Quá trìnhthâm nhập lý luận khoa học đó vào đời sống thực tiễn phong tràođấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã dẫnđến sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội đã từ những
lý thuyết không tưởng trở thành một lý luận khoa học Quá trìnhthâm nhập lý luận khoa học đó vào đời sống thực tiễn phong tràođấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã dẫnđến sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực: từ mộtnước đến nhiều nước và trở thành một hệ thống các nước xã hộichủ nghĩa hùng mạnh trên phạm vi quốc tế ở thế kỷ XX với nhiềuthành tựu vĩ đại, in đậm dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sửphát triển của xã hội loài người
Thế nhưng, vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, do nhiềunguyên nhân khách quan và chủ quan đã dẫn đến sự khủng hoảng
và sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Chủnghĩa xã hội hiện thực đã tạm thời lâm vào tình trạng thoái trào.Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đã tiến hành cải cách, mở cửa,đổi mới và tiếp tục phát triển Thực tế lịch sử đó đã đặt ra một vấn
đề lớn về tương lai của chủ nghĩa xã hội Lời giải đáp chân chínhcho câu hỏi này chỉ có thể có được trên cơ sở nắm vững nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng sáng tạonhững nguyên lý đó vào việc phân tích bối cảnh cụ thể của thời đạingày nay
Tìm hiểu về chủ nghĩa xã hội hiện thực là một quá trình đòihỏi phải có một tiến trình lịch sử lâu dài Vì vậy nhóm 7 đã tiến
hành nghiên cứu và hoàn thành tiểu luận với đề tài: “Nguyên lí chủ nghĩa Mác Lênin về Chủ nghĩa Xã hội hiện thực và triển vọng”
Đây là lần đầu tiên nhóm 7 nghiên cứu đề tài này, mặc dù đã
cố gắng nghiên cứu, tìm tòi tài liệu nhưng không thể tránh khỏihạn chế, thiếu sót cũng như có những phần chưa được tốt Vì vậynhóm 7 mong có thể nhận được sự góp ý của cô cũng như các bạntrong giảng đường để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Nhóm 7 chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 03 năm 2015
Trang 2Nhóm thực hiện: Nhóm 7 Khóa 40
Đại học Kinh tế TPHCM.
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC VÀ TRIỂN
VỌNG
A QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC–LÊNIN VỀ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC
I Khái niệm
Chủ nghĩa xã hội là những nhu cầu và hoạt động thực tiễn củanhân dân lao động trong quá trình sản xuất ngày càng xã hội hóa
và trong quá trình thực thi dân chủ.(trước công nguyên)
Chủ nghĩa xã hội là phong trào đấu tranh của nhân dân laođộng chống chế độ tư hữu, đòi lại quyền dân chủ, để nhân dân laođộng được hoàn toàn giải phóng (từ các cuộc khởi nghĩa của giaicấp nô lệ và nhân dân lao động chống giai cấp chủ nô trong chế độchiếm hữu nô lệ)
Chủ nghĩa xã hội là ước mơ, lý tưởng của nhân dân lao động vềmột chế độ không có tư hữu, giai cấp, áp bức bóc lột, nghèo nànlạc hậu, chiến tranh và mọi tội ác…Nhân dân lao động được giảiphóng và có quyền dân chủ (sau khi các cuộc khởi nghĩa của nô lệđều bị thất bại)
Chủ nghĩa xã hội là những tư tưởng, lý luận, học thuyết về giảiphóng con người, giải phóng khỏi chế độ tư hữu, áp bức bóc lột,bất công nghèo nàn, lạc hậu; về xây dựng xã hội mới, trong đónhân dân làm chủ chế độ công hữu, không giai cấp không áp bứcbóc lột, bất công, không chiến tranh…(từ thế kỷ XVI sau côngnguyên đến thế kỷ XIX với sự ra đời của các tác phẩm văn chương,
lý luận, học thuyết xã hội chủ nghĩa: “chủ nghĩa xã hội khôngtưởng”; “chủ nghĩa xã hội khoa học” của Mác Lênin)
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà nhân dân lao độngxây đựng trên thực tế dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong củagiai cấp công nhân hiện đại - chủ nghĩa xã hội hiện thực ngày nay
Trang 3Chủ nghĩa xã hội hiện thực là chủ nghĩa xã hội trong thời đại
hiện nay.
II CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC
1 Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đầu tiên trên thế giới
a Cách mạng Tháng Mười Nga
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là một sự kiện lịch sửđánh dấu sự ra đời của nhà nước Xô Viết Cách mạng tháng MườiNga nổ ra vào ngày 24 tháng 10 năm 1917, do Vladimir IlyichLenin và Đảng Bolshelvik lãnh đạo Cách mạng tháng Mười thànhcông vào ngày 7 tháng 11 năm 1917( theo lịch Gregory) hay ngày
25 tháng 10 năm 1917(theo lịch Julius)
* Tình hình nước Nga trước Cách mạng Nga 1917:
Sau Cách mạng Tháng Hai, nước Nga xuất hiện tình trạng haichính quyền song song tồn tại: chính phủ lâm thời của giai cấp tưsản và Xô Viết đại biểu công nhân, binh lính Sau khi nắm đượcchính quyền, chính phủ lâm thời đã không giải quyết những vấn đề
đã hứa trước đó như vấn đề ruộng đất của nông dân, việc làm chocông nhân, tình trạng thiếu lương thực và nhất là quyết theo đuổichiến tranh đế quốc đến cùng
Trong hoàn cảnh đó, lãnh tụ của đảng Bolshevik Vladimir IlyichLenin từ Thụy Sĩ trở về Phần Lan ngày 3 tháng 4 năm 1917 vànhận được sự ủng hộ rất lớn của nhân dân Petrograd Ngày 4 tháng
4 năm 1917, Lênin đọc một bài phát biểu quan trọng có nhan đề
"Những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng hiệnnay" Bản báo cáo này đã đi vào lịch sử với tên gọi "Luận cươngtháng Tư" chỉ ra con đường chuyển từ cách mạng dân chủ tư sảnsang cách mạng xã hội chủ nghĩa Lênin chỉ rõ rằng cần chấm dứttình trạng hai chính quyền song song tồn tại bằng cách chuyểngiao chính quyền về tay các Xô Viết: "Điều độc đáo trong thời sựnước Nga chính là bước quá độ từ giai đoạn thứ nhất của cáchmạng là giai đoạn đã đem lại chính quyền cho giai cấp tư sản tiếnlên giai đoạn thứ hai của cách mạng là giai đoạn phải đem lạichính quyền cho giai cấp vô sản và cho những tầng lớp nghèotrong nông dân" Về phương pháp đấu tranh, Lênin viết: "Vũ khí ởtrong tay nhân dân, không có sự cưỡng bức nào từ bên ngoài đối
Trang 4với nhân dân, đó là thực chất của sự vật Điều đó cho phép và bảođảm sự phát triển và hòa bình của cách mạng Tuy nhiên, Lênincũng chỉ rõ phải sẵn sàng chuyển sang khởi nghĩa vũ trang một khihoàn cảnh thay đổi.
Để bày tỏ sự ủng hộ đảng Bolshevik, ngày Quốc tế Lao động
18 tháng 4 (1-5) năm 1917, công nhân Nga biểu tình đòi hoà bình,dân chủ Trong khi đó bộ trưởng ngoại giao của chính phủ lâm thờigửi công hàm cho các nước phe Hiệp ước cam kết theo đuổi chiếntranh đến cùng gây sự phẫn nộ trong dân chúng Dưới sự lãnh đạocủa Đảng Bolshevick, ngày 20 và 21 tháng 4, hàng chục vạn nhândân Nga xuống đường biểu tình hòa bình, giơ cao khẩu hiệu "Tất cảchính quyền về tay Xô Viết", "Hòa bình, ruộng đất, bánh mỳ".Những cuộc biểu tình này làm cho chính phủ tư sản lâm thời khủnghoảng Ngày 2 tháng 5 (15-5) trước áp lực của quần chúng, bộtrưởng ngoại giao và bộ trưởng chiến tranh phải từ chức Ngày 5tháng 5, chính phủ lâm thời tiến hành cải tổ và thành lập chính phủliên hiệp tăng thêm số ghế cho các đảng thỏa thiệp
Ngày18 tháng 6 (1-7), Đảng Menshevik và xã hội cách mạng
đã âm mưu tổ chức một cuộc biểu tình quân chúng để biểu dươnglực lượng nhưng Đảng Bolshevik đã tham gia cuộc biểu tình này vàbiến nó thành cuộc biểu tình ủng hộ đường lối Đảng Bolshevick vớicác khẩu hiệu: "Đả đảo chiến tranh", "Tất cả chính quyền về taycác xô viết" Ngoài mặt trận, cuộc tấn công của quân Nga theolệnh của chính phủ lâm thời vào liên quân Đức, Áo-Hung thất bạinặng nề với 60.000 binh lính Nga bị bắt và giết Tin thất bại gây sựcăm phẫn và bất bình rất lớn trong nhân dân Nga
Ngày 3 tháng 7, hơn 500.000 nhân dân Petrograd xuống đườngbiểu tình đòi chuyển giao chính quyền về tay Xô Viết nhưng chínhphủ lâm thời đã từ chối và ra lệnh cho binh lính bắn vào đoàn biểutình Sau đó, chính phủ lâm thời tiến hành đàn áp và bắt các đảngviên Bolshevik Các nhà in phá hủy và báo bị cấm xuất bản Chúng
ra lệnh truy nã Lenin để đưa ra tòa, các đơn vị cách mạng bị tướckhí giới hoặc bị đẩy ra mặt trận Từ đó, trong tháng 7, tình trạnghai chính quyền song song tồn tại kết thúc với thắng lợi thuộc vềgiai cấp tư sản
Trước tình hình đó, từ ngày 26 tháng 7 đến 3 tháng 8, ĐảngBolshevik đã họp đại hội VI để đánh giá tình hình và vạch ra sáchlược đấu tranh Đại hội chỉ rõ phải chuẩn bị chuyển sang khởi nghĩa
Trang 5vũ trang để giành chính quyền Đại hội cũng chủ trương tạm thờirút bỏ khẩu hiệu "Tất cả chính quyền về tay xô viết" còn Lenin rút
về hoạt động bí mật Về phái chính phủ lâm thời, chính phủ liênhiệp đưa Alexander Kerensky, lãnh tụ Đảng Menshevik lên làm thủtướng mặt khác âm mưu thiết lập chế độ độc tài quân sự bằngcách đưa Kornilov Affair, một tên tướng cũ của Sa hoàng, làm bạoloạn giành lấy chính quyền
Ngày 25 tháng 8, Kornilov tuyên bố thiết quân luật ở Petrograd,giải tán chính phủ Kerensky và lập chính phủ do mình cầm đầu.Trong hoàn cảnh đó, Lenin phát động quần chúng đánh tan cuộcnổi loạn đồng thời vạch mặt chính phủ Kerensky do đó sau khi cuộcnổi loạn bị dặp tắt, uy tín của Đảng Bolshevik tiếp tục dâng cao.Nhân dân dần dần thay thế các đại biểu Đảng Menshevik và xã hộicách mạng bằng các đại biểu Bolshevik trong các xô viết Ngày 31tháng 8, Xô Viết Petrograd và sau đó ngày 5 tháng 9, Xô ViếtMoskva đã thông qua các nghị quyết của Đảng Bolshevik và chuẩn
bị khởi nghĩa vũ trang giành lại chính quyền
* Diễn biến :
Sang tháng 10, làn sóng cách mạng lan tràn khắp nước Nga.Ngày 7 tháng 10, Lênin từ Phần Lan trở về nước trực tiếp lãnh đạocuộc hành động Ngày 10 tháng 10, ban chấp hành trung ương họpquyết định khởi nghĩa vũ trang Tại hội nghị này ban chấp hànhtrung ương đã bầu ra bộ chính trị do Lenin đứng đầu để lãnh đạocuộc tạo phản Tuy nhiên, một số ủy viên không tán thành kếhoạch khởi nghĩa nên ngày 18 tháng 10 họ đã đăng ý kiến củamình trên tờ báo Đời sống mới do đó chính phủ lâm thời biết được
kế hoạch tạo phản nên đã chuẩn bị đề phòng Do đó Lênin đãquyết định tạo phản sớm 1 ngày tức là ngày 24 tháng 10 làm chođối thủ bất ngờ
Ngày 24 tháng 10 (6-11), Lênin viết cho ban chấp hành Trungương Đảng: " vô luận bằng cách nào cũng không được để chínhquyền nằm trong tay Kerensky và bè lũ đến ngày 25 tháng 10 Việc
đó phải tuyệt đối quyết định ngay chiều nay hay đêm nay Lịch sử
sẽ không tha thứ những người cách mạng hôm nay có thể thắng(và nhất định sẽ chiến thắng hôm nay) mà lại để chậm trễ, vì đợiđến ngày mai không khéo họ lại gặp tổn thất nhiều, không khéo họlại bị mất hết cả"
Trang 6Chiều ngày 24 tháng 10, Lenin cải trang đến điện Smolny đểlãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tại điện Smolny trên các cửa sổ đều cóđốt lửa, phía ngoài là xe thiết giáp, trạm gác bố trí tại cửa ra vào.Binh sĩ vũ trang đi lại tấp nập Tin Lenin trực tiếp lãnh đạo cuộckhởi nghĩa nhanh chóng được báo tới khắp các trung đoàn và nhàmáy Trong khi đó, chính phủ tư sản lâm thời đưa các đội canh gácđến đóng chung quanh những cơ quan quan trọng nhất bao gồmcác học sinh sĩ quan, tiểu đoàn kị binh xung kích, tiểu đoàn línhphụ nữ và các đơn vị Cossacks tập trung tại Cung điện Mùa Đông.Sáng ngày 25 tháng 10, với danh nghĩa bộ chỉ huy tối cao,Kerensky đến bộ tổng tham mưu ra lệnh cho các trung đoànCossacks sông Đông số 1, 4, 14 đến tiếp ứng nhưng các đơn vị nàylấy lí do là kị binh của họ không có bộ binh mang súng máy yểmtrợ nên không thi hành mệnh lệnh Các đơn vị ở Petrograd cũng từchối tiếp viện Kerensky nghe tin liền báo cho chính phủ lâm thờibiết lực lượng còn rất ít sau đó viện lí do đến gặp các đơn vị đã lợidụng xe của đại sứ quán Mỹ trốn khỏi thành phố Tất cả các sĩquan cao cấp cũng bỏ về nhà riêng chỉ còn các bộ trưởng ở lạiCung điện Mùa Đông
Chiều 24 tháng 10, cuộc khởi nghĩa bắt đầu Theo kếhoạch,các đơn vị cận vệ đỏ tập trung lực lượng đánh chiếm cáckhu vực đầu mối, trụ sở các bộ, tổng đài điện thoại, nhà ga, cáccầu bắc qua sông Neva Ngay trong đêm 24 tháng 10, quân khởinghĩa đã chiếm được toàn bộ Petrograd, bao vây Cung điện MùaĐông mà hầu như không tổn thất Kế hoạch tấn công cung điệnMùa Đông được ấn định vào rạng sáng ngày 25 tháng 10 Đến 7giờ sáng, đợt tấn công thứ nhất bắt đầu Các vòng đai dần khép lạinhưng các cuộc tấn công quá chậm và phải dùng xe hơi chuyểnmệnh lệnh 3 giờ chiều, đại bác được chĩa thẳng vào cung điệnMùa Đông Các chiến sĩ Cận vệ đỏ đứng sau những chướng ngạivật hoặc làm nhiệm vụ tuần tiễu chờ lệnh phát hỏa Các đội tuầntra quan sát theo dõi mọi hoạt động của bọn phản cách mạng Đến
6 giờ chiều, cung điện bị vây chặt, binh sĩ và thủy thủ tiến sát đếncung điện và chiếm lấy tất cả những góc đường và các mái nhà ởbến tàu cạnh bộ Hải quân và cung điện Bọn sĩ quan dựng chướngngại vật chặn cổng ra vào Cung điện Mùa Đông, nã súng trường vàsúng máy vào các mục tiêu di động
Trang 76 giờ chiều, đảng Bolshevik gửi tối hậu thư cho Bộ tham mưuquân sự Petrograd buộc đầu hàng nếu không sẽ cho chiến hạmRạng Đông tấn công Một tối hậu thư khác được gửi đến cho chínhphủ lâm thời buộc phải dọn sạch chướng ngại vật và đầu hàng vôđiều kiện Theo điều kiện đã quy định, sau 20 phút không nhậnđược câu trả lời sẽ cho chiến hạm Rạng Đông tấn công 9 giờ 45phút, chiến hạm Rạng Đông nổ loạt súng lệnh báo hiệu tấn công.Hàng người bảo vệ cung điện rối loạn và lợi dụng điều đó, thủy thủ,chiến sĩ Cận vệ đỏ và binh sĩ cách mạng tràn vào cung điện Cuộcchiến diễn ra tới 2 giờ 45 phút sáng thì kết thúc Toàn bộ chính phủ
tư sản lâm thời bị bắt (trừ Kerensky)
* Kết quả:
Ngay trong đêm ngày 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10theo lịch Nga), Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khaimạc ở điện Smoniyl và tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết doLênin đứng đầu Các sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết đãđược thông qua là “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất”.Chính quyền Xô Viết còn thực hiện biện pháp thủ tiêu các tàn tíchcủa chế độ cũ như xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp, những đặc quyềncủa giáo hội, nam nữ bình đẳng Đối với các dân tộc, chính phủ XôViết công bố bản Tuyên ngôn về các quyền dân tộc ở Nga khẳngđịnh quyền bình đẳng của các dân tộc và cho phép các dân tộc cóquyền tự quyết như công nhận nền độc lập của Balan, Phần Lan.Các cơ quan trung ương và Xô Viết các địa phương được thành lập.Tháng 12 năm 1917, Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao được thànhlập nhằm xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Ngày 3 tháng 3năm 1918, nước Nga Xô Viết kí Hòa Ước Brest-Litovsk với các nướcphe liên minh trung tâm chính thức rút khỏi Thế chiến thứ nhất
Cách mạng Tháng Mười Nga đã dùng bạo lực cách mạng đánh
đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chínhquyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toànmới, một xã hội không có tình trạng người bóc lột người
* Nguyên nhân thắng lợi:
Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga
là do đường lối đấu tranh và sách lược đúng đắn cảu ĐảngBolshevik mà lãnh đạo là Lênin, biết lợi dụng sức mạnh quần chúng
Trang 8đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc Ngoài ra, cuộccách mạng cũng biết lợi dụng hoàn cảnh quốc tế thuận lợi khi cácnước đế quốc đang tham gia vào Thế chiến thứ nhất, không cóđiều kiện can thiệp vào tình hình chính trị nước Nga.
* Bài học lịch sử:
Cách mạng Tháng Mười Nga một cuộc cách mạng huyền thoại
và hiện thực, cuộc cách mạng đã đưa nhân dân đến với sự bìnhđẳng giữa các công dân trong xã hội, sự thống nhất và đoàn kếtgiữa các dân tộc
Với những người Cộng sản và các phong trào Giải phóng dântộc, Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa, do giai cấp vô sản tiến hành, thắng lợi của cuộc cách mạng
đã tạo ra nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, đưanước Nga đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngoài ra Cách mạng Tháng Mười Nga, còn cỏ vũ mạnh mẽphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế và ở cá nướcthuộc địa, mơ ra con đường giải phóng cá dân tộc bị áp bức Nó đã
mở đầu một thời đại mới trong lịch sử- thời đại quá độ đi lên chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
* Cách mạng Tháng Mười Nga đối với Việt Nam:
Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga,Nguyễn Ái Quốc rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phụcLênin Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dânNga bảo vệ thành quả cách mạng Cách mạng Tháng Mười Nga đãtác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Người, giúp Người hiểu rõ:Muốn cứu và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác conđường cách mạng vô sản Người cũng đã nói: “Trong thế giới bâygiờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi,nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳngthật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như Thực dân Phápkhoe khoang ở Việt Nam” Ở Pari, Người đã viết bài báo “Cáchmạng Tháng Mười Nga và các dân tộc thuộc địa”, khẳng định conđường của cách mạng Tháng Mười Nga chính là con đường chânchính mà cách mạng của các dân tộc phải đi
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Giống như mặt trời chói lọi,Cách mạng Tháng Mười Nga chiếu khắp năm châu, thức tỉnh hàngtriệu người bị áp bức, bóc lột, trên trái đất Trong lịch sử loài người
Trang 9chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa đếnthế”.
Đối với cách mạng nước ta, Cách mạng Tháng Mười Nga làngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta thoát khỏi gông xiềng nô lệ,tối tăm, nghèo nàn để vươn lên ấm no, hạnh phúc Từ đó, Ngườidẫn dắt dân tộc ta đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười - gắnđộc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam vớicách mạng thế giới Đó là con đường duy nhất đúng đắn, phù hợpvới ý chí nguyện vọng của nhân dân ta, phù hợp với xu thế pháttriển của thời đại
b Mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới
Mô hình đầu tiên của chủ nghĩa xã hội ra đời trong bối cảnh hếtsức đặc biệt Từ sau Cách mạng tháng 10 đến kết thúc Chiến tranhthế giới lần thứ hai, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất.Điều kiện xây dựng một chế độ mới cực kì khó khăn và phức tạp:nền kinh tế vốn lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranhthế giới thứ nhất, sau đó là nội chiến, tiếp đó là chiến tranh canthiệp của 14 nước đế quốc và bị bao vây cấm vận về nền kinh tế
Từ năm 1918 đến mùa xuân 1921, để bảo đảm cung cấp lươngthực cho nhân dân trong điều kiện lương thực cực kỳ khan hiếm,Đảng Cộng sản Nga, đứng đầu là Lênin đã đề ra Chính sách cộngsản thời chiến, tiến hành quốc hữu hoá tài sản, tư liệu sản xuấtquan trọng nhất của bọn tư sản cầm quyền, đại địa chủ và các thếlực chống phá cách mạng khác
Đến tháng 3/1921 sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội XĐảng Cộng sản Nga với việc đề ra Chính sách kinh tế mới (NEP).V.I.Lênin đã chỉ rõ trong những điều kiện mới , việc sử dụng nhữnghình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộphận rất quan trọng của chính sách này Thời kì Chính sách cộngsản thời chiến đã kết thúc, giờ đây với việc thực thi NEP, chủ nghĩa
tư bản nhà nước là một hình thức tư bản rất thích hợp để giúp nướcNga Xô Viết nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tế sauchiến tranh và ngăn chặn những nảy sinh tự phát của nền sản xuấthàng hóa nhỏ - mầm mống của sự phục hồi chủ nghĩa tư bản Sở dĩchủ nghĩa tư bản nhà nước dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ýnghĩa quan trọng và tác dụng to lớn như vậy vì như định nghĩa củaV.I.Lênin – đó là một thứ chủ nghĩa tư bản có liên quan với nhà
Trang 10nước Nhà nước đó là nhà nước của giai cấp vô sản Thông qua việc
sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp vô sản có thể học tập,
kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất, kỹthuật và tinh hoa tri thức trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanhcủa các nhà tư bản cũng như tri thuwcskho học, kỹ thuật và trình
độ khoa học quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản Nhà nước
vô sản có thể sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước như là một hệthống các chính sách, công cụ, biện pháp nhằm điều tiết mọi hoạtđộng của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kì quá độ,nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng vừa cải tạo bằng phươngpháp hòa bình đối với các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa vàsản xuất nhỏ Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn cóthể được coi là một trong những phương thức, phương tiện , conđường có hiệu quả trong việc thúc đẩy xã hội hóa và làm tăngnhanh lực lượng sản xuất của chủ nghĩa xã hội mà kết quả căn bảncủa sự xã hội hóa này thể hiện ở việc phát triển ngày càng mạnh
mẽ một nền sản xuất hàng hóa quá độ xã hội chủ nghĩa, giai đoạntrung gian của nền sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa trongtương lai
Sau khi V.I.Lênin qua đời, chính sách kinh tế mới không đượcthực hiện triệt để và thực hiện chưa được bao lâu thì từ cuối nhữngnăm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX, triệu chứng của mộtcuộc chiến tranh thế giới mới ngày càng lộ rõ Trong bối cảnh ấy,phải làm sao nhanh chóng biến nước Nga lạc hậu thành cườngquốc công nghiệp, vừa để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa
xã hội, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, vừa để chuẩn bị đối phó vớinguy cơ chiến tranh Giải quyết nhiệm vụ này trong một thời gianngắn nhất là vấn đề sống còn đặt ra đối với vận mệnh của Tổ quốc
và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga Trong điều kiện như vậy,
để giải quyết nhiệm vụ lịch sử vô cùng khó khăn nói trên, nhà nước
Xô Viết không thể không áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trungcao, một cơ chế có thể thực hiện được khi chính quyền đã thuộc vềgiai cấp công nhân và nhân dân lao động Thực tế, Liên Xô đãthành công rực rỡ trong sự nghiệp công nghiệp hóa với thời gianchưa đầy 2 năm, trong đó quá nửa thời gian là nội chiến, chốngchiến tranh can thiệp và khôi phục kinh tế sau chiến tranh Trongmột điều kiện lịch sử đặc biệt như vậy, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới
có thể cho phép phát huy cao độ tinh thần anh dũng, hy sinh của
Trang 11hàng trăm triệu quần chúng nhân dân, mới có thể thực hiện đượcnhững kì tích như vậy.
2 Sự ra đời, phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa
và những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực
a Sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng Sản ở nhiềunước châu Âu và châu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân cùngvới Hồng quân Liên Xô thành lập mặt trận chống phát xít Chính sựlớn mạnh của Đảng Cộng Sản trong thời kì chiến tranh là cơ sở đểkhi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, Đảng Cộng Sản nhiều nước tổchức đấu tranh vũ trang giành chính quyền, thành lập nhà nướcdân chủ nhân dân Trong thời gian 5 năm (từ năm 1944 đến năm1949) đã có 11 nước ở châu Âu, châu Á giành được chính quyền và
đi lên chủ nghĩa xã hội Có được thành tựu này là nhờ Đảng Cộngsản lãnh đạo bằng ba phương thức
Phương thức thứ nhất chủ yếu dựa vào lực lượng vũ trang củanhân dân nước mình, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, khi thời
cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền như:Cộng hòa Nhân dân Liên bang Nam Tư (1944), nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa (1945), Cộng hòa Nhân dân Anbani (1946) và Cộnghòa Nhân dân Trung Hoa (1949)
Phương thức thứ hai chủ yếu dựa vào Hồng quân Liên Xô giảiphóng đồng thời phối hợp vũ trang của nhân dân nước mình nhưCộng hòa Nhân dân Ba Lan (1945), Bungari (19460, Rummani(1948), Hunggari và Tiệp Khắc (1946),…
Phương thức thứ ba hoàn toàn do Hồng quân Liên Xô giảiphóng và dưới sự giúp đỡ của Liên Xô để đi lên con đường chủnghĩa xã hội như Cộng hòa Dân chủ Đức (10/1949)
Vậy là sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từmột nước mở rộng ra nhiều nước ở châu Âu và châu Á; với thắng lợicủa cách mạng dân chủ ở Cuba năm 1959 Phong trào 26 tháng 7
do Phiden Castrô lãnh đạo, nước Cộng hòa Cuba chuyển sang chủnghĩa xã hội Như vậy chủ nghĩa xã hội đã mở rộng đến châu MỹLatin Những nước này về hình thái đều lấy chủ nghĩa Mác – Lêninlàm tư tưởng chỉ đạo Về chính trị hình thành phe chủ nghĩa xã hội
do Liên Xô đứng đầu, về quân sự ở châu Âu hình thành tổ chức
Trang 12thông qua Hiệp ước Vacsava Về quan hệ kinh tế, đó là những nước
có chung một kiểu cơ sở kinh tế - xã hội, quyền sở hữu về tư liệusản xuất và thông qua các hiệp ước song phương, Hội đồng tươngtrợ kinh tế để giúp đỡ lẫn nhau xây dựng cộng đồng thị trường thếgiới xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống tồn tạisong song với hệ thống tư bản chủ nghĩa
Năm 1960, tại Mátxcơva, Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và côngnhân của các nước trên thế giới đã tuyên bố và khẳng định: “Đặcđiểm chủ yếu của thời đại chúng ta là hệ thống xã hội chủ nghĩathế giới đang trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hộiloài người”
b Các giai đoạn phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa :
Cách mạng tháng 10 Nga đã mở đầu thời đại mới - thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thếgiới, thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàchủ nghĩa xã hội, là thời đại đang diễn ra cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ nhằm chuẩn bị những tiền đề vật chất chín muồicho sự xuất hiện chủ nghĩa xã hội
Lênin khẳng định, tính phức tạp trong sự vận động của lịch sửnhân loại, song có thể chia thời đại từ Cách mạng Tháng Mười tớinay thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn I: Từ sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917 tới kết
thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1945 (Giai đoạn này làgiai đoạn chủ nghĩa xã hội mới hình thành trên phạm vi một sốnước như Liên Xô, Mông Cổ …)
Cuộc Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng đầu tiên tronglịch sử đưa nhân dân lao động từ những người nô lệ làm thuê trởthành những người làm chủ đất nước Với khí thế lao động củanhững con người được giải phóng, thông qua chính sách kinh tếmới, thông qua con đường hợp tác hoá trong nông nghiệp, côngnghiệp hoá đất nước, sau 20 năm Liên Xô đã tạo ra sự phát triểnmạnh mẽ trong nền kinh tế
Giai đoạn II : Từ sau năm 1945 tới đầu những năm 1970 (Đây
là giai đoạn chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống xã hội chủnghĩa thế giới.)
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nước xã hộichủ nghĩa ra đời, nhất là từ sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung
Trang 13Hoa xuất hiện, cùng với những thành tựu to lớn của hệ thống cácnước xã hội chủ nghĩa về kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học kỹthuật … Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã trở thành chỗ dựavững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ trên thếgiới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh của những thế lực phản động quốctế.
Mặt khác, những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của cácnước xã hội chủ nghĩa đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vìdân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trong các nước tư bản chủ nghĩa,
đã động viên nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giảiphóng dân tộc Trong những năm 60 thế kỷ XX, khoảng 100 quốcgia giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau
Bên cạnh những kết quả đó, trong giai đoạn này, trong phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bất hoà Trong
“Di chúc” chủ tịch Hồ Chí Minh , phần về phong trào cộng sản thếgiới, Người viết : “… tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu thì tôi càng đaulòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em…”
Đây là giai đoạn cơ bản nhất biểu hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội hiện thực Chủ nghĩa xã hội hiện thực trở
thành hệ thống trên phạm vi toàn thế giới và đạt nhiều thành tựurực rỡ mang lại hòa bình độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội
Giai đoạn III : Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm
1991 (Đây là giai đoạn khủng hoảng của mô hình chủ nghĩa xãhội)
Nguyên nhân: Trong giai đoạn này, ở nhiều nước xã hội chủnghĩa không chú ý tới công tác xây dựng Đảng, nhiều kẻ cơ hộichui vào hàng ngũ cộng sản Một số cá nhân mắc vào tệ sùng bái
cá nhân, kiêu ngạo cộng sản, không đánh giá đúng những thay đổitrong chính sách của chủ nghĩa tư bản Ở không ít nước xã hội chủnghĩa, bộ máy nhà nước trở nên quan liêu, vi phạm những quyềndân chủ của nhân dân Trong xây dựng kinh tế chủ quan, nóng vội,lạc hậu Trong lĩnh vực xã hội: thực hiện bao cấp tràn lan, khôngkích thích được tính tích cực cá nhân
Những sai lầm kéo dài đã hạn chế phát triển kinh tế - xã hội,dẫn tới tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nhiều nước, buộccác nước phải cải cách đổi mới
Trang 14Trong quá trình cải cách đổi mới, nhiều Đảng Cộng Sản mắcnhững sai lầm mang tính nguyên tắc Do vậy những thế lực thùđịch đã tấn công làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vàLiên Xô những năm 80 của thế kỷ XX.
Giai đoạn IV : Giai đoạn từ đầu những năm 1991 tới nay (Giai
đoạn hiện nay, chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoáitrào)
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vàLiên Xô đã làm cho nhiều nước dân tộc chủ nghĩa đã định hướnglên chủ nghĩa xã hội, nhưng giờ đây mất chỗ dựa về vật chất vàtinh thần, các lực lượng phản động giành lại chính quyền và đưađất nước theo con đường khác
Khó khăn hiện nay là: Những thế lực phản động quốc tế đangtìm mọi cách để xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và phá hoại sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩacòn lại
Để vượt qua khó khăn đó, đòi hỏi các nước xã hội chủ nghĩaphải tự đổi mới, phải khắc phục những yếu kém, nhược điểm hạnchế trong lĩnh vực đời sống xã hội Mặt khác, không ngừng nângcao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, để nâng caosức mạnh mọi mặt của đất nước
Thời đại ngày nay: “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bàihọc thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnhcủa các dân tộc, có điều kiên và khả năng tạo ra bước phát triểnmới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiếntới chủ nghĩa xã hội” (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX)
c Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Khi bắt đầu sự nghiệp cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội,các nước xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm khác nhau nhưngđiểm chung nổi bật đều từ điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội,nhiều nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệplạc hậu Ở châu Âu, tuy kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển ởtrình độ nhất định nhưng giai cấp tư sản trước đó cũng chưa tạođược một nền công nghiệp tương đối hoàn chỉnh Ở châu Á, cácnước đi lên chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên,Mông Cổ đều là những nước lạc hậu từ sản xuất nhỏ, chưa qua tưbản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội Hơn nữa các nước đi lên chủ
Trang 15nghĩa xã hội đều phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài, đấtnước bị tàn phá nặng nề Có thấy hết những khó khăn khi bắt tayvào thực hiện những nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ trong lịch sửmới thấy được những thành tựu trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội mà các nước tạo ra Không thể phủ nhận được sự thật
là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có một thời kì pháttriển rực rỡ và đạt được những thành tựu to lớn sau đây:
- Chế độ xã hội chủ nghĩa đã từng bước đưa nhân dân laođộng lên làm chủ xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đưanhân dân lao động lên làm chủ đất nước, quản lý xã hội Chính vì lẽ
đó, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định nước Nga có chuyện lạ đời,đem người nô lệ thành người tự do Đi cùng với việc xây dựng mộtchế độ xã hội tốt đẹp, chủ nghĩa xã hội còn thiết lập một quan hệquốc tế bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc Điều này, hoàn toàn
xa lạ với việc dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác như trướcđây Chủ nghĩa xã hội ra đời đã xây dựng một mối quan hệ quốc tếhoàn toàn mới, tốt đẹp, tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộcgiúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển Chế độ xã hội chủ nghĩakhông chỉ đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân laođộng ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà hơn thế nữa nó còn thúc đẩytrào lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ ở các nước tư bản chủnghĩa và trên toàn thế giới
- Bên cạnh đó, trong khoảng giữa những năm 50 và 60 củathế kỉ XX mặc dù phải trải qua chiến tranh thế giới thứ II , chịu hậuquả nặng nề nhưng các nước xã hội chủ nghĩa nhờ bản chất chế độ
xã hội tốt đẹp lại động viên được tinh thần hăng say của nhân dânlao động nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh
tế Trong vòng 20 năm đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước
xã hội chủ nghĩa đạt được mức trung bình trên 7%/năm Trongkhoảng 30 năm gần đây, Trung Quốc luôn giữ được tốc độ tăngtrưởng kinh tế xấp xỉ 9%/năm (Năm 1993 đạt 13.4%), Việt Namđược xem là nước phát triển cao thứ hai Châu Á (sau Trung Quốc)
đã gần 20 năm nay giữ tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 8%/năm Khôngnhững trên lĩnh vực kinh tế mà ở lĩnh vực văn hoá, khoa học côngnghệ các nước xã hội chủ nghĩa cũng đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn đáng tự hào Trước khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thànhcông thì hầu hết các nước này trình độ học vấn của nhân dân cònrất thấp kém, số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn (nước Nga trước
Trang 16Cách mạng Tháng Mười có đến trên 75% số người mù chữ) thế màsau một thời gian xây dựng chủ nghĩa xã hội trình độ học vấn củangười dân các nước xã hội chủ nghĩa tương đối cao và đồng đều(năm 1987 Liên Xô có 154 triệu người có trình độ học vấn từ trunghọc phổ thông trở nên) Trong lĩnh vực khoa học công nghệ Liên Xô
và một số nước xã hội chủ nghĩa cũng đạt được một số thành tựuđáng trân trọng Ở giai đoạn đầu Liên Xô luôn là nước đi đầu trongviệc nghiên cứu, chinh phục vũ trụ Năm 1957 Liên Xô phóng thànhcông Vệ tinh nhân tạo, năm 1961 có người bay vào vũ trụ trên tàuPhương Đông I Một sự kiện đáng ghi nhớ vào ngày 4/3/1961 lầnđầu tiên trên thế giới Liên Xô đã dùng tên lửa V1000 bắn trúng tênlửa ở tầng bình lưu Điều đó chứng tỏ kỹ thuật máy tính của Liên
Xô lúc đó rất khá Sự kiện này phải mất mấy chục năm sau Mỹ mớiđạt được
- Với sự lớn mạnh toàn diện, chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởngsâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết địnhđối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dan tộc và thời đại quá độ lênchủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Chế độ xã hội chủnghĩa được thiết lập đã góp phần làm phát triển mạnh mẽ phongtrào giải phóng dân tộc Năm 1919, các nước thuộc địa và nửathuộc địa chiếm 72% diện tích và 70% dân số thế giới, tới nay chỉcòn 0,7% diện tích và 5,3% dân số thế giới Tính đến nay, hàngtrăm nứoc đã giành được độc lập Trên 100 nước tham gia vàoPhong trào không liên kết
- Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đẩy lùi nguy cơ chiến tranhhủy diệt, bảo vệ hòa bình thế giới
- Chủ nghĩa xã hội đã cổ vũ nhân dân lao động ở các nướcphương Tây đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, khiến giai cấp
tư sản phải nhượng bộ
Tóm lại, từ tháng 11 năm 1917 cho đến sự kiện tháng 8 năm
1991, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã tồn tại hơn 70 năm, ở các nướcĐông Âu hơn 40 năm kể từ năm 1945 Sự ra đời của hệ thống cácnước xã hội chủ nghĩa là một bước ngoặt lớn đánh dấu sự trưởngthành của phong trào cách mạng chống áp bức bóc lột trên toànthế giới Tuy trong quá trình hình thành, phát triển hoàn thiện còngặp nhiều thách thức, khó khăn nhưng với những cố gắng củanhững người trực tiếp lãnh đạo Đảng và sự đồng lòng của các tầng
Trang 17lớp bị bóc lột, các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã từngbước khắc phục khó khăn và đạt được nhiều thành tựu trên mọimặt của đời sống xã hội Đây là một minh chứng cho sự đúng đắncủa mô hình xã hội chủ nghĩa và lý luận Mác-Lê nin, không ai cóthể phủ nhận những thành quả mà xã hội chủ nghĩa mang lại
III SỰ KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ CỦA MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI XÔVIẾT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ
Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng Từtháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động” chính trịlớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ xã hội chủ nghĩa lại bị thất bại ở Liên
Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa
ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bênngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu…
1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội XôViết
Ra đời và tồn tại trong điều kiện bao vây của chủ nghĩa đếquốc, để tồn tại và phát triển, V.I.Lênin đã từng thể nghiệm haiphương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội: Cộng sản thời chiến vàchính sách kinh tế mới Sau khi V.I.Lênin mất, Stalin đã thực hiệncông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình:
- Công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp với tốc độ tậptrung cao trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
- Nhanh chóng xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, thiết lập chế độcông hữu về tư liệu sản xuất, dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể Xóa bỏ thị trường tự do, thiết lập nền kinh tế hiệnvật
- Nhà nước trực tiếp điều hành nền kinh tế theo kế hoạch tậptrung thống nhất, Đảng giữ vai trò lãnh đạo nhưng thực chất Đảngtrực tiếp điều hành nhà nước
Với mô hình tổ chức kinh tế xã hội như vậy, chủ nghĩa xã hội
đã biến tất cả mọi thành viên trong xã hội trở thành người làm
Trang 18công ăn lương cùng với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, làm hạnchế khả năng, sức sáng tạo của người lao động.
Song sự ra đời, tồn tại của chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết khôngphải là sản phẩm thuần túy mà bắt nguồn từ hoàn cảnh và nhu cầulịch sử cụ thể Khi chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ những mặt xấu xacủa nó thì chủ nghĩa xã hội ra đời như là nhân tố chống lại nhữngmặt xấu đó và nó được tổ chức mang những đặc trưng đối lập vớichủ nghĩa tư bản Chính vì thế nó đã phát huy được sức mạnh giúpcho Liên Xô trước đây và Việt Nam sau này tập trung được sứcmạnh trong cuộc chiến tranh giải phóng
Tuy nhiên, mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết được xây dựngtrên cơ sở chưa đủ chín muồi về cơ sở vật chất, nên trong thực tế
đã vi phạm quy luật kinh tế khách quan: quan hệ sản xuất phảiphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong điềukiện lực lượng sản xuất chưa phát triển và còn ở nhiều trình độkhác nhau, nhưng đã vội xác lập quan hệ sản xuất công hữu vàphương thức phân phối mang tính bình quân, bao cấp, từ đó hạnchế tính sáng tạo của người lao động Những mâu thuẫn trong việc
tổ chức xã hội theo mô hình Xôviết trong những điều kiện lịch sửnhất định lại bị che khuất bởi phục vụ cho những mục tiêu chính trịcao hơn Khi mục tiêu chính trị đã được giải quyết thì những mâuthuẫn đó bắt đầu bộc lộ, nhưng do chưa kịp thời tổng kết nhữngbài học thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội để bổ sung, phát triển,làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào tình trạng khó khăn,khủng hoảng vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX Lúc đầu cáccuộc khủng hoảng diễn ra trong kinh tế, sản xuất đình đốn, ngườilao động chán nản, từ đó dẫn đến xáo trộn về chính trị, xã hội
- Bắt đầu ở Ba Lan, công nhân đình công năm 1987, thành lậpcông đoàn đoàn kết, trở thành đảng đối lập ở Ba Lan
- 9/11/1989: Đông Đức tuyên bố giải tỏa bức tường Béclin, giải tỏa biên giới giữa Đông và Tây Đức
- 2/12/2989: Cuộc gặp không chính thức giữa Xô – Mỹ, tuyên
Trang 19- 15/1/1990: Đảng công nhân thống nhất Ba Lan chấm dứthoạt động.
- 5/2/1990: Liên Xô chấp nhận đa đảng
- 27/2/1990: Liên Xô thực hiện theo chế độ tổng thống theothể chế chính trị phương Tây
Sau chính biến ngày 19/8/1991, Goócbachốp từ chức, tuyên
bố giải thể Đảng Cộng Sản Liên Xô chính thức tan rã
Trong những năm 1989 – 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bịsụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lênvới những nét chung nổi bật:
• Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội
• Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng
• Xây dựng Nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế
• Các chính đảng vô sản đều đổi tên đảng và chia rẽ thành
• Tên nước, Quốc kì, Quốc huy và ngày Quốc khánh thay đổi,theo hướng chung gọi là các nước cộng hòa
2 Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của
mô hình chủ nghĩa xã hội XôViết
a Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự khủng hoảng
và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội XôViết
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
là do nhiều nguyên nhân
Nguyên nhân sâu xa nằm trong mô hình xây dựng chủ nghĩa
xã hội theo kiểu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp thay cho cơchế thị trường, kế hoạch hóa cao độ Mô hình đó đã có những phùhợp nhất định trong thời kì đặc biệt trước đây, nhưng không cònphù hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa, không sáng tạo và khôngnăng động, ngày càng bộc lộ sự thiếu tôn trọng các quy luật pháttriển khách quan về kinh tế - xã hội, chủ quan, duy ý chí, làm nảysinh tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, viphạm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Xét về mặt kinh tế, khiếm khuyết và hạn chế của mô hình cũ
là đã không chú trọng đầy đủ tới đặc điểm kinh tế hàng hóa và quyluật giá trị, tới cơ cấu đa dạng của sản phẩm hàng hóa có chất
Trang 20lượng và giá trị cao để cạnh tranh Do quan điểm giản đơn về tínhthuần nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa nên các hình thức sở hữungoài quốc doanh và tập thể không được chú trọng, tiềm năng vànăng lực kinh tế cá thể, tư nhân không được khai thác Chủ nghĩa
tư bản nhà nước như một hình thức phát triển kinh tế của thời kìquá độ lên chủ nghĩa xã hội được Lênin nêu ra trong Chính sáchkinh tế mới (NEP) đã không được vận dụng Kinh tế hiện vật vàkinh tế chỉ huy đã chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫnđến sự cứng nhắc trong quản lí, trong cơ chế và chính sách Năngsuất, chất lượng, hiệu quả tuy vẫn được thường xuyên nhắc tớinhưng lại không dựa trên cơ sở lợi ích trực tiếp của người lao độngnên không khuyến khích được sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạocủa người lao động Tài sản, nguyên vật liệu và các nguồn lực, kể
cả con người bị lãng phí rất lớn Kĩ thuật công nghệ chậm đổi mới,
bị lạc hậu
Xét về mặt chính trị, hạn chế của mô hình này biểu hiện ở chỗ
hệ thống tổ chức và bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, dễ dẫn tớitình trạng quan liêu hóa, xa rời thực tiễn, xa dân, kém hiệu quả,không phân biệt rõ ràng, chức năng, nhiệm vụ và phương thứchoạt động giữa Đảng và Nhà nước cũng như các tổ chức khác trong
hệ thống tổ chức chính trị, dẫn tới sự chồng chéo dẫm chân lênnhau Nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm Quyền làm chủcủa người lao động, sự tham gia của quần chúng vào hoạt độngquản lí Nhà nước và đời sống chính trị - xã hội nói chung còn bị hạnchế và ít tác dụng do tính chất dân chủ hình thức, quan liêu, thamnhũng gây nên
Xét về mặt văn hóa – xã hội và đời sống tinh thần, nhữngkhiếm khuyết của mô hình cũ biểu hiện ở sự vi phạm quyền tự dodân chủ của công dân, sự thiếu nghiêm minh trong việc thực thipháp luật, thiếu dân chủ và công bằng xã hội Tính hình thức vàbệnh giáo điều đã làm cho công tác giáo dục hệ tư tưởng và ý thức
xã hội xa rời thực tế cuộc sống Lí luận tách rời thực tiễn
Các lĩnh vực văn hóa tinh thần rơi vào sự đơn điệu, nghèonàn Sự giao lưu văn hóa quốc tế không được khuyến khích
Những thiếu sót, khuyết tật lâu ngày chậm được khắc phục,sửa chữa càng làm cho các nước xã hội chủ nghĩa xa rời những tiến
bộ, văn minh của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão củacách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, đưa tới tình trạng trượt dài
Trang 21từ trì trệ đến khủng hoảng nặng nề về kinh tế - xã hội Sự thực,không phải các nhà lãnh đạo nhiều nước chủ nghĩa xã hội trướcđây không nhận thấy những trì trệ đó, nhưng mọi cố gắng cải cáchđều không thu được kết quả trong khuôn khổ cơ chế mô hình cũ.
b Nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Xôviết
Sau này khi tiến hành cải tổ, cải cách, những người lãnh đạo ởLiên Xô và Đông Âu lại liên tiếp phạm thêm nhiều sai lầm nghiêmtrọng về bước đi, nội dung, phương pháp, trong đó điều chủ yếu làbuông lỏng chuyên chính vô sản, hạ thấp vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, hiện thực dân chủhóa, công khai hóa cao độ, mơ hồ về chính trị, giai cấp; bị các thế
lực phản động, đế quốc lợi dụng tiến công chủ nghĩa xã hội “Cải tổ
là tất yếu, khách quan xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa xã hội,
là nhu cầu chin muồi của các nhân tố chủ quan, khách quan Vấn
đề là phải cải tổ như thế nào Cuộc cải tổ của Goócbachốp được các nước phương Tây ngàn lần cổ vũ, hậu thuẫn… Cải tổ kiểu như thế mà chế độ xã hội chủ nghĩa không sụp đổ mới là điều đáng ngạc nhiên” (Nguyễn Đức Bình – Đôi điều suy nghĩ về vận mệnh
chủ nghĩa xã hội Tạp chí Cộng sản, số 13, 7/2003, tr.10)
Như vậy, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô và các nướcĐông Âu đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tưtưởng và tổ chức Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thểhiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất Những tuyên bốban đầu: “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hộihơn”, “chúng ta sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi
ra ngoài nó”, “chúng ta tìm trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hộichứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trả lời cho cácvấn đề do cuộc sống đặt ra” , rốt cuộc chỉ là những tuyên bốsuông ngụy trang cho ý đồ phản bội
Có thể thấy sai lầm của cải tổ biểu hiện chủ yếu ở những
điểm sau:
Thứ nhất, sự dao động về tư tưởng, lập trường chính trị
dẫn tới mất phương hướng chính trị và từ bỏ nguyên tắc ở những thời điểm bước ngoặt, chấp nhận đa nguyên hệ tư tưởng và đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận tập trung dân chủ là
Trang 22nguyên tắc cốt tử của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, làm cho Đảng không còn là một tổ chức chính trị cầm quyền
mà trở thành một câu lạc bộ bàn suông Nhà nước không còn
quyền lực điều hành và không kiểm soát nổi tình hình đất nước Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chíngày càng công khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Thứ hai, không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải
cách kinh tế và cải cách chính trị Khi cải cách kinh tế tiến triển thì không kịp thời tiến hành cải cách chính trị Đến khi cải cách kinh tếgặp khó khăn thì lại chuyển trọng tâm sang cải cách chính trị
Thứ ba, phiêu lưu mạo hiểm trong chính sách, bước đi và
biện pháp cải tổ Đó là tăng tốc kinh tế - kĩ thuật thời kì đầu, cấmbia rượu… là những tính toán chủ quan duy ý chí gây rối loạn kinh
tế, mất ổn định xã hội Cải tổ chính trị không dựa trên thực trạngkinh tế, tiến hành “dân chủ công khai” một cách mơ hồ, mở đườngcho các thế lực phản động tấn công vào Đảng, vào chủ nghĩa xãhội, thao túng xã hội, kích động, mị dân, lừa bịp quần chúng
Bằng phát súng lệnh “công khai”, “dân chủ”, “không vùngcấm”, cải tổ đã nhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích,bôi đen tất cả những gì gắn với lịch sử hơn 70 năm xây dựng chủnghĩa xã hội, phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa xãhội Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xãhội, phá vỡ niềm tin của quần chúng đối với những giá trị của chủnghĩa xã hội Người ta sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đạichúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đào bới, phủđịnh quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ vàlái theo những ý đồ, mục đích của phương Tây
Thứ tư, không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình
hình ngày một xấu đi nghiêm trọng về đời sống vật chất, tinh thầntối thiểu của quần chúng, gây nên sự thờ ơ về chính trị, thậm chíchống lại công cuộc cải tổ Mất cơ sở xã hội và bị phân liệt về tổchức nên Đảng đã mất sức chiến đấu và mất vai trò lãnh đạo
Thứ năm, các quan điểm mơ hồ, hữu khuynh, xét lại
xung quanh vấn đế “tư duy chính trị mới”, phủ nhận đấu tranh giaicấp và cách mạng, tuyệt đối hóa lợi ích toàn cầu nhân loại, từ bỏ
Trang 23chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo mảnh đất thuận lợi cho âm mưu
“diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừatrắng trợn, thực hiện được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên
Xô và các nước Đông Âu Các chiến lược gia phương Tây sớm nhận
ra “gót chân Asin” của cải tổ: đó là đường lối xét lại, là hệ tư tưởng
tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mĩ
và phương Tây thể hiện tập trung ở “tư duy chính trị mới” Hứa hẹnviện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộccải tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn Chủ nghĩa đếquốc đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên
Xô và Đông Âu
Thứ sáu, để xảy ra xung đột, nội chiến dân tộc, sắc tộc
ngày càng gay gắt, dẫn tới tan rã của Nhà nước Liên bang Xôviết
Ngoài ra, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông
Âu còn do những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch vớichủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước, đặc biệt là âm mưu “diễnbiến hòa bình”, “cách mạng nhung”, “chiến thắng không cần chiếntranh” của chủ nghĩa đế quốc Chiến lược diễn biến hòa bình đãđược các nước đế quốc công phu thiết kế dàn dựng lâu dài từ sauChiến tranh thế giới thứ hai Chống phá chủ nghĩa xã hội là mộtchiến lược phản cách mạng bao gồm các phương tiện và thủ đoạntinh vi từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội Chúng thường cấukết với các thế lực phản động chống phá từ bên trong, tập trungvào các đối tượng nhạy cảm như thanh niên, học sinh, sinh viên, tríthức, văn nghệ sĩ để lung lạc thế giới quan, hệ tư tưởng, kích độngtâm lí bất mãn, chống đối, gây thù hằn dân tộc, tôn giáo, lợi dụngchiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” với nội dung trừutượng, phi lịch sử mà thực chất là lồng vào đó quan điểm tư sản,chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội Chúng còn ra sức khai thácnhững yếu điểm, sai lầm trong các nước xã hội chủ nghĩa, thổibùng tâm lí bất mãn, chống đối, làm suy yếu mối liên hệ xã hội củaquần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước, tiến hành tuyêntruyền, lừa mị dân, kết hợp với thâm nhập kinh tế, văn hóa để đẩynhanh sự chệch hướng
Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh”, Tổngthống Mĩ Níchxơn cho rằng “mặt trận tư tưởng là mặt trận quyếtđịnh nhất” Ông ta viết: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp
Trang 24định mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng tathất bại trên mặt trận tư tưởng” Chiến lược của Mĩ trước sau nhưmột là đưa bất ổn vào bên trong “bức màn sắt”.
Nguyên nhân cuối cùng là do yếu kém về năng lực, sự thoáihóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm giảm sútniềm tin của nhân dân vào đảng, vào chế độ Chủ nghĩa cơ hội hữukhuynh, xét lại, phản bội lí tưởng của chủ nghĩa xã hội ở một số
nhà lãnh đạo cải tổ là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự tan rã
của chủ nghĩa xã hội
Có thể nói, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sựphản bội từ bên trong và từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao
nhất là nguyên nhân trực tiếp làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và Đông Âu sụp đổ
Ngoài những nguyên nhân có ý nghĩa phổ biến, khái quát choLiên Xô và các nước Đông Âu nói trên, ở mỗi nước cũng còn cónhững nguyên nhân riêng biệt, đặc thù dân tộc Đối với các nướcĐông Âu, đó là:
Thứ nhất, mô phỏng hoàn toàn theo mô hình Liên Xô xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà không xuất phát từ điều kiện, đặc điểmlịch sử, dân tộc dẫn tới sự lệ thuộc toàn diện vào Liên Xô, làm nảysinh nhiều điều không phù hợp với điều kiện lịch sử và tình hìnhthực tế của các nước Đông Âu Việc xây dựng nên một cơ chế quanliêu, bao cấp về kinh tế, một nền chính trị chưa dân chủ, chưa côngbằng và vi phạm những pháp chế xã hội chủ nghĩa, không tuân thủnhững quy luật khách quan về kinh tế - xã hội đã khiến cho nhândân các nước Đông Âu không hài lòng, không ủng hộ chế độ mới xãhội chủ nghĩa (đã diễn ra nhiều lần khủng hoảng xã hội ở nhiềunước)
Thứ hai, chậm sửa chữa, thay đổi trước những biến động lớn
của tình hình thế giới (như ở Đức và Rumani, cho đến tận trướcngày sụp đổ, những người lãnh đạo vẫn tuyên bố rằng họ không cósai lầm cho nên không cần phải sửa chữa, cải cách gì cả; hoặc như
ở Anbani, cho đến lúc sụp đổ, vẫn giữ nguyên những cơ chế cũ vềkinh tế - xã hội của 30 năm trước đó) Một số nước khác tuy tiếnhành sửa chữa, thay đổi nhưng lại rời bỏ nguyên lí đúng đắn củachủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 25Thứ ba, hầu hết các nước này đã trải qua nhiều năm dưới chế
độ tư bản chủ nghĩa, truyền thống dân chủ tư sản in đậm trong tưtưởng tập quán của nhân dân Việc tiến hành hợp nhất các đảngcông nhân sau chiến tranh diễn ra một cách vội vàng, thiếunguyên tắc đã chứa đựng nguy cơ chia rẽ sâu sắc
Thứ tư, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội cả ở trong và
ngoài nước rất mạnh gồm công chức, sĩ quan, tư sản địa chủ, binhlính của chế độ cũ, nhà thờ Thiên Chúa giáo, Đảng Xã hội dânchủ… cùng cấu kết với nhau, có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nướcngoài, nằm chờ, khi có thời cơ sẽ nổi dậy nhằm chống phá lại chế
độ xã hội chủ nghĩa
Thứ năm, trong cơn nguy kịch của chế độ xã hội chủ nghĩa ở
các nước Đông Âu, chính sách “không can thiệp” của chính phủLiên Xô, đứng đầu là Goócbachốp đã tạo điều kiện thuận lợi thêm
để cho các thế lực phản động cách mạng tự do hành động, chốngphá chủ nghĩa xã hội ở đây
Sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âutrong những năm 1989 – 1991 đã gây ra những hậu quả hết sứcnặng nề Đó là một tổn thất chưa từng có trong lịch sử phong tràocộng sản, công nhân quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên thế giới,dẫn đến hệ thống thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa khôngcòn tồn tại nữa Từ đây, trật tự thế giới hai cực cũng đã kết thúc.Thế giới bước vào một thời kì mới với các xu thế mới đang vậnđộng
Tuy nhiên, đây chỉ là sự tan rã của một mô hình chủ nghĩa xãhội chưa khoa học chứ không phải là sự tan rã của chủ nghĩa xã hộinhư một hình thái kinh tế - xã hội mới mà Mác và Ăngghen đã nêutrong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản Hơn nữa, như Lênin đã viết:
“Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờ người
ta thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới nào lạiđứng vững ngay được mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại,nhiều sai lầm và tái phạm không?”
Từ những cơ sở ấy, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong
đó có Việt Nam đã rủt ra được nhiều bài học kinh nghiệm xươngmáu, đưa công cuộc cải cách - đổi mới đi tới thắng lợi, nhằm xâydựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn vì
Trang 26giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh vàtruyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc.
B TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
I BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN:
Là một chế độ áp bức, bócc lột và đày rẫy những bất công: CNTB gây nên những bất ổn trên thế giới Trong quá trình
toàn cầu hoá CNTB gây nên khoảng cách giàu và nghèo giữa cácdân tộc trên thế giới, giữa các giai tầng xã hội của cùng dân tộcngày càng gay gắt gây ra một chế độ áp bức kinh tế (chủ nghĩa đếquốc kinh tế) còn nặng nề hơn chế độ thuộc địa thực dân ngàyxưa, gây bất ổn trên thế giới
Xã hội công dân của xã hội tư bản không thể giải quyết các mâu thuẫn đối kháng: Tính chất xã hội ngày càng cao của
lực lượng sản suất với chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa về tưliệu sản suất diễn ra ngày càng sâu sắc, mâu thuẩn giữa 2 giai cấp
cơ bản: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản (các nhà nước tư bảnchủ nghĩa không làm tốt công tác điều tiết xã hội mà nó luôn có xuhướng bảo vệ giai cấp tư sản, bóc lột các tầng lớp lao động làmcho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc hơn),bản thân của chủnghĩa tư bản không thể khắc phục nổi tình trạng khủng hoảngkinh tế, ngoài khủng hoảng mang tính chu kỳ ra còn có khủnghoảng cơ cấu, khủng hoảng thể chế, khủng hoảng tài chính tiềntệ Các loại khủng hoảng và những khó khăn của chủ nghĩa tưbản đã dẫn tới hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh như tình trạng thấtnghiệp, nghèo khó và chênh lệch giàu nghèo xã hội, mâu thuẫndân tộc tăng lên, trật tự xã hội hỗn loạn, hoạt động tội phạm giatăng v.v Chủ nghĩa tư bản ngày nay dù đã có những điều chỉnhnhưng vẫn là “một thế giới không thể chấp nhận” như RenêDuynông khẳng định trong cuốn sách của mình
Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi Chủ nghĩa tưbản có vai trò to lớn đối với vai trò to lớn đối với lịch sử phát triểncủa nhân loại Trong mấy thập kỉ qua do biết tự điều chỉnh và thích
Trang 27ứng đồng thời sử dụng triệt để những thành tựu của cách mạngkhoa học và công nghệ, các nước tư bản chủ nghĩa đã vượt quamột số cuộc khủng hoảng và vẫn còn khả năng phát triển Nhưng
đó không đó là chế độ tương lai của xã hội bởi bản chất bóc lột,phản dân chủ, vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản không thay đổi.Chính phương thức sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tưbản chủ nghĩa gây ra những ung nhọt không thể chữa khỏi
Trong cuốn sách “Ngoài vòng kiểm soát” xuất bản năm 1993,Bredinsky đã cay đắng thừa nhận hai mươi khuyết tật của xã hội
Mỹ vào thời điểm đó và dự báo Mỹ sẽ mất vai trò siêu cường vàothế kỉ XXI Trong hai mươi khuyết tật ấy có những khuyết tật đã trởthành phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa như: chăm sóc y tếkhông đầy đủ, giáo dục trung học chất lượng kém, vấn đề phânbiệt chủng tộc nghèo đói ngày càng sâu sắc, tội ác bạo lực trànlan, cảm giác trống rỗng về tinh thần… làm cho xã hội lâm vàokhủng hoảng và vô phương cứu chữa
Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, dù là chủ nghĩa tư bảnhiện đại, trên thế giới ngày nay vẫn có đến 1.2 tỉ người phải chịunghèo đói và bệnh tật, mù chữ, chiến tranh, hưởng mức thu nhậpdưới 1 USD/ngày, 2.5 tỉ người nghèo đói có tổng thu nhập chỉ bằngthu nhập của 250 tỉ phú, triệu phú lớn nhất thế giới gộp lại; 1/3 lựclượng lao động trên toàn thế giới tức là khoảng 1 tỉ người bị thấtnghiệp ở các mức khác nhau, tại hơn 100 nước đang hoặc kémphát triển mức thu nhập bình quân đầu người giảm đi so với thậpniên trước, hằng ngày có đến 30000 trẻ em chết bệnh mà lẽ ra cóthể được cứu sống và số người lớn mù chữ có thể lên tới 800 triệungười
Sự kiện giới cầm quyền Mỹ và giới cầm quyền Anh tấn côngIrac năm 2003 càng khẳng định bản chất hiếu chiến của chúng.Chủ nghĩa tư bản với mâu thuẩn bên trong không thể khắcphục, xã hội tư bản không thể thay đổi bản chất của mình chỉ bằnglối xưng danh mới: “phi hệ tư tưởng hóa”, “xã hội hậu côngnghiệp”, “ xã hội tin hóa” , “ xã hội kinh tế tri thức hóa”…
II CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – TƯƠNG LAI CỦA LOÀI NGƯỜI
1 Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh
tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Chủ nghĩa tư bản
Trang 28ngày nay đã tạo ra nền sản xuất lớn với khoa học công nghệ ngàycàng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá sản xuất đang “nẩy mầm”những nhân tố của chủ nghĩa xã hội Trong xã hội tư bản hiện đại,
về mặt sở hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác, công ty
cổ phần, nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn laođộng tham gia quản lý xí nghiệp ở mức độ khác nhau, tất cả nhữngcái đó nếu không nói đó là những nhân tố của chủ nghĩa xã hội ởmức độ nhất định, thì đó cũng là sự chuẩn bị điều kiện vật chất chochủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ còn tiếp tục pháttriển thông qua những cuộc khủng hoảng, những cuộc cải cách đểthích ứng, và quá trình phát triển đó cũng chính là quá trình quá độsang một xã hội mới Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản đãxuất hiện những yếu tố của xã hội mới, những yếu tố của nền vănminh hậu công nghiệp, kinh tế tri thức nãy sinh và phát triển, tínhchất xã hội của sở hữu ngày càng gia tăng; sự điều tiết của nhànước đối với thi trường ngày càng hữu hiệu; tính nhân dân và xãhội của nhà nước tăng lên; những vấn đề phúc lợi xã hội và môitrường… ngày càng được giải quyết tốt hơn Với những đặc điểmtrên đây cũng có thể xem đó là những xã hội quá độ vì nó chứađựng trong đó các yếu tố của chủ nghĩa tư bản và xã hội tương lai.Sau Cách mạng Tháng Mười nhất là từ sau chiến tranh thế giớithứ hai, với sự tồn tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau đãtác động đến sự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc
Ở các nước vốn trước đây là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốcsau khi giành độc lập đã, đang lựa chọn con đường phát triển củadân tộc mình Con đường tư bản tư nghĩa trong những điều kiệnnhất định đã đem lại những thành công cho một số nước còn phầnlớn cách nước khác không thoát khỏi đói nghèo, nợ nần chồngchất
Ngay ở các nước tư bản phát triển cũng nảy sinh xu hướngphát triển “phi tư bản”, “hậu tư bản”, xu hướng xã hội dân chủ v.vđiều này chứng tỏ chủ nghĩa tư bản không phải là “xã hội tốt đẹpcuối cùng”, không phải là tương lai của loài người mà nó sẽ phải bịthay thế
Hơn 80 mươi năm đã trôi qua kể từ khi Lênin từ trần, chủ nghĩa
xã hội khoa học, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân thếgiới đã trải qua nhiều thử thách to lớn, đã có được nhiều thắng lợi
vĩ đại và cũng đã có những tổn thất to lớn
Trang 29Có thể nêu một cách vắn tắt nhưng đầy đủ những nội dung
cơ bản phản ánh sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong khoảng 80 năm qua như sau
Mọi thắng lợi cơ bản, quan trọng của nhân dân lao động, củacách mạng thế giới trong thế kỷ XX đều có phần đóng góp trựctiếp, cơ bản và rất quan trọng của chủ nghĩa xã hội, của sự vậndụng thành công những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hộikhoa học vào thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
ở mỗi nước cũng như của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới.Trong đó thắng lợi vĩ đại nhất là đã đưa nhân dân thế giới thoátkhỏi họa Phátxít, là tiền đề quan trọng nhất dẫn đến sự tan rã củachủ nghĩa thực dân cũ và mới, là sự hình thành và phát triển của
hệ thống xã hội chủ nghĩa Điều này đã đẩy nhanh tiến trình vậnđộng của quy luật lịch sử nhân loại về phía trước Cùng với nhữngthành tựu trong đấu tranh, cách mạng, trong hoà bình xây dựng,các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng vào đấu tranh
vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới
Các đảng cộng sản và công nhân quốc tế đã tổng kết nêu ra vàtiếp tục phát triển bổ sung nhiều nội dung quan trọng cho chủnghĩa xã hội khoa học, cả về lý luận lẫn các vấn đề về phươnghướng, giải pháp tác động, chủ trương chính sách xây dựng chế độ
xã hội mới ở mỗi nước, góp phần quan trọng vào quá trình vậndụng sáng tạo, phát triển bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa xã hộikhoa học Điều này có thể minh chứng qua các hội nghị quốc tếcác đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các diễn đàn và hội nghịkhoa học, lý luận chính trị, các cuộc viếng thăm trao đổi songphương và đa phương, nhất là các kỳ đại hội của các đảng cộngsản và công nhân quốc tế ở các nước trong hệ thống xã hội chủnghĩa trước đây, các nước đang tiến hành lựa chọn con đường pháttriển xã hội chủ nghĩa hiện nay
Sự thắng lợi, phát triển rực rỡ và sau đó là sụp đổ của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô có thể được coi là minhchứng cho sự thành công và thất bại của vận dụng, áp dụng cácnguyên lý, quy luật của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn.Chừng nào và ở đâu, đảng cộng sản nhận thức đúng, sáng tạohoàn cảnh lịch sử cụ thể mà trong đó cách mạng đang vận động,
để đề ra các chủ trương chiến lược và sách lược đúng đắn vì mụctiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chừng đó và ở đó, cách