Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ khoa học công nghệ, trên thị trường có rất nhiều loạt hàng hóa dịch vụ từ nhiều nguồn cung ứng nguyên vật liệu khác nhau đòi hỏi doanh nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
====000====
BÀI TẬP LỚN Môn Kinh Doanh Logistics
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thanh Thảo
Mã sinh viên: 11203680 Lớp: Kinh doanh Logistics (122)_03 Giảng viên: Đặng Đình Đào
HÀ NỘI – 9/2022
Trang 2Câu 1: Thị trường Logistics Việt Nam thời mở cửa: khái quát, thực trạng, giải pháp phát triển trong thời gian tới? Vì sao cung ứng dịch vụ theo giá cả thị trường là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp Logistics phát triển?
I Thị trường Logistics Việt Nam thời mở cửa.
1 Khái quát:
Ngành logistics Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nhiều lĩnh vực Nếu tính từ ngày thành lập Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (tiền thân của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam – VLA) thì đến nay ngành logistics Việt Nam đã được 29 năm Dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận song ngành logistics vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức cần giải quyết để hướng tới tương lai trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Quá trình phát triển của thị trường Logistics Việt Nam thời
mở cửa trải qua 2 giai đoạn gồm: Giai đoạn từ năm 1986 đến 2006; và giai đoạn từ năm 2006 đến nay.
a) Giai đoạn từ năm 1986 đến 2006:
Chính sách mở cửa nền kinh tế từ năm 1986 của Việt Nam đã thổi một luồng sinh khí mới cho hoạt động kinh tế thương mại với những thay đổi lớn của nền kinh tế nước nhà Một loạt các sự kiện và hoạt động kinh tế quan trọng liên tiếp diễn ra, trong đó phải kể đến việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới
Năm 1995, Mỹ chính thức bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam; Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Năm 1998, Việt Nam tham gia diễn đàn kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) và bắt đầu các hoạt động đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước không quản lý trực tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà chỉ quản lý gián tiếp thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ pháp luật Điều đó buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh theo một cách thức mới, chủ động tìm đến khách hàng, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ khoa học công nghệ, trên thị trường có rất nhiều loạt hàng hóa dịch vụ từ nhiều nguồn cung ứng nguyên vật liệu khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, các nguồn cung… Để có thể tập trung nhiều thời gian và sức lực cho quản
lý sản xuất kinh doanh tốt hơn, doanh nghiệp thường phải thuê lại các dịch vụ mà bản thân không có thế mạnh từ các công ty bên ngoài Từ đó nhu cầu về dịch vụ logistics ngày càng phát triển trên thị trường, xuất hiện các nhà cung ứng dịch vụ logistics
Trang 3(LSP) Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Logistics ở Việt Nam chưa được quan tâm phát triển, thậm chí vẫn còn mới lạ với nhiều người, doanh nghiệp Mãi đến năm
2005, khi có quy định về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại nêu rõ: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”; và đặc biệt sau khi ban hành Nghị định số 140/CP ngày 5/9/2007 thì logistics mới bắt đầu khởi sắc, tạo đà cho sự phát triển trong những năm tiếp theo
Chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu không còn do Vietrans độc quyền nữa mà do nhiều công ty khác tham gia, trong đó nhiều chủ hàng ngoại thương lại tự đảm nhận nghiệp vụ giao nhận mà không ủy thác cho Vietrans Hiệp hội Giao nhận – kho vận Việt Nam đã được thành lập vào năm 1994 và đã trở thành hội viên chính thức của Flata trong cùng năm đó Đến cuối năm 2009, VIFFAS đã có 101 thành viên, trong số đó phải kể đến: COSFI, Sun Express, Draco, Everich, Thamico, Tien Phong, Traco, Vinatrans, Vosa…
Hoạt động giao nhận kho vận quốc tế giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 cũng đã
có những bước chuyển biến đáng kể Thời kỳ này, doanh nghiệp Nhà nước chiếm ưu thế và làm đại lý cho các công ty giao nhận vận tải có quy mô toàn cầu nước ngoài, nhưng khối lượng thuê ngoài dịch vụ giao nhận kho vận chỉ ở mức khoảng 25%, phần còn lại do các doanh nghiệp chủ hàng tự đảm nhận từ tổ chức đến đầu tư phương tiện
Là một ngành kinh doanh chưa phát triển, khó cạnh tranh bình đẳng với các công ty nước ngoài, ngành giao nhận kho vận nước ta là một trong những ngành luôn được Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích phát triển
b) Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:
Thị trường dịch vụ logistics ở nước ta phát triển và chuyển biến mạnh mẽ với trên
3000 doanh nghiệp hoạt động dịch vụ logistics, nhưng quy mô, trình độ và tính chuyên nghiệp còn nhiều hạn chế Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài lại có bề dày kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ cao và uy tín cả trăm năm, đây là những thách thức lớn cho ngành dịch vụ logistics Việt Nam
Cuối năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Trong môi trường kinh tế mới, hoạt động của các ngành kinh tế đều trở nên sôi động, đặc biệt là sự nhộn nhịp chưa từng có của thương mại và buôn bán quốc tế Điều này là
Trang 4tiền đề quan trọng thúc đẩy logistics Việt Nam phát triển như một yêu cầu tất yếu Tuy nhiên, như đa số các quốc gia đang phát triển khác, mô hình logistics Việt Nam đang ở những bước đầu tiên của sự phát triển Hoạt động logistics Việt Nam bắt đầu khởi sắc cùng với Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 của Chính phủ quy định chi tiết luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Cùng với sự phát triển kinh tế thương mại, nhu cầu tăng về vận tải trong nước và quốc tế cũng đều có sự phát triển tích cực
Để đáp ứng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu đang ngày một tăng lên, hàng loạt các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ra đời, số doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực này đạt mức 1200 vào cuối năm 2010 Hầu hết các doanh nghiệp giao nhận vận tải ở Việt Nam không chỉ làm giao nhận và vận tải thông thường mà còn làm cả các công việc về lưu kho, dán nhãn hiệu, đóng gói bao bì và thủ tục hải quan… Và để có thể hoạt động trong lĩnh vực rộng hơn, rất nhiều doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh cung cấp dịch vụ logistics hoặc bổ sung lĩnh vực dịch
vụ logistics Tuy nhiên phải thấy rằng các công ty của nước ngoài như APL Logistics, Maersk Logistics, NYK Logistics…, các công ty này chiếm tới 70% thị phần dịch vụ Logistics của Việt Nam với bề dày kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ và uy tín cả trăm năm
Một điều đáng chú ý là hoạt động logistics vẫn nhận được sự bảo hộ của Chính phủ nhằm hạn chế các công ty nước ngoài thâm nhập thị trường trong nước và giúp các công ty trong nước có thể tăng tính cạnh tranh trước khi đối mặt với các tập đoàn nước ngoài, tuy nhiên điều này cũng làm chậm đi khả năng phát triển của logistics Việt Nam Tại châu Á, nơi được coi là trung tâm vận chuyển hàng hóa đã và đang chứng kiến sự thay thế các công ty đại lý địa phương bằng các chi nhánh hoặc các công ty con của các tập đoàn giao nhận quốc tế lớn Điều này khác so với Việt Nam, đại đa số các hãng giao nhận vận tải quốc tế chưa được phép kinh doanh vận tải tại Việt Nam mà chỉ được phép trong giới hạn nghiên cứu, xúc tiến và phát triển thị trường Vì vậy, phần lớn các hãng giao nhận quốc tế cũng hoạt động dưới hình thức chỉ định một doanh nghiệp Việt Nam làm đại lý cho họ hoặc thành lập công ty liên doanh, hoặc thậm chí tự đảm nhận hoạt động khi núp dưới danh nghĩa của một đại lý liên doanh là doanh nghiệp Việt Nam Thực trạng này sẽ được dần thay đổi như các nước trong khu vực vì Việt Nam phải thực hiện các cam kết với WTO
2 Thực trạng:
a) Thực trạng ngành Logistics Việt Nam trước khi xuất hiện đại dịch COVID-19:
Trang 5Trước năm 2005, luật pháp Việt Nam chưa hề có quy định về việc kinh doanh dịch vụ Logistics cũng như các hình thức của dịch vụ Logistics Trong luật Thương mại 2005, dịch vụ Logistics và vấn đề có liên quan được quy định từ Điều 223 đến Điều 240 Nghị định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/9/2007 được ban hành để quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics
Với quy mô 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước, trong năm 2016 theo một số thống kê, có hơn 1000 doanh nghiệp đang cung ứng dịch vụ logistics, cùng với
số lượng lao động lên đến khoảng 1,5 triệu, những năm gần đây, ngành dịch vụ Logistics đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam
Sau nhiều năm Việt Nam gia nhập WTO, thị trường dịch vụ Logistics Việt Nam có sự chuyển biến tích cực với số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong ngành phát triển nhanh và có tốc độ tăng trưởng cao Tính đến năm 2016, nếu nhìn vào tốc độ phát triển thương mại nước ta, cũng là mục tiêu phát triển của ngành dịch vụ Logistics, sẽ thấy kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên 1,86 lần, thị trường bán lẻ trong nước tăng bình quân tăng 20- 25%/năm và kết quả, ngành dịch vụ Logistics cũng tăng tương ứng 20-25%/năm
Tuy vậy, ngành Logistics Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và hạn chế:
Về lao động: Thị trường lao động ngành Logistics Việt Nam khá dồi dào, nhưng đó lại là đối với các doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hoá, thực tế ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn nhân lực chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của ngành, tỷ lệ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về Logistics còn chiếm khá thấp, chỉ từ 5-7%
Về doanh nghiệp: Hiện nay, các doanh nghiệp lớn đang chiếm lĩnh thị trường nhiều, doanh nghiệp nhỏ chưa có chỗ đứng trên thị trường Bên cạnh đó, theo thống kê cho thấy các công ty Logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vi nội địa hay một vài nước trong khu vực, và chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp Logistics quốc tế, thua thiệt ngay trên “sân nhà” đối với lĩnh vực được coi là ngành dịch vụ “cơ sở hạ tầng” của nền kinh tế Quốc gia
Về cơ sở hạ tầng: Cơ sở vật chất chưa được trang bị những công cụ, phương tiện tốt nhất để vận chuyển hàng hóa Hàng hóa vẫn thường bị ùn tắc rất nhiều
và vẫn chưa có cách để xử lý ổn thỏa và triệt để nhất
Trang 6 Về chi phí dịch vụ: Mức chi phí dịch vụ rất cao đang là vấn đề cần được cải thiện với ngành Logistics Việt Nam
Đồng thời, đi cùng với những thách thức là cơ hội phát triển của ngành Logistics Việt Nam Hiện nay, ngành Logistics Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận được thị trường logistics rộng lớn hơn với những ưu đãi thương mại để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ; Bên cạnh đó, địa hình nước ta rất phù hợp để phát huy lợi thế địa lý - chính trị trong phát triển cơ sở hạ tầng logistics như phát triển cảng nước sâu, sân bay quốc
tế, hệ thống đường sắt xuyên Á, các trung tâm Logistics; việc hội nhập logistics quốc
tế cũng tạo cơ hội cho Việt Nam phát triển quan hệ đối tác, thị trường xuất khẩu được
mở rộng, góp phần cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng
Từ năm 2017, hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy
mô lớn, rộng khắp Cùng với đó, các dịch vụ đi kèm đã và đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường Các cải cách về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực đã được đẩy mạnh; môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; các kết quả từ hợp tác kinh tế quốc tế… đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu; hình thành nên các chuỗi cung ứng logistics toàn diện, đa dạng và ngày càng chuyên sâu hơn, góp phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế
Cụ thể, theo báo cáo chuyên ngành logistics của Bộ Công Thương, đến cuối năm
2017, cả nước đã có 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đường quốc lộ chính với tổng chiều dài là 23.816km; 3.161km đường sắt; 44 cảng biển; 42 tuyến luồng hàng hải công cộng vào cảng quốc gia với tổng chiều dài là 935,9km và 10 luồng vào cảng chuyên dùng có khả năng tiếp nhận tàu hàng rời đến 200.000 DWT; 45 tuyến đường thủy nội địa quốc gia với tổng chiều dài khoảng 7.075km; 21 cảng hàng không đang khai thác Lượng hàng hóa luân chuyển ngày càng tăng
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14% – 16%, có quy mô khoảng 40 – 42 tỷ USD/năm Tham gia thị trường logistics gồm có khoảng 3.000 doanh nghiệp nội và còn khoảng có 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức
Các thủ tục, thời gian thông quan đối với hàng xuất khẩu cũng đã cải thiện đáng kể Năm 2017 thời gian thông quan hàng xuất khẩu là 105 giờ, hàng nhập khẩu là 132
Trang 7giờ Việt Nam cũng đang đứng thứ 39/160 nước về chỉ số hoạt động logistics và đứng thứ 3 trong ASEAN chỉ sau Singapore và Thái Lan
b) Thực trạng ngành Logistics Việt Nam trong thời điểm diễn ra đại dịch COVID-19:
Đầu năm 2020, khi đại dịch COVID-19 bùng phát đã gây nên tổn thất trầm trọng đến mọi mặt từ kinh tế, văn hoá, du lịch đến đời sống con người trên toàn cầu Đặc biệt, đại dịch đã gây áp lực nặng nề lên khả năng sản xuất cũng như chuỗi cung ứng 6 toàn cầu hay còn là ngành dịch vụ Logistic Toàn bộ dây chuyền của ngành logistic đã bị ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch, mọi hoạt động bị trì hoãn và chính dịch bệnh cũng tạo nên những thử thách không ngừng dành riêng cho ngành từ hiện tại và cả trong tương lai
Chuỗi cung ứng đã bị đảo lộn và đứt gãy do đại dịch mà những hoạt động thuộc ngành Logistics – cốt lõi của chuỗi cung ứng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng Đối với thế giới nói chung, các dịch vụ vận tải như vận tải đường bộ, vận tải đường sắt hay vận tải hàng không bị thiệt hại nặng nề nhất Vận tải biển có bị tác động nhẹ hơn bởi việc giữ vững cước phí, dù yêu cầu chuyên chở có giảm sút và khó khăn về thủ tục do đại
Các đặc điểm này của chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics thế giới cũng đã thể hiện đầy đủ trong ngành dịch vụ Logistics Việt Nam, khi mà sự khó khăn trong lưu thông dây chuyền cung ứng ở nước ta cũng xảy ra trên mọi mặt trận Nêu lên thực trạng tắc nghẽn trong chuỗi logistic tại Việt Nam được thể hiện rõ nhất ở đợt bùng phát COVID-19 thứ tư kéo dài suốt năm tháng qua Trong đợt dịch vừa qua, sự “ngăn sông cấm chợ” đã khiến cho 1 kg rau tại Bình Phước có giá 8 nghìn đồng, trong khi vẫn 1
kg rau đó tại thành phố Hồ Chí Minh người dân có thể phải mua tới 70-80 nghìn đồng Điều này dẫn tới sự khủng hoảng cho người dân nói chung và các doanh nghiệp nói riêng về mặt tinh thần Qua đây, có thể thấy ngành Logistics trong giai đoạn vừa qua bị tác động bởi nhiều yếu tố tiêu cực ở cả nội địa và ngoài nước Có rất nhiều doanh nghiệp đã phá sản, hay đang lâm vào tình trạng phá sản, rời bước khỏi thị trường lao động ngành logistic vì hậu quả nặng nề mà COVID19 đem lại Việc doanh nghiệp phá sản cũng dẫn đến nguồn lao động bị ảnh hưởng, nhiều người trở nên thất nghiệp, nhiều công nhân bị mất việc khiến cho cuộc sống của 7 họ và gia đình họ đã khó khăn nay càng khó khăn hơn
Đối với ngành hàng không, các hãng hàng không hiện nay đều hủy tối đa các chuyến bay tới Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc thêm vào đó hạn chế nhất có thể các
Trang 8chuyến bay từ vùng dịch Ngoài ra, giá cước vận chuyển hàng hóa tăng cao hơn so với bình thường Trong khi đó, các tuyến biên giới đều khó để kiếm được nhà cung cấp vận chuyển Nhu cầu vận tải đường bộ giờ giảm xuống còn 30% do lượng hàng hoá sụt giảm Ngành hàng không cũng đã chịu những tổn thất nặng về vô cùng lớn, ảnh hưởng kinh tế trầm trọng trong khi dịch bệnh vẫn hoành hành không có dấu hiệu giảm nhẹ Bằng chứng là nhiều hãng hàng không đã phải vay nợ và xin hỗ trợ tài chính từ chính phủ, nhiều nhân viên, tiếp viên phải nghỉ việc hoặc buộc phải thôi việc do cắt giảm nhân sự bởi công ty không đủ ngân sách để chi trả lương Qua đây, Logistic một lần nữa cho thấy vai trò quan trọng của mình đối với xã hội
Những tổn thất nặng nề mà ngành đang phải hứng chịu khiến xương sống của chuỗi cung ứng ngày một trở nên “kiệt sức”, tác động tiêu cực tới vô số ngành có liên quan
Ở một số khía cạnh khác trong ngành Logistics ở Việt Nam, các ngành sản xuất như dệt may dựa chủ yếu vào việc nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc – nơi xảy ra đại dịch mạnh nhất, đã ngưng trệ sản xuất Chiến dịch giải cứu hàng hóa ở biên giới với Trung Quốc bị ách tắc trong giai đoạn đầu của đại dịch và đặc biệt là thời gian cách ly
xã hội diễn ra từ tháng 4 đến tháng 8/2020 đã làm cho những quy trình sản xuất, Logistics, vận tải bị tắc nghẽn, gián đoạn Từ tháng 5/2021, kinh tế bắt đầu phục hồi nhưng đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại các thị trường là đối tác thương mại chính của Việt Nam do đó gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất, nhập khẩu và Logistics Nhu cầu quốc tế giảm sút đồng nghĩa với việc giảm xuất khẩu đơn hàng dẫn đến việc nhiều công ty buộc phải cho công nhân nghỉ việc
Tóm lại, đại dịch COVID-19 đã gây ra thiệt hại nặng nề cho tất cả các ngành trong thị trường lao động của Việt Nam và tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Đặc biệt trong
số đó, Logistic đã phải hứng chịu sự tàn phá di dịch bệnh, ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh và vấn đề
3 Giải pháp phát triển trong thời gian tới:
a) Đối với doanh nghiệp Logistics:
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh, trình
độ quản trị theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số để bắt kịp với xu thế ứng dụng công nghệ thông tin hầu hết trong các khâu của logistics Doanh nghiệp logistics cần nâng cao quy trình, công nghệ, nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực logistics Việc tăng cường ứng dụng công nghệ với những tiến bộ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được đa số doanh nghiệp kỳ vọng sẽ làm thay đổi ngành logistics nhiều nhất với những lợi ích
Trang 9hàng đầu như tăng năng suất lao động, cắt giảm chi phí, cải thiện chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả theo dõi logistics và quản lý vòng đời sản phẩm
và củng cố hệ thống vận hành áp dụng giải pháp công nghệ mang lại hiệu quả cho dịch vụ logistics và giảm đáng kể chi phí liên quan như cảng điện tử (ePort), lệnh giao hàng điện tử (eDO), số hóa chứng từ vận tải (Invoicing and Payments), đầu tư vào ứng dụng giải pháp tổng thể trong dịch vụ logistics (Saas), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), nhà kho thông minh (Smart Warehousing)
Chủ động tìm kiếm, liên kết với các doanh nghiệp quốc tế có uy tín để cùng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ logistics
Đầu tư và xây dựng hợp lý có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp Các kho bãi cần được đặt ở những địa điểm thuận lợi cho việc lưu thống hàng hóa bằng các phương thức vận tải, và các doanh nghiệp cần mua sắm phương tiện vận chuyển sao cho hợp lý cả về lượng, loại hình phương tiện cũng như chất lượng phương tiện
Nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp: Hiểu rõ và nhận thức đúng về quy trình cung cấp các dịch vụ Logistics; Đào tạo có hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế; Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để kết nối, mở rộng mạng lưới dịch vụ trong cả nước và trên thế giới để tạo đầu ra thị trường ngoài nước
Tăng cường vai trò và sự cộng tác chặt chẽ giữa các Hiệp hội ngành nghề liên quan Đó là VIFFAS – Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam, VSA – Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam, VISABA – Hiệp hội Đại lý-Môi giới hàng hải Việt Nam, VPA – Hiệp hội Cảng biển Việt Nam Cần phát huy vai trò tạo dựng các liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong ngành nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Logistics
Liên kết và cổ phần hóa là động lực cho sự phát triển Việt Nam có thể học hỏi
từ mô hình của liên minh Thai Logistics Alliance (TLA), có nghĩa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực Logistics sẽ liên kết để trở thành một liên minh thống nhất Mô hình này sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể cạnh tranh được với các đối thủ lớn nước ngoài
b) Đối với Nhà nước:
Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước cần hỗ trợ giải quyết nhằm giảm chi phí dịch vụ logistics như mục tiêu của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đề
Trang 10ra, đề xuất các giải pháp, sáng kiến tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tái thiết nền kinh tế sau dịch bệnh
Ngân hàng Nhà nước cần xem xét giảm lãi suất cơ bản Các ngân hàng thương mại cần khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay, mở rộng hạn mức cho vay,
cơ cấu lại các khoản vay đối với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực bị tác động mạnh từ sau dịch Covid-19 như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu nông sản, vận tải, dệt may, giày dép…
Đối với các doanh nghiệp kho lạnh, kho mát cần được ưu đãi về giá điện dùng (hiện nay giá cao hơn giá điện sản xuất từ 25 - 30%); ưu đãi thuế (như giảm thuế, không phạt chậm nộp thuế…) cho các chuỗi nhà hàng, khách sạn, cung ứng thực phẩm; giãn tiến độ nộp, giảm tiền thuê đất và mặt bằng sản xuất kinh doanh cho các DN chịu ảnh hưởng nhiều hậu dịch bệnh
Các cơ quan liên quan triển khai công tác đảm bảo chống dịch ở các cửa khẩu đường bộ, cảng biển theo hướng tạo thuận lợi cho DN; phối hợp với các tỉnh biên giới phía Bắc bố trí lực lượng chức năng phân luồng, phân tuyến tại đường bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa phương tiện được lưu thông tốt nhất
Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực logistics đảm bảo tính ổn định, đồng bộ; tiếp tục rà soát cắt giảm thủ tục hành chính và các rào cản để giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp
Triển khai các nhóm giải pháp tổng thể trong các lĩnh vực thuế, phí, hải quan nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng, giảm chi phí cho các hoạt động logistics; tăng vốn đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở giao thông và logistics cùng với phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu, hệ sinh thái thương mại điện tử; thúc đẩy công nghệ, hình thành và phát triển dịch vụ logistics sáng tạo
II Giải thích: Lý do cung ứng dịch vụ theo giá cả thị trường là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp Logistics phát triển.
- Dịch vụ LSP nhắm tới các đối tượng đa dạng hơn
- Sự phát triển của các ngành thương mại khác
Câu 2: Hiểu thế nào là quy tắc của thị trường và giải pháp đưa các doanh nghiệp Logistics ở nước ta theo đúng quy tắc đó? Vì sao cạnh tranh làm giá cả thị trường giảm xuống?
I Quy tắc của thị trường và giải pháp đưa các doanh nghiệp Logistics ở nước ta theo đúng quy tắc đó.