăng tương ứng với
tạm ngừng và ngừng hoạt động chiếm khoảng 67,68% DN thành lập mới, trong khi
đây gọi ngắn gọn là công ty đại chúng theo kiểu định danh của Luật Chứng khoán năm 2019) bị ngừng hoạt động là thấp nhất Bởi vì trong cùng bối cảnh kinh doanh,
mô hình quản trị công ty đại chúng (QTCTĐC) có sự kết hợp giám sát rủi ro của thị trường chứng khoán và cơ cấu quản trị nội bộ tốt hơn, giúp công ty kiểm soát rủi tốt hơn, huy động vốn dễ dàng hơn và định hướng phát triển tốt hơn các loại hình DN khác Dù vậy, điểm trung bình tuân thủ các quy định pháp luật quản trị công ty đại chúng (sau đây gọi tắt là pháp luật quản trị công ty) của các công ty đại chúng (CTĐC)
niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX năm 2020 là 41,3/70 điểm và chỉ có 37,5% DN
tự đánh giá về khả năng tuân thủ đầy đủ các quy định QTCT3 Điều này, ít nhiều phản ánh các quy định pháp luật QTCTĐC được áp dụng chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tại của DN
Thực tiễn vừa qua cũng cho thấy, ngoài nguyên nhân tài chính liên quan đến chi phí sử dụng vốn, chi phí phát hành, tâm lý ngại pha loãng cổ phần dẫn đến mất quyền kiểm soát,… thì sự kém tương thích của pháp luật QTCTĐC có thể được xem là một
1 Tính toán từ kết quả thống kê của Tổng cục thống kê và Cục đăng ký kinh doanh
2 An An (2016), “71.391 DN phá sản năm 2015: Điều bất thường”, Báo Đất Việt, ngày 16/04/2016
3 HOSE, HNX và Báo Đầu tư (2020), Báo cáo đánh giá QTCT DN niêm yết Việt Nam năm 2020, tài liệu lưu hành nội bộ phục vụ cho cuộc bình chọn DN niêm yết, Hà Nội, tr 12, 38
Trang 12trong những nguyên nhân trọng yếu gây quan ngại cho DN trong việc đại chúng hóa
trong đó chỉ có 343 công ty niêm yết trên sàn HNX, 390 công ty niêm yết trên sàn HSX, 816 công ty đăng ký giao dịch trên sàn UPcom và 309 công ty chưa đăng ký giao dịch cổ phiếu5
Về mặt lý luận, để công ty hoạt động hiệu quả thì không chỉ phụ thuộc vào cách thức tổ chức và quản lý nội bộ công ty mà còn phụ thuộc vào môi trường bên ngoài tác động lên hoạt động đó, bao gồm cả yếu tố pháp luật Theo đó, pháp luật QTCTĐC một mặt đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh những lệch lạc của hành vi quản lý, đảm bảo lợi ích của cổ đông (CĐ) trước hành vi tư lợi của người quản lý - điều hành công ty cũng như sự công bằng về lợi ích giữa các CĐ; mặt khác phải đảm bảo sự vận hành nhịp nhàng và khả năng phản ứng linh hoạt của công ty trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường Điều đó đồng nghĩa với ranh giới giữa điều chỉnh pháp luật và tự điều chỉnh của công ty cần phải được xác định sao cho nó phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế - xã hội và văn hóa của từng quốc gia Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam về QTCTĐC có xu hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh và thu hẹp khả năng tự điều chỉnh của công ty theo yêu cầu của thị trường Các công trình nghiên cứu phục vụ hoạt động lập pháp vừa qua chưa hoàn toàn thuyết phục được tính hiệu quả và tính tương thích của việc khuyến nghị du nhập những quy định của các nước với điều kiện thực tại của Việt Nam Cụ thể là chưa phân tích đầy đủ và hệ thống về các yếu tố tác động đến sự tồn tại và hiệu quả thực thi các quy định đó, mà
sự thiếu ổn định của các văn bản pháp quy vừa qua như là một biểu hiện phản ánh điều đó Không ít công trình chỉ nghiên cứu dưới giác độ của từng luật thực định riêng
rẽ hoặc quy phạm pháp luật riêng rẽ, chứ ít xem xét đến tính hệ thống và đặt trong bối cảnh tổng thể của hệ thống QTCTĐC Trong khi đó, hệ thống QTCTĐC được điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau Chúng không những chỉ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật mà còn được điều chỉnh bởi các quy phạm khác và quy tắc của thị trường Quá trình cải cách pháp luật QTCTĐC vừa qua gần như đa phần đều hướng tới ủng hộ việc nội luật hóa các thông lệ quản trị được cho là tốt nhất của các nước có thị trường chứng khoán phát triển năng động, mà chưa quan tâm đúng mức
4 Đặng Đức Thành (2019), “Huy động nguồn vốn bền vững cho nền kinh tế và từng DN”, truy cập lúc 11h ngày 03/12/2019 tại http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Huy-dong-nguon-von-ben-vung-cho-nen-kinh-te-va-tung- doanh-nghiep/381558.vgp
5 Thống kê từ nguồn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Trang 13đến chi phí thực thi và bối cảnh thực thi của Việt Nam Sự thiếu tuân thủ các chuẩn mực QTCTĐC đã nói trên như là một chỉ dấu phản ánh về sự kém tương thích đó
Từ tất cả những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là pháp luật QTCTĐC, trong đó nhấn mạnh đến mô hình và mức độ điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: luận án nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn xây dựng, cải cách pháp luật QTCTĐC của Việt Nam và một số quốc gia thuộc hai họ pháp luật lớn nhất trên thế giới (Common law và Civil law) đối với các CTĐC không thuộc các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, tài chính khác vốn được điều chỉnh bởi những quy định riêng biệt nhằm đảm bảo chính sách an ninh tài chính của quốc gia
Việc nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia thuộc hai họ pháp luật này nhằm hỗ trợ lý giải và phân tích tính khả thi của việc tiếp nhận quy định của các nước vào Việt Nam Các quốc gia được nghiên cứu bao gồm 3 nhóm sau:
- Nhóm các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển năng động và pháp luật QTCTĐC có ảnh hưởng lớn đến xây dựng bộ nguyên tắc QTCT của OECD, vốn được coi là thông lệ quốc tế về QTCT tốt và đang được áp dụng cho Việt Nam Đó là mô hình QTCT dựa vào thị trường (còn gọi là mô hình cổ đông, hay
hệ thống QTCT theo định hướng thị trường) của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh thuộc truyền thống Thông Luật (Common law tradition) Trong đó, Hoa kỳ tiếp cận theo kiểu dựa vào các quy định chặt chẽ của pháp luật để hỗ trợ vai trò giám sát và điều chỉnh của thị trường lên hành vi của người quản lý Còn Vương quốc Anh tiếp cận theo nguyên tắc cho phép công ty được lựa chọn việc tuân thủ các nguyên tắc QTCT hoặc sẽ phải giải trình vì sao không tuân thủ và chịu sức ép đào thải của thị trường hoặc bị chế tài
- Nhóm các quốc gia châu Âu lục địa thuộc truyền thống luật dân sự (Civil law tradition), có cơ cấu sở hữu và cấu trúc nguồn vốn khá tương đồng với Việt Nam
Đó là mô hình QTCT dựa vào bên trong (còn gọi là mô hình các bên có quyền lợi liên quan, hay là hệ thống QTCT dựa vào ngân hàng) Dù vậy, giữa các nước này
Trang 14cũng có những nét khác biệt riêng Đó là mô hình của nước Đức đại diện cho nhánh truyền thống luật dân sự Đức (German Civil law tradition), mô hình của nước Pháp đại diện cho nhánh truyền thống luật dân sự Pháp (French Civil law tradition) và mô hình của các nước Bắc Âu thuộc nhánh Nordic law (Scandinavian law)
- Nhóm các quốc gia châu Á có mô hình QTCT lai ghép hai mô hình trên, có
cơ cấu sở hữu, cấu nguồn vốn, truyền thống pháp lý và văn hóa khá tương đồng với Việt Nam Đặc biệt Trung Quốc còn có thêm thể chế chính trị tương đồng với Việt Nam Đó là mô hình của hai nước Trung Quốc và Nhật Bản Dù vậy, mô hình của Trung quốc cũng có những nét khác biệt với mô hình của Nhật Bản
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong bối cảnh cải cách và hoàn thiện pháp luật QTCTĐC giai đoạn từ 2010 đến nay
Về nội dung: luận án giới hạn trọng tâm nghiên cứu trong phạm vi thiết kế các quy định QTCTĐC điều chỉnh theo mô hình thích hợp với Việt Nam và các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC, trong đó tập trung chủ yếu ở những quy định của pháp luật DN và pháp luật chứng khoán có ảnh hưởng cơ bản đến hiệu quả thực thi pháp luật QTCTĐC Theo đó, vấn đề xác định
mô hình QTCTĐC tương thích với thực tại của Việt Nam cũng là một nội dung cốt lõi và là tiền đề quan trọng cho việc định hướng hoàn thiện pháp luật QTCTĐC
mà luận án thực hiện nghiên cứu
Trên cơ sở cơ chế điều chỉnh thích hợp, đề tài đưa ra các giải pháp pháp lý góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật thực định về QTCTĐC vận hành cơ chế đó một cách toàn diện Từ đó góp phần hài hòa lợi ích, kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu
Trang 15quả hoạt động của công ty, giúp công ty thu hút hiệu quả nguồn vốn của xã hội vào quá trình phát triển kinh tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về QTCT, mô hình QTCT, pháp luật QTCTĐC
và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật QTCTĐC
- Nghiên cứu đánh giá tính tương thích của pháp luật QTCTĐC ở Việt Nam với bối cảnh thực tế hiện nay
- Trên cơ sở lý luận cùng với những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thực thi pháp luật QTCTĐC ở Việt Nam, đề tài khuyến nghị những giải pháp pháp lý khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật QTCTĐC của Việt Nam, nhất là sau khi LDN năm 2020 có hiệu lực thi hành
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ một cách hệ thống những lý luận nền tảng về pháp luật QTCTĐC, đặc biệt là các yếu tố tác động đến pháp luật QTCTĐC, cũng như nhu cầu và nội dung điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC Qua đó, tạo tiền đề lý luận cho việc kiện toàn các quy phạm pháp luật thực định về QTCTĐC ở Việt Nam
- Thông qua việc xây dựng bức tranh tổng quát về nhu cầu của thực tiễn đối với pháp luật QTCTĐC ở Việt Nam, đề tài làm rõ cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật QTCTĐC của Việt Nam
- Trên cơ sở những luận cứ khoa học trên, đề tài khuyến nghị mô hình QTCT, phương thức điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC và giải pháp hoàn thiện một số quy định có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC
So với các công trình nghiên cứu trước đó về pháp luật QTCTĐC của Việt Nam, Luận án có những điểm mới như sau:
Trang 16xét vấn đề nghiên cứu trong sự vận động đồng bộ của cả cơ chế quản trị bên trong lẫn cơ chế điều chỉnh bên ngoài Từ đó làm cơ sở cho việc phân tích bản chất vấn đề cần giải quyết trong pháp luật QTCTĐC, cũng như đánh giá khả năng vận dụng học thuyết kinh tế và pháp lý để lựa chọn phương thức điều chỉnh, cách thiết kế ra hệ thống các quy định, cơ chế kiểm soát và định hướng CTĐC phù hợp với bối cảnh thực tại của Việt Nam, phản ánh đặc trưng cơ bản của hệ thống QTCT, bao gồm trọng tâm và định hướng chủ yếu của hoạt động giám sát và kiểm soát, lợi ích theo đuổi, chủ thể chủ yếu cần được bảo vệ lợi ích từ quyết định của người quản lý, điều hành công ty, cấu trúc của hệ thống QTCT Hay nói cách khác là lựa chọn mô hình QTCTĐC tương thích Trên cơ sở đó, hoàn thiện một số quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC một cách toàn diện
Thứ hai, Luận án tiếp cận theo hướng xem xét những chi phí và lợi ích kinh tế -
xã hội của việc điều chỉnh pháp luật QTCTĐC, sao cho chúng vừa đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát triển thị trường vốn, hạn chế chi phí xã hội và chi phí giao dịch của công ty; xem xét việc điều chỉnh pháp luật QTCTĐC Việt Nam trong mối quan hệ với khả năng tự điều chỉnh của thị trường gắn với vai trò và mục tiêu tồn tại của công ty trong nền kinh tế - xã hội
Về nội dung đóng góp mới: Luận án đã đóng góp cho khoa học pháp lý Việt Nam những điểm mới sau:
Thứ nhất, cùng với việc làm rõ nội hàm của khái niệm QTCT, mô hình QTCT,
pháp luật QTCTĐC, luận án bổ sung cho khoa học pháp lý Việt Nam những luận cứ khoa học về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật QTCTĐC một cách hệ thống và toàn diện Đó là những yếu tố mà pháp luật QTCTĐC Việt Nam cần phải xem xét, đảm bảo khả năng tương thích để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, nâng cao hiệu quả thực thi và giảm chi phí giao dịch cho DN
Thứ hai, thông qua việc phân tích, đánh giá những yếu tố tác động, luận án xác
định nhu cầu của thực tiễn và bản chất chính yếu của vấn đề cần điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về QTCTĐC, góp phần làm sáng tỏ và bổ sung cho những luận cứ thiết
kế và hoàn thiện pháp luật QTCTĐC Việt Nam Đó là mâu thuẫn chủ yếu giữa CĐ lớn kiểm soát hoạt động quản lý và CĐ nhỏ, chứ không phải là mâu thuẫn giữa người quản lý không nắm CP của công ty và CĐ nhỏ bên ngoài như ở các nước thuộc truyền thống Thông luật (Common law tradition) mà một số quy phạm pháp luật thực định
Việt Nam đã hướng tới Trong đó, luận án ghi nhận vai trò tích cực của CĐ lớn đối
với hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động của các công ty ở Việt Nam, cũng như
Trang 17thừa nhận hiệu ứng ngăn chặn trong một số trường hợp khi CĐ hoặc nhóm CĐ nắm một tỷ lệ CP có thể kiểm soát việc ra Nghị quyết của ĐHĐCĐ và ảnh hưởng tuyệt đối lên quyết định của HĐQT Ngược lại, cũng cho thấy những hạn chế của CĐ nhỏ trong việc thúc đẩy các lợi ích dài hạn của công ty Điều này khác với những nghiên cứu trước đây cổ súy cho việc thúc đẩy một cơ cấu sở hữu phân tán, tăng cường quyền của CĐ nhỏ và bỏ qua những hạn chế từ việc lạm quyền của CĐ nhỏ gây tổn hại đến lợi ích dài hạn của công ty, cũng như việc thiếu công bằng trong việc gánh chịu chi phí giám sát
Thứ ba, bằng việc xem xét, so sánh, đánh giá từng yếu tố tác động lên hiệu quả
thực thi pháp luật QTCTĐC cũng như kinh nghiệm giải quyết của các nước, luận án
đề xuất kiện toàn mô hình QTCTĐC phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, góp phần tăng cường hiệu quả điều chỉnh pháp luật QTCTĐC, phát huy vai trò điều chỉnh của thị trường và quyền tự chủ kinh doanh của công ty Đó là mô hình tích hợp giữa mô
hình QTCT dựa vào cấu trúc bên trong và mô hình QTCT dựa vào thị trường với cơ
chế “tuân thủ hoặc giải trình” và cho phép thay thế theo chức năng Nói cách khác,
khác với kiểu lắp ghép cơ học các cấu trúc quản trị nội bộ, mô hình mới tích hợp giữa
cơ chế điều chỉnh của pháp luật và điều chỉnh của thị trường như một hệ thống vận hành thống nhất, nhịp nhàng nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của thị trường bù đắp cho những cứng nhắc của pháp luật và đảm bảo tốt hơn quyền tự do kinh doanh của công ty Theo đó, ngoài đáp ứng những chuẩn mực tối thiểu được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, tùy theo điều kiện thực tế, công ty có thể chủ động thực hiện những yêu cầu cao hơn của Bộ quy tắc QTCT linh hoạt do Ủy ban chứng khoán Nhà nước ban hành, hoặc áp dụng về các biện pháp khác thay thế theo chức năng thực hiện của cơ quan trong công ty để đáp ứng mục tiêu điều chỉnh của Bộ quy tắc QTCT và giải trình với Ủy ban chứng khoán Đương nhiên, Bộ quy tắc này chỉ là
sự cụ thể hóa các yêu cầu của thị trường phù hợp với quy định của các luật liên quan
Thứ tư, luận án khuyến nghị một hệ thống các giải pháp pháp lý mới và đồng
bộ góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam tương thích điều kiện thực tế của Việt Nam, phù hợp với mô hình QTCTĐC được đề xuất Trong cơ cấu
quản trị nội bộ công ty, luận án đề xuất áp dụng cơ chế linh hoạt theo tỷ lệ tương
xứng Theo đó, số lượng thành viên độc lập của HĐQT, quy mô giao dịch với người
có quyền lợi liên quan cần kiểm soát và cơ chế kiểm soát giao dịch nội bộ được điều chỉnh theo mô hình quản trị nội bộ, quy mô vốn, cơ cấu sở hữu, tình trạng niêm yết; quy định ngưỡng tỷ lệ sở hữu CP hợp lý để xác định tính độc lập của thành viên
Trang 18HĐQT theo quy mô vốn Bên cạnh đó, luận án cũng thừa nhận hiệu quả giám sát
của thành viên BKS nắm CP của công ty và CĐ lớn bằng việc điều chỉnh các quy
định có liên quan Luận án đề xuất điều chỉnh những tiêu cực của CĐ hoặc khối CĐ
kiểm soát lên quyết định của HĐQT gây thiệt hại cho công ty bằng việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ; yêu cầu công bố chính sách bỏ phiếu của CĐ
lớn nắm giữ cùng lúc phần lớn CP ở nhiều công ty có lợi ích xung đột Ngoài ra, luận
án cũng khuyến nghị các quy định nhằm động viên các công cụ bên ngoài hỗ trợ thị trường điều chỉnh hành vi của người quản lý, góp phần giảm bớt chi phi thực thi
pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
Thứ năm, luận án khuyến nghị các giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hài hòa hóa
quyền lợi của các bên liên quan chủ chốt gắn liền với lợi ích dài hạn của công ty, xem
đó như một phần trách nhiệm xã hội của công ty và giúp công ty gia tăng giá trị vốn
xã hội của mình Đó là các giải pháp pháp lý giúp người lao động và người cấp vốn tín dụng sớm phát hiện và ngăn chặn rủi ro, bảo vệ lợi ích chính đáng của họ, cũng như đảm bảo khả năng tham gia hỗ trợ của các chủ thể này trong quá trình giảm sự bất cân xứng thông tin, góp phần giảm bớt chi phí giám sát
Thứ sáu, thông qua việc nghiên cứu mô hình QTCTĐC của các nước có cơ cấu
sở hữu tập trung và phần vốn nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sở hữu, luận
án cũng dự báo về khả năng người đại diện phần vốn chi phối của nhà nước ở công
ty có thể lạm dụng quyền để sử dụng tài sản của công ty cho mục tiêu chính trị của
cá nhân trái với mong muốn của phần lớn CĐ, hoặc lạm dụng vị thế chính trị tham gia hoạch định các chính sách để qua đó gây bất lợi cho các nhà đầu tư khác; phát hiện những bất cập trong việc đảm bảo quyền lợi của CĐ ngay tình sau khi nhà nước thu hồi tài sản thất thoát từ vụ án liên quan đến những sai phạm của cơ quan nhà nước Đồng thời khuyến nghị các giải pháp pháp lý nhằm hạn chế tình trạng trên
Kết cấu của luận án gồm có ba phần: lời nói đầu, phần nội dung chính và kết luận Phần nội dung chính chia làm 4 chương:
trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay
và định hướng hoàn thiện
Trang 19CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể nói, từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, cụm từ “Corporate governance” (được phần lớn các học giả chuyển ngữ với danh gọi là quản trị công
ty6) được xem như là một thuật ngữ phổ quát, có tính liên ngành, trở thành một trong những xu hướng nghiên cứu quan trọng trong cả lĩnh vực kinh tế và luật học, nhất là
từ sau các sự kiện khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự sụp đổ của Enron, Worldcom, Parmalat và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Vậy quản trị công ty (QTCT) là gì và vì sao nó có tầm quan trọng như vậy ?
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau bởi nhiều công trình nghiên cứu khác nhau Tương ứng với mỗi cách tiếp cận, thuật ngữ “corporate governance” được định nghĩa với nhiều nội hàm khác nhau và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở mức độ phổ quát, mang tính liên ngành và được nhiều quốc gia sử dụng đó là cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Theo đó, OECD cho rằng QTCT
là hệ thống mà thông qua đó công ty được chỉ đạo và kiểm soát Chất lượng QTCT
ảnh hưởng đến chi phí của công ty khi tiếp cận vốn cho mục tiêu tăng trưởng và niềm tin của người cấp vốn - trực tiếp hoặc gián tiếp - rằng họ có thể tham gia và chia sẻ việc tạo ra giá trị với công ty một cách công bằng7
Đúc kết từ kinh nghiệm thực tế QTCT của các nước thành viên, năm 1999, OECD đưa ra Bộ nguyên tắc QTCT và chúng trở thành tài liệu tham chiếu chuẩn quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, DN và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới Bộ nguyên tắc QTCT năm 1999 đưa ra năm nhóm nguyên tắc cơ bản: (1) Quyền của CĐ; (2) Đối xử công bằng với CĐ; (3) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; (4) Công khai và minh bạch; (5) Trách nhiệm của Hội đồng quản trị (HĐQT) Trong phần thứ hai của tài liệu cũng bổ sung thêm các chú thích có chứa bình luận về các nguyên tắc nhằm giúp độc giả hiểu được lý do tồn tại của chúng Các chú thích đưa ra các mô tả về xu hướng chiếm ưu thế và các lựa chọn
6 Tổ chức tài chính quốc tế & Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2010), Cẩm nang quản trị công ty, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 6; Ngân hàng thế giới (2006), Đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam, Báo cáo
về tình hình tuân thủ các chuẩn mực và nguyên tắc (ROSC) quản trị công ty, tr.iii; Phạm Duy Nghĩa (2004),
Chuyên Khảo Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.355
7 OECD (2015), G20/0ECD, Principles of Corporate Governance, OECD Publishing, Paris, tr 5, 7
Trang 20thay thế, cũng như những ví dụ hữu ích trong việc xây dựng các nguyên tắc
Đến năm 2004, OECD lại đưa ra Bộ nguyên tắc về QTCT mới trên cơ sở kế thừa và củng cố những giá trị cốt lõi của Bộ nguyên tắc QTCT năm 1999, cũng như kinh nghiệm giải quyết các vấn đề trong QTCT của các nước trong và ngoài khu vực OECD Theo đó, Bộ nguyên tắc QTCT năm 2004 được tiếp tục xây dựng trên nền tảng của tính minh bạch cao, tính giải trình và trách nhiệm giám sát của HĐQT, sự tôn trọng quyền của CĐ và vai trò của các bên tham gia khác Cụ thể Bộ nguyên tắc này bao gồm sáu nhóm nguyên tắc sau: (1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; (2) Quyền của CĐ và các chức năng sở hữu cơ bản; (3) Đối xử bình đẳng đối với CĐ; (4) Vai trò của các bên có quyền và lợi ích liên quan trong QTCT; (5) công bố thông tin và tính minh bạch; (6) Trách nhiệm của HĐQT
Đến năm 2015, trên cơ sở phân tích dữ liệu thực tế về xu hướng tài chính mới, bao gồm cả những bài học về QTCT được rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, từ sự gia tăng sở hữu xuyên quốc gia, những thay đổi trong cách vận hành của thị trường chứng khoán và những tác động của chuỗi giá trị trong đầu tư dài hạn hơn và phức tạp hơn từ tiết kiệm của các hộ gia đình đến hoạt động đầu tư của DN, OECD xây dựng và hoàn thiện bộ nguyên tắc QTCT nhằm hướng dẫn thực tiễn áp dụng những nguyên tắc này ở cấp Quốc gia Theo đó bộ nguyên tắc G20/OECD gồm các nguyên tắc sau: (1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; (2) Quyền của CĐ, đối xử công bằng với CĐ và các chức năng sở hữu cơ bản; (3) Các nhà đầu
tư tổ chức, thị trường chứng khoán và các tổ chức trung gian khác; (4) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT; (5) Công bố thông tin và tính minh bạch;
và (6) Trách nhiệm của HĐQT Tuy nhiên, Bộ nguyên tắc cũng không mang tính bắt
buộc và không nhằm đưa ra những quy định chi tiết của luật pháp quốc gia Vì OECD
Ngoài công trình có tầm ảnh hưởng quốc tế, trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng hệ thống QTCT của đa số quốc gia nói trên thì trên thế giới cũng tồn tại một số công trình nghiên cứu tầm cỡ về QTCT dưới nhiều giác độ riêng rẽ khác nhau Những công trình nghiên cứu này tập trung nghiên cứu theo hướng sau: (1) mối quan hệ giữa QTCT với hiệu quả hoạt động của công ty; (2) mối quan hệ giữa quy mô và thành phần HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty; (3) nguồn gốc pháp lý và mức độ bảo vệ nhà đầu tư; (4) cơ cấu sở hữu và QTCT; (5) cơ cấu sở hữu và vấn đề cố thủ
8 OECD (2015), tlđd, tr 7
Trang 21của người quản lý; (6) vấn đề sở hữu của người quản lý và hiệu quả hoạt động của công ty; (7) bảo vệ cổ đông thiểu số; (8) kiểm soát giao dịch có nguy cơ tư lợi Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và bao quát về mô hình điều chỉnh pháp luật QTCT cổ phần của các nước có hàm lượng khoa học cao, bao gồm
cả các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về đặc điểm hệ thống QTCTĐC của các nước, phải kể đến là những công trình tiêu biểu sau:
Thứ nhất, công trình “Corporate governance: A synthesis of theory, research and practice” (tạm dịch là “QTCT: Lý thuyết, nghiên cứu và thực hành”) do H.Kent
Baker và Ronald Aderson chủ biên, được John Wiley & Sons, Inc xuất bản năm 2010 Nội dung của công trình này mô tả lịch sử QTCT, cũng như hệ thống QTCT của các nước trên thế giới, nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả kinh doanh của công ty; những vấn đề phát sinh khi tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý; nhấn mạnh đến vai trò của lý thuyết đại diện và các cách tiếp cận khác về vấn đề QTCT Theo đó:
QTCT và hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ thuận Cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu bắt nguồn từ nhiều yếu tố, bao gồm cả sự thất bại của các cơ chế điều chỉnh thị trường và vấn đề QTCT không hiệu quả
Mục tiêu tương lai của cải cách QTCT nên tập trung cải cách hệ thống pháp luật nhằm tạo ra một thị trường sôi động mà ở đó các công ty có thể lựa chọn
mô hình quản trị tối đa hóa giá trị
Lý thuyết QTCT phải được hiểu trong bối cảnh định hình nên các mục tiêu quy phạm và các giả định quy phạm cơ bản của nó Các thông lệ quản trị tốt nhất hiện tại cũng có những sai sót nhất định khi áp dụng cho những quốc gia
có các bối cảnh phát triển khác nhau
Quyền sở hữu cổ phần (CP) của người quản lý ảnh hưởng tới hành vi quản lý, điều hành công ty Trong đó, quyền sở hữu CP của các thành viên HĐQT có mối tương quan thuận với đo lường kế toán của kết quả hoạt động kinh doanh Tóm lại, công trình này nghiên cứu sâu về hầu hết các khía cạnh của QTCT một cách hệ thống
Thứ hai, công trình “Corporate Governance: priciples, policies and practices”
(tạm dịch là “QTCT: nguyên tắc, chính sách và thực hành”) của Bob Tricker được
Oxfoxd University Press tái bản lần thứ ba năm 2015 Nội dung của công trình này trình bày, phân tích những tình huống thực hành các nguyên tắc QTCT Từ đó đi đến
Trang 22phân tích và đánh giá các mô hình lý thuyết về QTCT của các nước; đưa ra những đánh giá, dự báo về tương lai của QTCT Theo đó:
Lịch sử, văn hóa và chính trị tác động đến mô hình QTCT ở các nước nhưng
xu thế hội tụ là chủ yếu dù rằng thực hành chúng có một số nét khác biệt
Tương lai của QTCT phải hướng đến hiệu quả hoạt động, thực hiện được trách nhiệm giải trình và trách nhiệm xã hội một cách thỏa đáng
Nhìn chung, tác giả đã có sự phân tích tương đối đầy đủ thực tiễn QTCT ở các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và lý thuyết về QTCT
Thứ ba là công trình “New Corporate governance - Successful Board Management Tools” (tạm dịch là QTCT kiểu mới - công cụ điều hành Hội đồng thành công) của Martin Hilb được tái bản lần thứ năm vào năm 2016, do Springer,
Verlag Berlin Heidelberg xuất bản Trong công trình này, Martin Hilb đã đưa ra một phương thức QTCT kiểu mới mà ông gọi là mô hình glocal Theo đó, HĐQT công ty không những hướng tới mối quan tâm của cổ đông mà còn hướng tới lợi ích của các bên hữu quan; hệ thống QTCT không chỉ đảm bảo tính đặc trưng của quốc gia mà còn đảm bảo tính toàn cầu Tuy nhiên, công trình này chưa phân tích thấy rõ được tính hệ thống, tính phụ thuộc lẫn nhau của các thành phần của QTCT
Thứ tư, Báo cáo nghiên cứu “Corporate governance: Improving Competitiveness and Access to Capital in Global Markets” (tạm dịch là “QTCT: nâng cao khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường vốn toàn cầu”) của Ira M
Millstein, Michel Albert, Sir Adian Cadbury, Robert E Danham, Dieter Feddersen
và Nobuo Tateusi gửi cho OECD năm 1998 Nội dung của nghiên cứu này thừa nhận QTCT minh bạch là chìa khóa tiếp cận thị trường vốn toàn cầu Hoạt động QTCT sẽ
tiếp tục khác biệt ở từng quốc gia và từng nền văn hóa Không có một cấu trúc về
QTCT cuối cùng và ổn định nào để mọi công ty và mọi quốc gia sao chép Đây là một
nghiên cứu có tính khái quát và đầy đủ, xứng đáng làm nền tảng cho việc hình thành các nguyên tắc QTCT sau này của OECD
Thứ năm, Bài viết “Models and Practices of Corporate Governance Worldwide” (tạm dịch là “Các mô hình và thực tiễn QTCT trên thế giới”) của
Mihaela Ungurean do Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu, Đại học Alexandru Ioan Cuza
(Romania) phát hành năm 2012 và bài viết “Three Models of Corporate
Governance” (tạm dịch là “ Ba mô hình QTCT”) của Sal Gdansk năm 2005 công bố
tại http://www.emergingmarketsesg.net/esg/wpcontent/uploads/2011/01/Three
Trang 23-Models-of-Corporate-Governance-January-2009.pdf (cập nhật vào lúc 7h30 ngày 30/12/2015) Nội dung của các nghiên cứu này mô tả mô hình QTCT ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển Đó là mô hình QTCT của Mỹ, Đức, Nhật Bản Ba
mô hình này ghi nhận quan điểm tiếp cận khác nhau trong xây dựng hệ thống QTCT
ở các nước này, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội riêng của từng quốc gia
Thứ sáu, công trình nghiên cứu “Corporate governance: effects on firm performance and economic growth” (tạm dịch là: “Ảnh hưởng của QTCT đến hiệu quả hoạt động của DN và tăng trưởng kinh tế”) của Maria Maher and Thomas
Andersson năm 1999 do OECD phát hành và giữ bản quyền Nội dung của công trình này mô tả mô hình QTCT hướng tới CĐ và mô hình QTCT hướng tới các bên có quyền lợi liên quan Tài liệu cũng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mối liên
hệ giữa quản trị DN, hiệu quả của công ty và tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở đó, các tác giả khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng một khuôn khổ quản trị tốt để vừa đảm bảo lợi ích của cổ đông chi phối, với vai trò là người giám sát trực tiếp, đồng thời lại đảm bảo không gây ảnh hưởng tới sự phát triển của thị trường
chứng khoán
Thứ bảy, công trình nghiên cứu “Investor protection and Corporate governance” (tạm dịch là “Bảo vệ nhà đầu tư và QTCT”) của Rafael La Porta.,
Florencio Lopez-de-Silanes., Andrei Shleifer., Robert Vishny đăng trên tạp chí Kinh
Tế Tài Chính (Journal of financial economics) số 58 năm 2000 của Hoa Kỳ Theo đó,
nhóm tác giả đã bác bỏ quan điểm cho rằng thị trường tài chính không cần các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này và nhấn mạnh mức độ bảo vệ của pháp luật đối với nhà đầu tư (bao gồm cả CĐ bên ngoài và chủ nợ) trước sự chiếm đoạt của các nhà quản lý và các CĐ kiểm soát là một lý do quan trọng giải thích sự khác biệt về mức độ tập trung sở hữu trong CTĐC ở các nước Các quy định pháp luật bảo
vệ nhà đầu tư bên ngoài thay đổi có hệ thống trên cơ sở truyền thống pháp lý Bên cạnh đó, yếu tố lịch sử và chính trị của các nước cũng dẫn đến sự khác biệt về mức
độ bảo vệ nhà đầu tư Việc áp dụng các quy tắc thực nghiệm của các nước khác chỉ
được xem là tốt nếu đó là những quy tắc pháp lý mà một quốc gia có thể thực thi tốt
Thứ tám, công trình nghiên cứu “A Stakeholder Approach to Corporate Social Responsibility - A Fresh Perspective into Theory and Practice” (tạm dịch là “Tiếp cận các bên có quyền lợi liên quan dưới giác độ trách nhiệm xã hội của công ty - Quan điểm mới về lý thuyết và thực tiễn”) của Dima Jamali, được đăng trên tạp chí Đạo đức Kinh doanh (Journal of Business Ethics) số 82 năm 2008 của Hoa kỳ Trên
Trang 24cơ sở phân tích các mô hình truyền thống về trách nhiệm xã hội của DN (CSR) của Carroll và hiệu quả xã hội của DN (CSP) của Wood, Dima Jamali nêu bật khuynh hướng chủ yếu trong việc xác định các yếu tố của trách nhiệm xã hội của DN, đồng thời đưa ra cách tiếp cận mới về QTCT theo hướng tích hợp học thuyết các bên có quyền lợi liên quan với thuyết về trách nhiệm xã hội của công ty Theo đó, các công
ty ở các quốc gia đang phát triển xét ưu tiên cho các bên có quyền lợi liên quan của
họ chủ yếu dựa trên các cân nhắc hợp lí về hiệu quả hoạt động của công ty Từ phân
tích đó, có thể thấy việc QTCT theo thuyết các bên có quyền lợi liên quan còn là yếu
tố đảm bảo trách nhiệm xã hội của công ty
Thứ chín, nghiên cứu “A political economy model of corporate governance”
(tạm dịch là “mô hình kinh tế chính trị của QTCT”) của Lucian Bebchuk và Zvika
Neeman năm 2004 (cập nhật 7h ngày 30/12/2015), được công bố tại website
http://www.law.harvard.edu/programs/corp-gov/papers/Bebchuk-NeemanSep04.pdf Nội dung của nghiên cứu này mô tả sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa người bên trong công ty và nhà đầu tư định chế (institutional investor) đến các chính trị gia trong việc thiết lập quy định của luật công ty Bằng việc xây dựng các biến số và mô hình kinh
tế lượng để kiểm chứng những ảnh hưởng chính trị đến việc bảo vệ nhà đầu tư thông qua luật công ty, nhóm tác giả đã đi đến kết luận rằng, sự kém hiệu quả của pháp luật công ty trong việc bảo vệ nhà đầu tư xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của các chính trị gia hoặc từ những ảnh hưởng chính trị của nhóm lợi ích liên quan lên việc thiết lập các quy định của luật công ty Đây là công trình có giá trị khoa học, đóng góp quan trọng vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật QTCT
Thứ mười, các báo cáo nghiên cứu “Asean corporate govenance scorecard country reports and Assessments” (tạm dịch là “Báo cáo thẻ điểm QTCT khu vực Asean và đánh giá” của Diễn đàn thị trường vốn khu vực Asean và Ngân hàng Phát
triển khu vực Asean được công bố qua các năm từ năm 2013 đến 2016 Báo cáo được xây dựng, đánh giá và cho điểm trên cơ sở xem xét khả năng đáp ứng bộ nguyên tắc QTCT của OECD Tuy nhiên, các báo cáo này chỉ dựa trên kết quả khảo sát các công
ty niêm yết lớn và kinh doanh hiệu quả Do đó kết quả nghiên cứu không phản ánh được đầy đủ và toàn diện nhu cầu điều chỉnh pháp luật QTCTĐC
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật QTCTĐC Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật QTCTĐC ở Việt Nam có hàm lượng khoa học cao phải kể đến là một số công trình tiêu biểu sau:
Trang 25Thứ nhất, nghiên cứu “Cải cách các quy định về kinh doanh: Cẩm nang dành cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam” của tác giả Ray Mallon, được Cơ quan
Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương công bố năm 2004 Liên quan đến nội dung cải cách QTCT, tác giả tiếp cận theo trường phái
lý thuyết các bên có quyền lợi liên quan Theo đó, QTCT là việc bảo vệ lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan chính trong các DN kinh doanh Trọng tâm là việc bảo
vệ lợi ích của người góp vốn cho công ty Tác giả cho rằng, QTCT tốt thích hợp hơn với các công ty lớn Bởi vì nó tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn bên ngoài từ các thị trường tài chính và thị trường vốn, cung cấp các lựa chọn huy động vốn có hiệu quả Tuy nhiên, đây chỉ là những nhận định trên cơ sở so sánh các quy định trước năm
2004 với bộ nguyên tắc QTCT năm 2004 của OECD, mà chưa cho thấy được sự
tương thích của nó với thực tiễn của Việt Nam
Thứ hai, công trình “So sánh thực trạng QTCT tại Việt Nam với các nguyên tắc QTCT của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)” của Học viện Tài
chính và Công ty Tư vấn Quản lý MCG năm 2004 Trên cơ sở đối chiếu, so sánh các quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 1999 của Việt Nam và các văn hướng dẫn niêm yết và quản trị các công ty niêm yết với các nguyên tắc QTCT của OECD năm 2004, công ty tư vấn MCG đưa ra các khuyến nghị theo quan điểm của OECD nhằm hoàn thiện LDN năm 1999 Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu phân tích
và khuyến nghị này hiện nay đã không còn nhiều giá trị thực tiễn
Thứ ba, công trình “Thời điểm cho sự thay đổi: Đánh giá LDN và Kiến nghị”
của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ), UNDP & CIEM công bố năm 2004 Liên quan đến nội dung QTCT đại chúng, công trình này phân tích những vướng mắc trong thực tiễn bốn năm thực thi LDN năm 1999 Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa những khuyến nghị bổ sung vào trong LDN năm 2005 mà nay đã hết hiệu lực
Thứ tư, “Báo cáo tổng hợp nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của DN với tư tưởng xây dựng LDN Thống nhất và Luật Đầu tư chung” của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ & Chương trình Phát
triển Liên Hợp Quốc 2004 Liên quan đến QTCT cổ phần, công trình nghiên cứu này tiến hành rà soát các quy định của LDN năm 1999 đã hết hiệu lực của Việt Nam theo các chuẩn mực QTCT của OECD
Thứ năm, các nghiên cứu “Report on the Observance of Standards and Codes
- Corporate Governance country Assessment in Vietnam” (tạm dịch là Báo cáo Tình hình Tuân thủ các Chuẩn mực và Nguyên tắc (ROSC) - Đánh giá tình hình QTCT
Trang 26của Việt Nam) của Behdad Nowroozi năm 2006 và của David Robinett, Pasquale Di
Benedetta cùng Nguyễn Nguyệt Anh năm 2013, do Ngân hàng Thế giới công bố cùng năm tương ứng Các báo cáo này đánh giá mức độ tuân thủ của khung chính sách QTCT ở Việt Nam theo bộ nguyên tắc QTCT của OECD Báo cáo thừa nhận, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư chưa hữu hiệu và còn hạn chế trong việc công bố các thông tin có chất lượng Trên cơ sở đó, báo cáo khuyến nghị: tăng cường vai trò và năng lực của
cơ quan quản lý thị trường chứng khoán; quy định nhất quán và rõ ràng cho những người tham gia thị trường; cải thiện bảo vệ CĐ thiểu số; thành lập HĐQT chuyên nghiệp và hiệu quả; tăng cường tính minh bạch với kiểm toán viên độc lập hơn Tuy nhiên, báo cáo này chưa làm rõ mô hình lý thuyết mà Việt Nam nên lựa chọn, nhiều vấn đề nghiên cứu đã không còn mang tính thời sự
Thứ sáu, sách chuyên khảo về “Pháp luật về QTCT niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Lê Vũ Nam (chủ biên), Châu Quốc An, Lê Diễm Châu
và Lưu Minh Sang, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh xuất bản năm 2018 Nội dung của cuốn sách này trình bày những quy định về thị trường chứng
khoán, công ty niêm yết và QTCT niêm yết, cũng như một số vướng mắc trong thực thi các quy định của pháp luật Cách tiếp cận của quyển sách này dựa trên những khuyến nghị thực thi các nguyên tắc QTCT của OECD năm 2004 và một số chồng chéo, khó khăn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật DN và pháp luật chứng khoán Tuy nhiên, sách chưa làm rõ cơ sở lý thuyết cũng như bản chất của vấn đề liên quan đến hạn chế đó, nhiều vấn đề có liên quan còn chưa được khai thác triệt để
Thứ bảy, sách “Luật Doanh nghiệp, Bảo vệ cổ đông - Pháp luật và thực tiễn”
của Bùi Xuân Hải, do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 Quyển sách này chủ yếu phân tích khái quát về cơ sở lý luận bảo vệ CĐ của công ty CP và thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó tập trung ưu tiên vào phân tích bảo vệ CĐ thiểu số Sách cũng trình bày một số điểm hạn chế của LDN năm 2005 trong việc bảo
vệ CĐ thiểu số Tuy nhiên, quyển sách chỉ giới hạn tiếp cận dưới giác độ bảo vệ lợi ích của CĐ, mà chưa xem xét đến quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan khác
Thứ tám, bài viết “ Điều hòa lợi ích của CĐ và người quản lí trong công ty đại chúng ở Vương quốc Anh” của Hà Thị Thanh Bình công bố trên tạp chí Luật học số
12 năm 2015 Trên cơ sở phân tích pháp luật Vương quốc Anh, tác giả kiến nghị bổ sung hình thức biểu quyết theo số lượng người tại cuộc họp ĐHĐCĐ thay cho hình thức biểu quyết theo tỷ lệ CP nắm giữ; quy định nghiêm khắc chế tài về trách nhiệm của thành viên HĐQT, trong đó đưa tình tiết tăng nặng vào trong trách nhiệm hình
Trang 27sự đối với hành vi giao dịch nội gián của người quản lý công ty; tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giám soát hoạt động giao dịch có nguy cơ nội gián Tuy nhiên, trong phạm vi một bài viết ngắn, một số kiến nghị chỉ dừng lại ở việc định hướng chung và mất tính thời sự cùng sự ra đời của LDN năm 2020
Thứ chín, bài viết “ Vấn đề QTCT trong các doanh nghiệp Việt Nam” của
Nguyễn Trường Sơn công bố trên tạp chí Khoa học và Công nghệ số 05 (40) năm
2010, Đại học Đà Nẵng Trên cơ sở khảo sát việc tuân thủ một số tiêu chí trong bộ nguyên tắc QTCT của OECD tại 400 DN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, tác giả kết luận khuôn khổ pháp lý QTCT khá thấp (2,33/5 điểm), nhiều quy định trong luật còn chung chung, thiếu cơ sở thực hiện Tuy nhiên, công trình không cho thấy mức
độ tương thích của các tiêu chí dùng khảo sát so với thực tế bối cảnh của Việt Nam
Thứ mười, bài viết “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công
ty Việt Nam” của Bùi Xuân Hải công bố trên tạp chí Khoa học pháp lý số 04 năm
2007 Bài viết này đã thành công trong việc trình bày những nội dung cơ bản của học
thuyết về đại diện (agency theory) của các nước phương Tây trong việc lý giải mối
quan hệ giữa CĐ và người quản lý công ty Trên cơ sở đó, bài viết phân tích kiến nghị góp phần hoàn thiện LDN 2005 vừa qua
1.1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
1.1.3.1 Những thành tựu nghiên cứu đạt được và được kế thừa trong luận án
Các công trình nghiên cứu đã chứng minh được mối “quan hệ thuận” giữa QTCTĐC với hiệu quả kinh doanh của công ty và tăng trưởng kinh tế quốc gia nói chung Ngược lại, hệ thống QTCTĐC, trong đó những điều chỉnh pháp luật về QTCTĐC kém đã ảnh hưởng đến cơ hội huy động vốn của DN và sự phát triển của thị trường vốn Do vậy, các nghiên cứu điều chỉnh pháp luật phải cũng phải xét đến những lợi ích kinh tế Giá trị và ý nghĩa khoa học này được luận án xuyên suốt theo đuổi và phát triển
Các công trình nghiên cứu trước đây cũng rất thành công trong việc xây dựng các quy tắc thực nghiệm tốt về QTCTĐC làm cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật QTCTĐC và các thể chế phi chính thức khác ở từng quốc gia Tuy nhiên,
sự nhầm lẫn, sao chép, bắt chước hoàn toàn mô hình QTCTĐC của các nước có thị trường chứng khoán phát triển bị xem xét và chứng minh ngược lại về tính hiệu quả của nó Cụ thể, có những nước thuộc truyền thống Thông luật (Common Law tradition) vận dụng mô hình QTCTĐC của Hoa Kỳ đã không mang lại hiệu quả
Trang 28Chúng thường gặp phải những vấn đề trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền, cứng nhắc trong hoạt động thực thi và tạo ra mức độ kiện cao Trái lại, hệ thống QTCTĐC
mở rộng phạm vi ràng buộc pháp lý không cần thiết cũng tạo ra những chi phí có thể vượt quá lợi ích của nó mang lại Nói đúng hơn không có một hệ thống QTCTĐC nào được xem là tối ưu cho mọi quốc gia, hay một mô hình QTCTĐC nào phù hợp với mọi quốc gia Do đó, việc vận dụng các lý thuyết quản trị cần gắn liền mục tiêu của quy phạm và giả định của quy phạm đó Đây cũng chính là điều mà luận án này
mà chưa cho thấy mối quan hệ tác động lẫn nhau và gắn kết hệ thống giữa chúng Hơn nữa, bản thân mỗi lý thuyết nghiên cứu cũng tồn tại những hạn chế nhất định, gắn liền với những tiền đề, điều kiện xây dựng chúng
Riêng đối với Việt Nam, các công trình nghiên cứu chưa chứng minh được đầy
đủ cơ sở lý thuyết và thực tiễn về việc lựa chọn phương thức điều chỉnh hay mô hình QTCTĐC để làm cơ sở cho việc kiến tạo các quy định của pháp luật thực định Đây cũng là vấn đề mà luận án tiếp tục làm rõ
Theo đó, sau khi xác định đầy đủ nội hàm của khái niệm QTCT, luận án làm rõ các yếu tố ảnh hưởng chung đến việc xây dựng và thực thi pháp luật QTCTĐC, những yếu tố dẫn đến những khác biệt trong mô hình QTCTĐC của các nước, làm cơ sở lý luận để xem xét, so sánh, phân tích những tác động của chúng đến mô hình QTCTĐC của Việt Nam
Song song đó, luận án phân tích rõ bản chất vấn đề cần giải quyết của pháp luật
QTCTĐC của Việt Nam và tác động của các yếu tố mà thực tế xây dựng pháp luật QTCTĐC của Việt Nam phải đảm bảo tính tương thích để nâng cao hiệu quả thực thi
và giảm chi phí giao dịch cho DN Đồng thời làm rõ khả năng vận dụng các ưu việt của mô hình QTCTĐC của các nước và các lý thuyết có liên quan trong việc thiết kế
và kiện toàn mô hình QTCTĐC hay phương cách và cơ chế điều chỉnh quan hệ QTCT
phù hợp với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam nhằm làm cơ sở cho việc hoàn thiện các
quy định pháp luật QTCTĐC
Trang 29Có thể nói, ngoài những công trình có ý nghĩa về mặt lý thuyết, các công trình nghiên cứu về pháp luật QTCTĐC của Việt Nam chỉ dừng lại ở những suy luận pháp
lý trên cơ sở đối chiếu các quy phạm thực định của LDN về các quan hệ nội bộ công
ty với các nguyên tắc QTCT của OECD, mà chưa chứng minh được mức độ tương thích của các nguyên tắc QTCT của OECD với thực tiễn ở Việt Nam; chưa nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống khung pháp lý QTCTĐC ở Việt Nam, mà chỉ nghiên
cứu dưới giác độ của từng Luật riêng rẽ; hoặc chỉ dừng lại ở việc phân tích những
mâu thuẫn của các quy phạm pháp luật thực định làm ảnh hưởng đến việc thực thi các quy định đó trên thực tế, mà không phân tích rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính thuyết phục về lợi ích thực tế của việc xây dựng và áp dụng Trong khi hệ thống QTCTĐC được điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau và cả những quy tắc, thông
lệ phi nhà nước (Điều lệ, quy chế, thỏa thuận CĐ,… của tổ chức) Hay nói cách khác, kết quả nghiên cứu trước đây còn thiếu sự gắn kết có tính hệ thống, đồng bộ và tính hiệu quả điều chỉnh Do đó, chưa đủ cơ sở để thuyết phục rằng, pháp luật QTCTĐC hiện tại hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, hay việc thực hiện các khuyến nghị điều chỉnh pháp luật theo thông lệ các nước là mang lại lợi ích tổng thể tốt nhất cho Việt Nam, thậm chí nhiều công trình trở nên lạc hậu so với những đổi mới của LDN năm 2020 Chính vì thế, luận án tiếp tục làm rõ những hạn chế của các luật có liên quan của Việt nam liên quan đến QTCTĐC một cách hệ thống trong mối tương quan với các yếu tố tác động của bối cảnh thực thi riêng của Việt Nam, nhất là sau khi ban hành LDN năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019 Trong đó, xác định rõ vai trò của cổ đông kiểm soát và chủ nợ trong hệ thống QTCTĐC, vốn chưa được quan tâm thỏa đáng trong pháp luật QTCTĐC; vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong cơ cấu quản lý nội bộ công ty; vai trò và trách nhiệm của các công cụ hỗ trợ giám sát của thị trường Luận án cũng đưa ra các giải pháp pháp lý cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC của Việt Nam, đặc biệt là từ sau khi ban hành LDN năm 2020
Nhìn chung, luận án tập trung chủ yếu vào các vấn đề nghiên cứu sau: (1) xác định rõ nội hàm của QTCT làm cơ sở để xác định cấu trúc của hệ thống QTCTĐC; (2) những yêu cầu cốt lõi đối với pháp luật QTCTĐC làm cơ sở cho việc xác định nguyên tắc điều chỉnh pháp luật QTCTĐC; (3) các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực thi pháp luật QTCTĐC của Việt Nam làm cơ sở cho việc kiện toàn pháp luật QTCTĐC; (4) thực trạng mô hình QTCTĐC hay cách thức và cơ chế điều chỉnh nhằm kiểm soát và định hướng các CTĐC ở Việt Nam hiện nay và vấn đề phát sinh;
Trang 30(5) xác định mô hình QTCT tương thích và hiệu quả thông qua việc xác định bản chất, nhu cầu, mục tiêu điều chỉnh và vận dụng lý thuyết phù hợp với bối cảnh của Việt Nam; (6) những hạn chế của pháp luật thực định có liên quan của Việt Nam về QTCTĐC và giải pháp kiện toàn các quy định của pháp luật QTCTĐC
1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Không thể phủ nhận rằng, hiệu quả điều chỉnh pháp luật QTCTĐC đóng vai trò quan trọng tác động tới sự năng động của các CTĐC và niềm tin thị trường Việc đảm bảo tính linh hoạt của CTĐC trước những biến đổi nhanh chóng của thị trường không hoàn toàn đồng nghĩa với việc loại trừ vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng nên hành lang pháp lý phù hợp với từng giá trị xã hội Sự thiếu vắng nền tảng lý thuyết hay mô hình lý thuyết tương thích với bối cảnh xây dựng và thực thi pháp luật QTCTĐC dẫn đến sự thiếu ổn định của các văn bản pháp quy và gia tăng chí phí thực thi cho DN, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Chỉ với 37,5% CTĐC tự đánh giá là có khả năng tuân thủ đầy đủ các quy định QTCTĐC
đã phần nào gợi ra khả năng về sự kém tương thích và cần hoàn thiện của pháp luật QTCTĐC
Do vậy, câu hỏi nghiên cứu tổng quát là: trong bối cảnh tác động của các
yếu tố ảnh hưởng, pháp luật QTCTĐC của Việt Nam hiện nay cần phải được hoàn thiện như thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát và định hướng của các công ty đại chúng, phát huy quyền tự do kinh doanh, góp phần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, động viên sự phát triển của thị trường vốn? Để giải quyết câu hỏi nghiên cứu tổng quát này, đề tài tập trung giải quyết những câu hỏi nghiêu cứu phụ thuộc sau:
Câu hỏi nghiên cứu thứ 1: nội hàm của QTCT là gì ? trong đó, pháp luật có phạm vi điều chỉnh và vai trò như thế nào ?
Giả thuyết nghiên cứu thứ 1: QTCT hay QTCTĐC là một hệ thống các quy định, cơ chế nhằm tổ chức quản lý công ty một cách có hiệu quả, vì lợi ích của CĐ
và của những người có quyền lợi liên quan Chúng không chỉ bao gồm các quy phạm
pháp luật mà còn các quy phạm phi nhà nước khác (Điều lệ công ty, tập quán ) Tất
cả các quy phạm này tạo thành một hệ thống các cơ chế điều chỉnh hoạt động giám sát và kiểm soát hành vi quản lý điều hành công ty Đó là cơ chế điều chỉnh của pháp luật, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường và cơ chế tự điều chỉnh bởi các tập quán, chuẩn mực văn hóa, quy tắc ứng xử của cộng đồng … trong thực tế lên hành vi ứng
xử của các chủ thể trên để kiểm soát và định hướng công ty Tùy theo mức độ điều
Trang 31chỉnh của các cơ chế trên mà tạo thành những mô hình QTCT (corporate governance model) khác nhau, được quy giản từ hệ thống các quy phạm đặc thù và đại diện cho
Pháp luật QTCTĐC giúp giải quyết mâu thuẫn giữa các nhà đầu tư vốn, hài hòa lợi ích chính đáng của các bên có quyền lợi liên quan, tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh hỗ trợ phát triển thị trường vốn Pháp luật QTCTĐC tốt giúp CTĐC đa dạng
hóa nguồn vốn với chi phí thấp, giảm bớt rủi ro, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty Cuối cùng pháp luật QTCTĐC giúp hiện thực hóa quyền sở
hữu và quyền tự do kinh doanh của công ty
Câu hỏi nghiên cứu thứ 2: Việc điều chỉnh pháp luật QTCTĐC cần phải đáp ứng những yêu cầu cốt lõi gì ?
Giả thuyết nghiên cứu thứ 2:
Với nguồn lực thực thi hữu hạn, việc điều chỉnh pháp luật QTCTĐC cần phải giảm thiểu chi phí xã hội (social costs) của quá trình thực thi Điều đó được thực hiện khi việc xây dựng và kiện toàn pháp luật QTCTĐC được đặt trong sự tương thích của
nó với các yếu tố ảnh hưởng riêng của quốc gia và mức tiết kiệm chi phí thực hiện mục tiêu điều chỉnh
Pháp luật không nên cứng nhắc, can thiệp quá sâu và bao trùm lên tất cả các hoạt động kiểm soát và định hướng công ty, mà nên hướng tới tạo lập khung pháp lý thúc đẩy, hỗ trợ thị trường và các thể chế phi chính thức khác giám sát và thực thi hiệu quả Pháp luật chỉ can thiệp khắc phục những hạn chế của thị trường để đảm bảo thị trường vốn hoạt động minh bạch và công bằng, nguồn lực xã hội được sử dụng hiệu quả; phát huy quyền tự do kinh doanh và đảm bảo sự tự điều tiết của thị trường Pháp luật cần hướng đến hài hòa lợi ích của người cấp vốn bao gồm CĐ và chủ
nợ, cũng như hài hòa lợi ích thỏa đáng của chủ đầu tư và các bên có liên quan khác
Trang 32Việc đảm bảo lợi ích chính đáng của các bên có quyền lợi liên quan khác còn là nhân
tố đảm bảo cho công ty phát triển bền vững, góp phần gia tăng giá trị dài hạn cho CĐ, đảm bảo trách nhiệm xã hội của công ty Tuy nhiên, điều này cũng không được làm xói mòn trọng tâm bảo vệ quyền lợi của CĐ Bởi CĐ chính là khởi nguyên cho sự
hình thành, tồn tại và phát triển của công ty, là cội nguồn quyền lực trong công ty
Câu hỏi nghiên cứu thứ 3: Về mặt lý luận, việc xây dựng pháp luật quản trị công ty đại chúng nói chung chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố phổ quát nào? Giả thuyết nghiên cứu thứ 3:
Nội dung và cách thức điều chỉnh của pháp luật QTCTĐC chịu sự tác động của nhiều yếu tố có mối quan hệ với nhau, bao gồm cơ cấu sở hữu, cấu trúc nguồn vốn,
cơ chế quản lý kinh tế và mức độ phát triển của thị trường, văn hóa kinh doanh, truyền thống pháp lý, yếu tố chính trị và tư duy tổ chức quyền lực, yêu cầu hội nhập Tùy thuộc vào bối cảnh tác động riêng ở từng quốc gia mà pháp luật mỗi quốc gia có cách
điều chỉnh riêng Theo đó, các quy phạm pháp luật thực định cũng được thiết kế phù
hợp với cơ chế điều chỉnh và mô hình QTCT được xây dựng trên nền tảng tương
thích với các yếu tố ảnh hưởng đó
Câu hỏi nghiên cứu thứ 4: pháp luật quản trị công ty đại chúng của Việt Nam nên được xây dựng theo lý thuyết và mô hình nào để tương thích với các yếu tố ảnh hưởng của bối cảnh thực thi chúng và tiết kiệm được chi phí thực thi?
Giả thuyết nghiên cứu thứ 4: Việt Nam thuộc truyền thống luật dân sự (Civil
law tradition), cơ cấu sở hữu tập trung cao, nguồn vốn còn dựa nhiều vào ngân hàng
và văn hóa kinh doanh vẫn còn nặng về tập trung quyền quản lý vào trong tay chủ hữu CP Do vậy, mô hình QTCTĐC của Việt Nam gần với mô hình quản trị công ty của các nước thuộc truyền thống luật dân sự Tuy nhiên, nhu cầu huy động nguồn vốn
xã hội và yếu tố văn hóa không khuyến khích vai trò can thiệp trực tiếp của ngân hàng
và người lao động như mô hình chuẩn tắc của các nước châu Âu lục địa, đồng thời phát sinh nhu cầu nhấn mạnh trọng tâm bảo vệ lợi ích của CĐ Do đó, mô hình QTCTĐC phù hợp với mô hình tích hợp vận hành theo cơ chế tuân thủ hoặc giải trình với việc cho phép áp dụng biện pháp thay thế theo chức năng Trong đó, nhấn mạnh đến trọng tâm bảo vệ lợi ích của CĐ, đồng thời xem xét đến lợi ích chính đáng của các bên có quyền lợi liên quan khác Theo đó, cơ cấu quản trị nội bộ công ty nên theo hướng nhấn mạnh phát huy khía cạnh tích cực của CĐ kiểm soát trong việc thúc đẩy các lợi ích dài hạn của công ty, các công cụ bên ngoài nên được kiện toàn để hỗ trợ
sự kiểm soát của thị trường lên hành vi của người quản lý, điều hành công ty Nói
Trang 33cách khác, pháp luật Việt Nam nên được xây dựng và hoàn thiện theo hạt nhân hợp
lý của cả học thuyết các bên có quyền lợi liên quan và nhấn mạnh đến trọng tâm bảo
vệ quyền lợi của cổ đông, tức không nên hoàn toàn theo học thuyết chuẩn tắc về các bên có quyền lợi liên quan
Câu hỏi nghiên cứu thứ 5: Các quy phạm pháp luật thực định về QTCTĐC của Việt Nam đã có những vướng mắc, bất cập cụ thể nào cần được hoàn thiện ?
Pháp luật thực định về QTCTĐC của Việt Nam chưa hoàn toàn tương thích với bối cảnh và nhu cầu của nền kinh tế Vấn đề hài hòa mối quan hệ giữa giữa CĐ kiểm soát và CĐ thiểu số, giữa của CĐ với người có quyền lợi liên quan, giữa CĐ và người quản lý chưa được quan tâm đúng mức; các công cụ hỗ trợ giám sát của thị trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
Câu hỏi nghiên cứu thứ 6: để nâng cao hiệu quả điều chỉnh, pháp luật QTCTĐC ở Việt Nam, cần thực hiện những giải pháp pháp lý cụ thể gì ?
Giả thuyết nghiên cứu thứ 6: Pháp luật QTCTĐC Việt Nam hiện nay nên khắc
phục những khiếm khuyết trong cơ cấu quản trị nội bộ công ty và trong cơ chế thúc
đẩy vai trò kiểm soát của thị trường Trong cơ cấu quản trị nội bộ công ty nên áp dụng
cơ chế linh hoạt theo tỷ lệ tương xứng Theo đó, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy
mô giao dịch giữa công ty với người có quyền lợi liên quan cần kiểm soát được điều chỉnh theo mô hình quản trị nội bộ, quy mô vốn, cơ cấu sở hữu, tình trạng niêm yết; quy định ngưỡng tỷ lệ sở hữu CP hợp lý để xác định tính độc lập của thành viên HĐQT theo quy mô vốn Ngoài ra, cần tăng cường quyền hạn và trách nhiệm cũng như cơ chế hoạt động của BKS, xác lập lại vị trí và cơ chế bầu UBKT trong mô hình không có BKS để nâng cao hiệu quả giám sát Thừa nhận hiệu quả giám sát của thành viên BKS nắm CP trong công ty và CĐ lớn bằng việc điều chỉnh các quy định có liên quan vai trò giám sát của CĐ và người đại diện phần vốn góp Quy định trách nhiệm của CĐ hoặc khối CĐ kiểm soát tác động lên tính độc lập của HĐQT gây thiệt hại cho công ty Yêu cầu công bố chính sách bỏ phiếu của CĐ lớn nắm giữ cùng lúc phần lớn CP ở nhiều công ty có lợi ích xung đột Song song đó, các quy định của pháp luật cũng cần ghi nhận vai trò giám sát của các ngân hàng chủ nợ và người lao động thông qua cơ chế khuyến khích họ tham gia vào quá trình giảm sự bất cân xứng thông tin đồng thời điều chỉnh các quy định nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ nợ Cuối cùng, pháp luật cần hoàn thiện các quy định nâng cao hiệu quả của các công cụ bên ngoài hỗ trợ thị trường giám sát và điều chỉnh hành vi của người quản lý, góp phần giảm bớt chi phi thực thi pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
Trang 341.5 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu:
1.5.1 Học thuyết về chi phí giao dịch (Transaction Cost Theory):
1.5.1.1 Nội dung của học thuyết về chi phí giao dịch:
Học thuyết chi phí giao dịch được Ronald H Coase khởi xướng trong bài viết
“Bản chất của doanh nghiệp” (Nature of the Firm) năm 1937 và Oliver E Williamson tiếp tục phát triển sau đó9 Theo Coase, về mặt lý thuyết, thị trường trao đổi là phương thức phân bổ nguồn lực và phối hợp hoạt động kinh tế hiệu quả nhất nhưng trong thực tế chúng hoàn toàn có thể bị cản trở bởi chi phí giao dịch (transaction cost) Cụ thể là việc sử dụng thị trường phân bổ nguồn lực làm phát sinh các chi phí sau: chi phí tìm kiếm thông tin trước khi ký hợp đồng, chi phí thương thảo và ra quyết định, chi phí theo dõi và kiểm tra sau khi hợp đồng đã được ký Khi xuất hiện nhu cầu quan
hệ dài hạn giữa các tác nhân, các hợp đồng dài hạn được ký nhưng do tính duy lý hạn chế làm cho các ràng buộc không được dự báo đầy đủ và chi tiết hóa trong hợp đồng, gây ra rủi ro xuất hiện hành vi cơ hội làm gia tăng chi phí giao dịch Lúc này, các giao dịch có chi phí dương cao do sử dụng phương thức phối hợp bởi thị trường sẽ được các tác nhân đưa vào bên trong cấu trúc của DN Khi đó, DN tồn tại như một hình thức phối hợp đối chọn với thị trường trong việc phân bổ nguồn lực và phối hợp hoạt động, cùng với thị trường hợp thành cấu trúc thể chế của hệ thống kinh tế Khác với thị trường là phương thức phối hợp phi tập trung dựa trên cơ chế giá, DN là phương thức phối hợp tập trung dựa trên quyền uy, thứ bậc Tuy nhiên chi phí tổ chức nội bộ của DN cũng có tính tăng dần theo quy mô, những giới hạn trong phối hợp một số hoạt động ngày càng lớn Do vậy, việc lựa chọn giữa phối hợp thị trường và phối hợp nội bộ phụ thuộc vào việc so sánh chi phí sử dụng của hai phương thức này Phân tích thêm vấn đề này, Williamson (1985) cho rằng, các công ty lớn có thể vượt qua sự bất lợi của quy mô bằng sự lựa chọn cấu trúc quản trị (governance structures) để tiết kiệm chi phí giao dịch Theo Williamson, nguồn gốc của chi phí giao dịch xuất phát từ hành vi của cá nhân và thuộc tính của các giao dịch Ở đó, các
cá nhân hành động với tính duy lý hạn chế và về cơ bản có tính cơ hội, còn đặc điểm của giao dịch phụ thuộc vào ý niệm về tính đặc thù của tài sản, tần suất, bất trắc Sự kết hợp giữa tính đặc thù của tài sản, tần suất và bất trắc tạo ra những rủi ro hành vi
cơ hội Khi đó, các phương thức điều hành được chấp nhận là phương thức tối thiểu hóa chi phí giao dịch Ông cũng cho rằng, tính hiệu quả của thị trường nằm ở sức
9 Oliver E Williamson & Sidney G Winter (1991), the Nature of the Firm: Origins, Evolution and
Development, Oxford University Press, USA
Trang 35mạnh động viên của nó Trong nội bộ DN, tính cơ hội được thể hiện bằng việc theo đuổi mục tiêu cá nhân làm thiệt hại cho mục đích cuối cùng của DN Do vậy, để ngăn chặn hành vi cơ hội phải thiết lập hệ thống kiểm soát và động viên toàn bộ DN10 Nói cách khác, lý thuyết chi phí giao dịch tập trung vào phương thức quản lý những xung đột quyền lợi của các tác nhân, mà cụ thể là chi phí của cơ chế đảm bảo tuân thủ sao cho mức tăng của chi phí đó không lớn hơn so những thiệt hại tiềm ẩn của việc không tuân thủ Đó là những chi phí cho cơ chế kiểm soát cân bằng như
kiểm toán nội bộ và bên ngoài, công bố thông tin, thành viên HĐQT độc lập …
1.5.1.2 Vận dụng học thuyết về chi phí giao dịch
Luận án vận dụng học thuyết về chi phí giao dịch để xem xét chi phí và lợi ích của việc điều chỉnh quan hệ QTCT bằng pháp luật và thị trường Từ đó xác định nội dung xác định nội dung cần điều chỉnh pháp luật QTCTĐC, hoặc phối chọn phương thức lai ghép giữa thị trường và pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ QTCT
1.5.2 Học thuyết về các bên có quyền lợi liên quan (Stakeholder Theory): 1.5.2.1 Nội dung của học thuyết về các bên có quyền lợi liên quan:
Từ những năm 1970, ý tưởng xem xét trách nhiệm của công ty trước những người có quyền lợi liên quan đã được manh nha đưa vào các ngành quản lý Cụ thể năm 1975, Ủy ban chỉ đạo Các tiêu chuẩn Kế toán Anh trong bài thảo luận “Báo cáo công ty” đã đề xuất các công ty lớn phải cung cấp báo cáo trách nhiệm giải trình định
kỳ cho những người có quyền lợi liên quan bị ảnh hưởng bởi quyết định của công ty
Ý tưởng này được phát triển mạnh mẽ bởi Freeman (1984, 1999) và sau đó bởi Donaldson và Preston (1995), Clarkson (1995), Deegran (2004) Theo đó, những bên
có quyền và lợi ích liên quan càng được mở rộng, bao gồm: các CĐ, nhân viên, các nhà quản lý, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng (chủ nợ), cộng đồng địa phương, cũng như Nhà nước, hiệp hội và các chủ thể có liên quan đến môi trường Hay nói cách khác, đó là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào bị ảnh hưởng hoặc có khả năng bị ảnh hưởng bởi việc đạt được mục đích của công ty
Xuất phát từ sự kết hợp triết lý đạo đức, kinh tế, luật pháp, xã hội học và khoa học tổ chức, học thuyết các bên có quyền lợi liên quan xem công ty là một hệ thống các bên có quyền lợi liên quan được vận hành trong một hệ thống rộng lớn của xã hội Ở đó, mục đích của công ty là gia tăng giá trị cho các bên có quyền lợi liên quan
10 Oliver E Williamson (1985), the Economic Instituion of Capitalism - Firm, Markets, Relational Contracting,
the Free Press, New York, USA, tr xiii, 2-3, 16 - 29, 52-56, 78
Trang 36Bởi chính họ đã đóng góp vào sự tồn tại và phát triển bền vững của công ty Việc đối
xử tốt với các bên có quyền lợi liên quan là phương tiện mang lại hiệu quả tài chính cho DN, tạo ra giá trị kinh tế cho CĐ và lợi ích cho bên có quyền lợi liên quan Do vậy, hệ thống QTCT phải đảm bảo trách nhiệm giải trình của công ty với các bên có quyền lợi liên quan và cân bằng lợi ích của CĐ với các bên có quyền lợi liên quan khác Cách tiếp cận này gần với cách tiếp cận hiệu quả xã hội của DN (CSP) của Wood (1991) và ẩn chứa trách nhiệm xã hội (CSR) của Caroll (1979) vốn đang được
cổ súy hiện nay trên thế giới Nó như là sự mở rộng quan điểm của học thuyết đại
diện (Agency theory) và học thuyết về người quản lý (Stewardship theory) Bởi,
người quản lý công ty được trao quyền và chịu trách nhiệm không chỉ đối với CĐ mà còn với những người có quyền lợi liên quan khác Học thuyết này trở nên phù hợp với triết lý “kinh tế thị trường xã hội” ở các nước Châu Âu, đặc biệt là Đức và các nước Bắc Âu, cũng như tư duy phát triển kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa, dù rằng giữa chúng có sự khác biệt riêng Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản với học thuyết giá trị CĐ được cổ súy ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển như Anh - Mỹ, vốn xem người quản lý công ty là người làm công cho chủ sở hữu công ty (CĐ), đại diện cho chủ sở hữu và chỉ chịu trách nhiệm duy nhất với các CĐ; trách nhiệm xã hội duy nhất của công ty là làm tăng lợi nhuận trong phạm vi các quy tắc của trò chơi, tức là tham gia cạnh tranh tự do mà không lừa dối hoặc gian lận11
1.5.2.2 Vận dụng học thuyết các bên có quyền lợi liên quan
Như một phần của phương pháp định tính nhằm xác định mối quan hệ giữa các bên liên quan (stakeholder), luận án vận dụng học thuyết các bên có quyền lợi liên
quan trong kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật QTCTĐC gắn với việc
điều hòa lợi ích CĐ và các bên có quyền lợi liên quan trực tiếp khác; gắn việc bảo vệ lợi ích của công ty với đảm bảo trách nhiệm xã hội của công ty nhằm hướng tới sự phát triển bền vững công ty, trong đó xác định rõ phạm vi chủ thể có liên quan tham gia vào hoạt động quản trị công ty trên cơ sở xác định thứ bậc ưu tiên lợi ích của các
bên có quyền lợi liên quan phù hợp với bối cảnh riêng của Việt Nam
1.5.3 Học thuyết đại diện (Agency theory)
1.5.3.1 Nội dung của học thuyết đại diện
Trên nền tảng quan điểm về sự tách bạch giữa quyền sở hữu với quyền quản lý
11 Milton Friedman (1970), “A Friedman Doctrine: The Social Responsibility of Business is to Increase Its
Profits”, The New York Times Magazine, USA, tr.17
Trang 37công ty và khả năng về hành vi tư lợi của người quản lý công ty mà Adam Smith
phân tích trong tác phẩm “Truy vấn về nguồn gốc và bản chất sự giàu có của các
quốc gia” năm 177612, sau đó được Berle và Means (1932) phát triển trong công trình
“Công ty CP hiện đại và tài sản tư nhân”13, Jensen và Meckling (1976) xây dựng thêm thành học thuyết đại diện và được kiện toàn thêm sau đó bởi Farma và Jensen (1983) Trên cơ sở kết hợp phân tích cấu trúc hợp đồng và hệ thống các quyền sở hữu, học thuyết đại diện bổ sung cho học thuyết các quyền sở hữu và nhanh chóng trở thành luận thuyết thống trị về hình thái tổ chức quản lý CTĐC ở các nước thuộc truyền thống Common Law Theo đó, học thuyết này xem công ty như là mắc xích của một hệ thống các quan hệ hợp đồng giữa những người nắm giữ các nhân tố sản xuất và khách hàng Chúng hợp thành một hư cấu pháp lý được đặc trưng bằng sự tồn tại những trái quyền sau cùng chia nhỏ trên tài sản của công ty và thường có thể được bán đi mà không cần có sự cho phép của các bên khác trong hợp đồng Đặc trưng của cấu trúc hệ thống các hợp đồng quyết định việc phân bổ “trái quyền sau cùng” (residual claimants), cũng như phân bổ quyền ra quyết định cho các tác nhân
và chấp nhận rủi ro Nguyên lý xác định cho hoạt động quản trị của công ty dựa trên
sự kết hợp cách thức phân bổ rủi ro và quyền ra quyết định Sự tách biệt việc chấp nhận rủi ro với chức năng quản lý dẫn đến hệ thống ra quyết định tách biệt chức năng quản lý và chức năng giám sát Trái lại, kết hợp chức năng giám sát và chức năng quản lý vào tay một số ít chủ thể có thể dẫn đến việc hạn chế “trái quyền sau cùng”14 Chịu ảnh hưởng của tư tưởng học thuyết giá trị cổ đông (shareholder value
hóa lợi nhuận của CĐ mà người quản lý công ty được xem là người làm công và chịu
thực chất là quan hệ giữa chủ thể ủy quyền (Principal) - chủ sở hữu và chủ thể đại
thác cho họ thay mặt mình trong việc ra quyết định kinh doanh Cả hai bên người ủy
12 Adam Smith (1776), An Inquiry in to the Nature and Cases of the Wealth of nations, tái hiện bản gốc bởi
S.M Soares (2007), Metalibri digital library, tr.574-575 Truy cập vào ngày 30/12/2016 tại https://www.ibiblio.org/ml/libri/s/SmithA_WealthNations_p.pdf
13
Adolf A Berle & Gardiner C Means (1932), The Modern Corporation and Private Property, The
Macmillan company, New York, USA, tr.113-114
14 Eugene F Fama & Michael C Jensen (1983), “Separation of ownership and control”, Journal of Law and
Economics, 26(2): 301-325, USA, tr.302-304
15 Milton Friedman (1970), tlđd, tr 17
16 William H Meckling & Michael C Jensen (1976), “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency
Costs, and Ownership Structure”, Journal of Financial Economics, 3:305-360, USA, tr 308
Trang 38quyền và người đại diện đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Tuy nhiên, tối đa hóa lợi ích của người quản lý không có nghĩa là tối đa hóa lợi ích của CĐ Do thông tin bất cân xứng giữa người ủy quyền và người đại diện, người đại diện luôn nắm nhiều thông tin hơn so với người ủy quyền nên tạo điều kiện cho hành vi cơ hội tận dụng các điều khoản hợp đồng có lợi cho người đại diện Hành vi cơ hội này có thể xảy ra
do gian lận trước lúc ký hợp đồng (hành vi ex ante), hoặc gian lận sau khi hợp đồng (hành vi ex post) Điều này buộc người chủ sở hữu phải tốn chi phí để xây dựng một
cơ chế hạn chế hành vi cơ hội của người đại diện, bao gồm: (1) Xây dựng hệ thống khích lệ người quản lý nhằm tương đồng hóa lợi ích của người quản lý và CĐ; (2) Tăng cường cơ chế giám sát của CĐ; (3) Xây dựng cơ chế biện minh của người đại diện thông qua Điều lệ và quy chế kiểm soát nội bộ tác động tới hành vi của người quản lý Tất cả các chi phí cho việc thiết lập hệ thống trên gọi là chi phí đại diện (agency cost) Chi phí đó bao gồm chi phí giám sát (monitoring cost), chi phí thiết lập quan hệ (bonding cost), giá trị mất mát còn lại (residual loss), gọi là chi phí đại diện loại 1 Chi phí đại diện loại này càng lớn khi người quản lý sở hữu ít hoặc không
sở hữu CP công ty Trong trường hợp này, người đại diện chỉ hành động vì lợi ích của CĐ hơn khi thù lao được tính theo hiệu quả công việc và tồn tại một hệ thống thông tin minh bạch giúp kiểm tra, giám sát hoạt động của người đại diện Bên cạnh
đó, trong thực tế, xung đột lợi ít không chỉ dừng lại trong mối quan hệ giữa người quản lý và CĐ, mà còn xuất hiện giữa CĐ lớn nắm quyền kiểm soát và CĐ thiểu số hay CĐ nội bộ và CĐ bên ngoài Chi phí giải quyết mối quan hệ này gọi là chi phí đại diện loại 2 Tóm lại, “chi phí đại diện” luôn phát sinh trong quá trình QTCTĐC
Hệ thống QTCTĐC phải đảm bảo tối thiểu hóa chi phí đại diện cho CĐ để từ đó gia tăng giá trị cho CĐ
1.5.3.2 Vận dụng học thuyết đại diện
Luận án vận dụng học thuyết đại diện trong việc phân tích những chi phí mà CĐ
phải gánh chịu Từ đó hướng đến việc xây dựng mô hình quản trị nội bộ CTĐC làm sao giảm tới mức thấp nhất chi phí mà CĐ phải gánh chịu
1.5.4 Học thuyết về các quyền sở hữu
1.5.4.1 Nội dung của học thuyết về các quyền sở hữu
Học thuyết các quyền sở hữu được phát triển nổi bật bởi Ronald Coase (1959,
1960), Alchian (1965, 1969), Demsetz (1964, 1966, 1967), Alchian và Demsetz (1972, 1973), Cheung (1968, 1969, 1970), Furubotn và Pejovich (1972, 1973, 1974),
North (1981, 1990), Grossman và Hart (1986), Hart và Moore (1990) Học thuyết
Trang 39này góp phần quan trọng và trở thành tiền đề lý luận trong luật học, kinh tế học
tổ chức có cùng mối bận tâm về vấn đề làm giảm chi phí giao dịch và hành vi chiếm đoạt lợi ích của chủ sở hữu
Học thuyết này xem quyền sở hữu như là quyền kinh tế được xã hội công nhận cho cá nhân được thực hiện đối với tài sản, bao gồm một bó các quyền sử dụng tài
sản (usus), quyền hưởng lợi từ tài sản (fructus), quyền chuyển giao và định đoạt hình thức vật chất của tài sản (abusus) vốn được pháp luật quy định hoặc công nhận và cả
các quyền khác không được pháp luật quy định nhưng được thừa nhận bởi các phong tục tập quán và quy ước xã hội18
Thuyết này cho rằng, hệ thống các quyền sở hữu là yếu tố tác động lên hành vi của công ty và sự tồn tại của công ty là kết quả của cơ chế phân bổ nguồn lực bên trong hiệu quả hơn so với thị trường Dưới lăng kính của kinh tế học, thuyết này giải thích rằng, mọi trao đổi giữa các tác nhân, bất kể bản chất của quan hệ như thế nào, được quy về và xem như là sự trao đổi giữa các quyền sở hữu trên tài sản, bao gồm
cả nguồn nhân lực Việc kiểm soát tài sản vật chất sẽ gián tiếp cho phép kiểm soát
“tài sản con người” (nguồn nhân lực) Chúng thể hiện qua quyền bổ dụng nhân sự thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định lên tài sản vật chất Khi đó, quyền sở hữu vượt qua khỏi quan điểm cổ điển tỉnh tại về quyền sở hữu chỉ là quyền tác động lên vật Việc xác định rõ ràng quyền sở hữu như thế sẽ giúp thúc đẩy giao dịch liên quan đến chúng và hạn chế các chi phí giao dịch Khác với các DN nhà nước vừa qua ở một số nước xã hội chủ nghĩa, trong khu vực kinh tế tư nhân, chủ sở hữu độc quyền ra quyết định, nên giảm thiểu chi phí giao dịch liên quan đến quyền sở hữu, đồng thời có thể chủ động hạn chế sử dụng các nguồn lực bên ngoài và tăng cường sử dụng nội lực để tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực Dù vậy, quyền sở hữu cũng thực hiện chức năng định hướng các hành động, cho phép DN tận dụng triệt để các yếu tố bên ngoài nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động và phát triển Nó tác động đến hành vi kinh tế trên cơ sở phân định rõ thẩm quyền ra quyết định về các nguồn lực kinh tế, khả năng chuyển nhượng và phân chia lợi nhuận Vì vậy, học thuyết này cho rằng, chức năng đầu tiên của quyền sở hữu là cung cấp cho những chủ thể sự khuyến khích động viên nhằm tạo ra, duy trì và gia tăng giá trị tài sản Việc phát triển
17 Jongwook Kim & Joseph T Mahoney (2005), “Property Rights Theory, Transaction Costs Theory, and
Agency Theory: An Organizational Economics Approach”, Managerial and Decision Economics, 26(4):
223-242, USA, tr.224, 225
18 Armen A Alchian (1965), “Some economics of property rights”, Il Politico, 30(4): 816-829, Italy, tr.817
Trang 40chúng gắn với việc phân tích các yếu tố ngoại ứng và chi phí giao dịch Chính sự tồn tại của chi phí giao dịch khiến hệ thống các quyền sở hữu tác động đến việc phân bổ nguồn lực và tính hiệu quả của việc phân bổ ấy Chi phí giao dịch càng cao thì hoạt động của DN càng kém hiệu quả Chi phí giao dịch dương có hệ quả từ quyền sở hữu trên một tài sản được phân định một cách không hoàn hảo Bởi thuộc tính khác nhau của các loại tài sản được nắm giữ bởi các chủ thể khác nhau và thông tin về các quyền gắn với tài sản không thể xác định đầy đủ, mà quyền sở hữu cũng giống như hợp đồng, thường là không đầy đủ Do đó, kéo theo quyền kiểm soát sau cùng (residual control rights) Chủ sở hữu có xu hướng là người nắm quyền kiểm soát sau cùng, có quyền ra quyết định liên quan đến việc sử dụng tài sản không bị pháp luật loại trừ hay được chỉ định trong một khuôn khổ của những quan hệ hợp đồng
Bên cạnh đó, quyền sở hữu có thể phân tách và chuyển nhượng được, nên nhiều tác nhân khác nhau có thể có những quyền khác nhau trên cùng một tài sản Ở đó, công ty được xem như là một tập hợp các hợp đồng thiết lập nên cấu trúc nhất định những quyền sở hữu Và cấu trúc sở hữu tối ưu nhất là bên chủ sở hữu tài sản phải chuyển giao ít nhất một phần quyền sở hữu tài sản vật chất của mình vào tay những người mà có khả năng kiểm soát những thông tin có tính thiết yếu đối với hiệu quả
sử dụng tài sản đó Điều đó đồng nghĩa với việc chủ sở hữu phải nắm lại quyền kiểm soát cuối cùng trong hệ thống quyền sở hữu đối với tài sản trong công ty Cấu trúc quyền sở hữu này cho phép, một mặt tận dụng lợi thế của chuyên môn hóa, một mặt, đảm bảo hệ thống động viên và kiểm soát có hiệu quả mà không cần đến “một người giám sát kiểm tra một người giám sát” Sức mạnh động viên của những quyền sở hữu nằm ở việc ghép quyền kiểm soát sau cùng và quyền hưởng lợi sau cùng Khi đó, chủ
sở hữu vừa là người nắm quyền kiểm soát sau cùng vừa là người hưởng lợi nhuận sau cùng Sự tách bạch quyền kiểm soát sau cùng và quyền hưởng lợi sau cùng sẽ làm yếu đi các quyền sở hữu, làm cho nó mất đi tính hiệu quả Việc chuyên môn hóa trong các CTĐC chỉ là sự khai thác khả năng phân định và chuyển nhượng các quyền Tuy
nhiên, giá trị thực tiễn của quyền sở hữu của CĐ không chỉ phụ thuộc vào cơ cấu
quyền sở hữu mà còn phụ thuộc vào cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền19
1.5.4.2 Vận dụng học thuyết về các quyền sở hữu
Vận dụng học thuyết về các quyền sở hữu để trả lời cho câu hỏi nội hàm của
19 Dẫn từ: Benjamin Coriat & Olivier Weinstein (2011), Những lí thuyết mới về doanh nghiệp (Nguyễn Đôn Phước dịch), Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, tr 117-134