PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN HÓC MÔN Báo cáo chuyên đề MỤC LỤC Trang 4Phần thứ nhất MỞ ĐẦU 41 Lý do chọn đề tài 42 Mục đích nghiên cứu 53 Đối tượng nghiên cứu 54 Phạm vi nghiên cứu 55 Nhiệm vụ nghi.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
Phần thứ hai: NỘI DUNG 6
Chương 1: Cơ sở lí luận 6
Chương 2: Thực tiễn việc củng cố kiến thức cho học sinh trong dạy học Lịch sử hiện nay 6
Chương 3: Giải quyết vấn đề 8
3.1 Củng cố kiến thức bằng dạng bài tập trắc nghiệm 8
3.1.1 Trắc nghiệm chọn đáp án đúng nhất 8
3.1.2 Trắc nghiệm đúng – sai 8
3.1.3 Trắc nghiệm nối cột (ghép đôi) 9
3.1.4 Trắc nghiệm điền khuyết 11
3.2 Củng cố bằng bài tập điền thời gian và sự kiện tương ứng 12
3.3 Củng cố bằng bài tập lập bảng niên biểu (bảng thống kê), lập đường thời gian 13
3.4 Củng cố bằng bài tập lập bảng so sánh 15
3.5 Củng cố bằng bài tập điền vào sơ đồ, lược đồ trống 17
3.6 Củng cố bằng bài tập trò chơi ô chữ 20
3.7 Củng cố bài học bằng câu hỏi tự luận 21
3.8 Củng cố kiến thức bằng dạng bài tập sử dụng âm nhạc 21
Trang 23.9 Củng cố bằng bài tập sử dụng phim tư liệu 22 Phần thứ ba: KẾT LUẬN 23
Trang 3Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Mỗi môn học trong chương trình THCS đều có ý nghĩa giáo dục riêng nhằmmục đích đào tạo ra những thế hệ trẻ có đủ cả năng lực về trí tuệ và phẩm chất đạođức tốt đẹp để trở thành công dân có ích cho đất nước
Cũng như những môn học khác, môn Lịch sử cũng có vị trí quan trọng và ýnghĩa giáo dục lớn, đặc biệt là giáo dục nhân cách cho học sinh Tuy nhiên, doquan niệm Lịch sử là môn phụ, không quan trọng nên dẫn đến tình trạng dạy vàhọc Lịch sử hời hợt, qua loa làm hạn chế hiệu quả giáo dục của môn Lịch sử
Thực tế, hiện nay môn Lịch sử đang được xã hội và ngành giáo dục nhìnnhận đúng tầm quan trọng hơn, được đánh giá là một “bộ phận” không thể thiếutrong quá trình giáo dục nhân cách con người Qua mỗi bài học lịch sử, học sinh sẽrút ra được bài học từ quá khứ để phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tương lai,đồng thời biết tôn trọng và có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử
Bên cạnh đó, môn Lịch sử còn có tác dụng phát triển năng lực học sinh Nếuquá trình dạy – học Lịch sử được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả, sẽ phát huyđược khả năng tư duy sáng tạo của học sinh
Nhưng để đạt được những điều trên, thì trước hết học sinh phải hiểu, khắcsâu được những kiến thức lịch sử mà mình được học Đặc điểm của bộ môn Lịch
sử là kiến thức không lặp lại: nghĩa là trong một cấp học, học sinh chỉ được họckiến thức đó một lần duy nhất, những bài sau không lặp lại nữa Nhất là trong bốicảnh hiện nay khi học sinh coi trọng các môn khoa học tư nhiên hơn; trong khi đóbài tập lịch sử về nhà lại rất ít, thậm chí là không có Điều này gây khó khăn trongviệc ghi nhớ kiến thức cho học sinh
Một thực trạng hiện nay ở trường THCS là học sinh học môn Sử theo kiểu
“học vẹt”, học trước quên sau Vì vậy, củng cố kiến thức cho học sinh là một côngviệc rất quan trọng và không thể thiếu của mỗi giáo viên khi tiến hành dạy mônLịch sử ở trường THCS Nhờ củng cố mà học sinh có thể khắc sâu, hệ thống, kháiquát những kiến thức đã học, giúp cho các em nhớ nhanh, bền vững kiến thức Dotầm quan trọng của việc củng cố kiến thức đối với mỗi tiết học lịch sử, nên chúng
tôi đã chọn đề tài “Một số dạng bài tập củng cố kiến thức cuối tiết học đối với
môn Lịch sử lớp 7” làm chuyên đề báo cáo của trường THCS Xuân Thới Thượng.
2 Mục đích nghiên cứu:
Với việc nghiên cứu và đề xuất một số dạng bài tập cơ bản cho việc củng cốkiến thức, sẽ giúp cho học sinh có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp thu và ghi nhớkhắc sâu kiến thức lịch sử một cách hiệu quả, từ đó giúp các em thêm yêu thích vàhứng thú hơn với môn học này
Trang 4Đối với học sinh khá giỏi thì các hình thức củng cố kiến thức sẽ giúp các emkhắc sâu kiến thức, phát huy tính tích cực, rèn luyện được một số kỹ năng nhưphân tích so sánh các sự kiện lịch sử, kiỹ năng sử dụng lược đồ …
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối với một tiết học Lịch sử, giáo viên có thể củng cố kiến thức cho họcsinh ở nhiều thời điểm khác nhau và cũng có thể thực hiện nhiều việc củng cố kiếnthức bằng nhiều cách Riêng đối với chuyên đề này, chúng tôi chỉ tập trung vàoviệc củng cố kiến thức cho học sinh vào cuối tiết học bằng hình thức các dạng bàitập tiêu biểu, phù hợp
4 Phạm vi nghiên cứu:
Kiến thức lịch sử lớp 7 ở trường THCS
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định được tầm quan trọng của việc củng cố kiến thức cuối tiết học môn lịchsử
- Thực trạng việc thực hiện củng cố kiến thức lịch sử cuối tiết học hiện nay ởtrường THCS
- Xây dựng các phương pháp, các dạng bài tập dựa trên cơ sở thực tiễn để thựchiện hiệu quả việc củng cố kiến thức lịch sử cuối tiết học
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp sưu tầm, khảo cứu tài liệu
- Phương pháp logic, so sánh, thống kê
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thực hành trực tiếp trên lớp
Trang 5Phần thứ hai: NỘI DUNGChương 1: Cơ sở lí luận
Về ý nghĩa của từ “củng cố”, trong “Từ điển tiếng Việt”, NXB Giáo dục,
2001 của tác giả Nguyễn Như Ý giải thích: Củng cố nghĩa là làm cho vững chắcthêm
Kiến thức: bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng cóđược nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục
Từ đó, ta có thể hiểu như sau: Củng cố kiến thức trong giờ dạy Lịch sử làquá trình giáo viên giúp học sinh nhắc lại, hệ thống khái quát những kiến thức đãhọc, giúp học sinh nắm chắc kiến thức Việc củng cố kiến thức có thể được thựchiện trên cơ sở thực hành, giải quyết những dạng bài tập cụ thể giúp học sinh khắcsâu kiến thức và tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức mới tốt hơn
Chương 2: Thực tiễn việc củng cố kiến thức cho học sinh trong dạy học Lịch
sử hiện nay
Qua dự giờ, trao đổi với một số giáo viên dạy môn Lịch sử, và từ thực tế quátrình giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy việc củng cố kiến thức cho học sinhtrong dạy học lịch sử nói chung và lớp 7 nói riêng còn tồn tại một số vấn đề nhưsau:
Thứ nhất, trong các tiết học, giáo viên vẫn thực hiện củng cố kiến thức chohọc sinh, song nó chỉ được thực hiện một cách tự phát hoặc chủ yếu bằng kinhnghiệm của giáo viên Điều này khiến cho việc củng cố kiến thức không đượcthường xuyên và không đem lại hiệu quả cao
Thứ hai, nếu một bài được dạy trong nhiều tiết, thì giáo viên chỉ thực hiệncủng cố kiến thức ở tiết cuối của bài học Như vậy sẽ làm cho học sinh khó ghi nhớkiến thức vì bị quá tải, hoặc đến khi củng cố kiến thức vào tiết cuối thì học sinh đã
bị quên mất kiến thức ở tiết đầu hoặc tiết thứ hai
Thứ ba, giáo viên nhận thức, đánh giá chưa đúng về tầm quan trọng củacủng cố kiến thức trong dạy học Lịch sử Còn nhiều giáo viên xem nhẹ việc củng
cố kiến thức cho học sinh nên thực hiện củng cố một cách hời hợt, quá đơn giản:chỉ nhắc lại kiến thức đã học rồi chỉ ra trọng tâm của bài học Cách củng cố kiếnthức này chỉ hiệu quả với một số học sinh chăm chú nghe giảng và thích học môn
sử, mà không tạo được hứng thú và không lôi cuốn được học sinh tham gia vàophần củng cố, từ đó các em sẽ không nhớ lâu được kiến thức đã học
Cuối cùng, đó là tình trạng cá biệt một số giáo viên còn bỏ qua công việccủng cố kiến thức khi dạy học Lịch sử Một số giáo viên lấy lý do bài dạy quá dàinên không đủ thời gian để củng cố kiến thức cuối tiết; một số thì chỉ tiến hànhcủng cố kiến thức cuối tiết dạy khi sử dụng giáo án điện tử hoặc khi có người dựgiờ Đây là một thiếu sót lớn trong việc truyền đạt và ghi nhớ kiến thức đã học chohọc sinh
Trang 6Chương 3: Giải quyết vấn đề
Củng cố kiến thức cho học sinh cuối tiết học là công việc mà xưa nay giáoviên vẫn làm Muốn đạt hiệu quả cao và học sinh không bị nhàm chán thì cần phảitùy thuộc từng bài cụ thể mà dành thời gian và sử dụng dạng bài tập cho thích hợp,
có tác dụng củng cố lại kiến thức đã học, khơi dậy tư duy học sinh
Hiện nay khi công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong dạy học, đã
có rất nhiều dạng bài tập củng cố kiến thức đem lại hiệu quả cao trong giảng dạylịch sử Sau đây tôi xin được liệt kê một số dạng bài tập củng cố kiến thức mà giáoviên có thể áp dụng vào bài dạy của mình trong chương trình Lịch sử lớp 7
3.1 Củng cố kiến thức bằng dạng bài tập trắc nghiệm:
Loại câu hỏi này có ưu điểm là trong thời gian ngắn có thể kiểm tra nhiềukiến thức khác nhau Giáo viên có thể sử dụng việc làm bài tập này bằng hình thứcnhư những cuộc thi nhỏ để cuốn hút tất cả học sinh cùng hoạt động
3.1.1 Trắc nghiệm chọn đáp án đúng nhất:
Đối với dạng bài tập này, giáo viên có thể thực hiện theo các bước như sau:Bước 1: Giáo viên chuẩn bị sẵn câu hỏi và biển đáp án A, B, C, D
Bước 2: Chia lớp thành 2 nhóm, phát biển đáp án A, B, C, D cho các nhóm
Bước 3: Giáo viên nêu rõ quy định của cuộc thi (thời gian suy nghĩ, tín hiệu báođưa đáp án.)
Bước 4: Học sinh đưa đáp án bằng cách giơ biển đáp án mà nhóm mình chọn.Giáo viên đưa ra kết luận đáp án đúng nhất và công bố kết quả đúng Giáo viên cóthể phát thưởng cho nhóm có kết quả cao nhất để khuyến khích làm cho các emthích thú hơn
Ví dụ:
* Tiết 15 bài 11 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077):
Câu hỏi: Mục đích Lý Thường Kiệt đem quân sang đánh đất Tống là:
A Đánh vào bộ chỉ huy của quân Tống
B Giết người, cướp lương thực của quân Tống.
C Đánh vào nơi quân Tống tích trữ lương thực và khí giới để đánh Đại Việt.
D Đánh vào đồn quân Tống gần biên giới của Đại Việt
* Tiết 50 bài 23 Kinh tế - văn hóa thế kỉ XVI – XVIII:
Câu hỏi: Thế kỉ XVII, chữ Quốc ngữ ra đời có ý nghĩa gì?
A Xóa bỏ chữ Hán và chữ Nôm
B Phục vụ việc truyền đạo của các giáo sĩ đạo Thiên chúa
C Tạo ra một chữ viết khoa học, dễ học, dễ viết, dễ phổ biến.
D Thêm một chữ viết mới
3.1.2 Trắc nghiệm đúng – sai:
Giáo viên có thể thực hiện các bước như sau:
Trang 7Bước 1: Giáo viên chuẩn bị bài tập dạng trắc nghiệm đúng – sai
Bước 2: Giáo viên chiếu bài tập, nêu yêu cầu của dạng bài tập này
Bước 3: Học sinh có thể chọn tùy ý câu mà mình biết để trả lời
Bước 4: Giáo viên đưa ra đáp án đúng để đối chiếu và nhận xét, cho điểm
Ví dụ:
* Tiết 41 bài 20 Nước Đại Việt thời Lê sơ (1428 – 1527):
Câu hỏi: Nội dung chính của bộ luật Hồng Đức là gì?
Bảo vệ quyền lợi của vua, Hoàng tộc
Bảo vệ quyền lợi của toàn thể nhân dân
Bảo vệ quyền lợi của quan lại, giai cấp thống trị, địa chủ phong kiến
Bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, giữ gìn những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc
Bảo vệ một số quyền lợi của phụ nữ
Đáp án:
Đ Bảo vệ quyền lợi của vua, Hoàng tộc.
S Bảo vệ quyền lợi của toàn thể nhân dân.
Đ Bảo vệ quyền lợi của quan lại, giai cấp thống trị, địa chủ phong kiến.
Đ Bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, giữ gìn những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Đ Bảo vệ một số quyền lợi của phụ nữ.
* Tiết 54 bài 25 Phong trào Tây Sơn:
Câu hỏi: Điền chữ Đ (đúng) hoặc S (sai) vào đầu các câu sau:
Nguyễn Huệ đem quân đánh thành Phú Xuân để diệt quân Trịnh
Từ 1786 – 1788, nghĩa quân Tây Sơn đã ba lần tiến quân ra Bắc
Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh đều có mưu đồ tạo phản
Sau khi diệt Trịnh, Nguyễn Huệ giao chính quyền Đàng Ngoài cho vua Lê
Đáp án:
Đ Nguyễn Huệ đem quân đánh thành Phú Xuân để diệt quân Trịnh.
Đ Từ 1786 – 1788, nghĩa quân Tây Sơn đã ba lần tiến quân ra Bắc.
S Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh đều có mưu đồ tạo phản.
Đ Sau khi diệt Trịnh, Nguyễn Huệ giao chính quyền Đàng Ngoài cho vua Lê.
3.1.3 Trắc nghiệm nối cột (ghép đôi):
Giáo viên thực hiện như sau:
Bước 1: Giáo viên chuẩn bị bài tập dạng nối cột, bảng phụ, bút lông
Bước 2: Giáo viên chiếu bài tập, nêu yêu cầu và phương pháp hoạt động của dạngbài tập này
Bước 4: Học sinh trả lời (học sinh đứng tại chỗ trả lời hoặc lên bảng nối trực tiếpvào bảng phụ)
Bước 5: Giáo viên đưa đáp án đúng để đối chiếu và nhận xét, cho điểm
Ví dụ:
Trang 8* Tiết 39 bài 20 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427):
Câu hỏi: Nối mũi tên chỉ đúng các hướng tiến quân ra Bắc của nghĩa quân LamSơn:
Đáp án:
* Tiết 55 bài 25 Phong trào Tây Sơn:
Câu hỏi: Nối cột thời gian với cột sự kiện lịch sử cho đúng:
Đạo thứ nhất
Đạo thứ hai
Đạo thứ ba
Tiến thẳng ra Đông Quan
Tiến quân ra giải phóng miền Tây Bắc, ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang
Giải phóng vùng hạ lưu sông Hồng, ngăn chặn viện binh từ Quảng Tây sang
Đạo thứ nhất
Đạo thứ hai
Đạo thứ ba
Tiến thẳng ra Đông Quan
Tiến quân ra giải phóng miền Tây Bắc, ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang
Giải phóng vùng hạ lưu sông Hồng, ngăn chặn viện binh từ Quảng Tây sang
4 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế
2 Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân Thanh vào nước ta
Trang 9Đáp án:
3.1.4 Trắc nghiệm điền khuyết:
Giáo viên có thể thực hiện như sau:
Bước 1: Giáo viên chuẩn bị sẵn bài tập dạng điền khuyết, cho trước những từ cầnđiền (số từ cho phải nhiều hơn số chỗ trống cần điền để buộc học sinh có sự lựachọn)
Bước 2: Giáo viên phổ biến quy định và phương pháp hoạt động của việc thực hiệnbài tập này
Bước 4: Sau khi học sinh hoàn thành xong, giáo viên đưa ra đáp án đúng để đốichiếu và nhận xét, cho điểm
Ví dụ:
Tiết 16 bài 11 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077):
Câu hỏi: Chọn từ thích hợp điền vào chỗ chấm để hoàn thành đoạn văn sau:
Quân Minh, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ, quân Mông – Nguyên, quân Tống
“Cuộc chiến ở Như Nguyệt là trận quyết định số phận của
……… xâm lược Đây cũng là một trong những trận đánhtuyệt vời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Người chỉ huy trận đánh –
……… thực sự là một tướng tài Tên tuổi ông mãi mãi làniềm tự hào của dân tộc ta”
Đáp án:
“Cuộc chiến ở Như Nguyệt là trận quyết định số phận của quân Tống xâm lược.
Đây cũng là một trong những trận đánh tuyệt vời trong lịch sử chống ngoại xâm
của dân tộc Người chỉ huy trận đánh – Nguyễn Huệ thực sự là một tướng tài Tên
tuổi ông mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta”
3.2 Củng cố bằng bài tập điền thời gian và sự kiện tương ứng:
Đối với dạng bài tập này, giáo viên có thể chuẩn bị bài tập bằng bảng phụ,các mẫu giấy dán có ghi sẵn đáp án Học sinh sẽ chọn đáp án mà mình cho là đúng
để dán vào chỗ trống trên bảng phụ Như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian và gâyhứng thú cho học sinh hơn
4 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế
2 Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân Thanh vào nước ta
Trang 10Ví dụ:
Tiết 33 bài 17 Ôn tập chương II và chương III:
Câu hỏi: Điền các mốc thời gian và sự kiện tương ứng để hoàn thành bảng biên biểu sau:
1009
Lý Công Uẩn dời đô về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long
Nhà Lý ban hành bộ luật Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên ở nướcta
1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, nhà Lý thành lập
1010 Lý Công Uẩn dời đô về Đại La, đổi tên là thành Thăng Long
1042 Nhà Lý ban hành bộ luật Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên ở nước
ta
1054 Nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt
1070 Nhà Lý lập Văn Miếu thờ Khổng Tử
1075 Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên, Lê Văn Thịnh đỗ đầu
1076 Lập Quốc tử giám ở Thăng Long
1077 Lý Thường Kiệt lãnh đạo kháng chiến chống Tống thắng lợi
1226 Trần Cảnh lên ngôi vua Nhà Trần thành lập
1258 Chiến thắng quân XL Mông Cổ lần thứ nhất
1285 Chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai
1288 Chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba
1400 Hồ Qúy Ly lật đổ nhà Trần, lập nhà Hồ
Trang 113.3 Củng cố bằng bài tập lập bảng niên biểu (bảng thống kê), lập đường thời gian:
Với dạng bài tập này, tuy không đòi hỏi độ tư duy cao nhưng lại đòi hỏi họcsinh phải có khả năng ghi nhớ Để tránh trường hợp học sinh thống kê lan man vàmất thời gian thì khi giao dạng bài tập này giáo viên nên cho trước những gợi ý,cũng cần lưu ý tùy khả năng của từng lớp mà có sự điều chỉnh yêu cầu cho phùhợp
Ví dụ:
* Tiết 47 bài 22 Sự suy yếu của nhà nước phong kiến tập quyền (thế kỉ XVI – XVIII):
Câu hỏi: Lập bảng thống kê các cuộc khởi nghĩa nông dân ở đầu thế kỉ XVI theo mẫu sau:
Đáp án:
* Tiết 55 bài 25 Phong trào Tây Sơn:
Câu hỏi: Lập niên biểu hoạt động của phong trào Tây Sơn từ năm 1771 đến năm1789: