1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG_Chuyên đề hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không

20 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 47,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN Công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê, trao đổi, vay mượn tài sản Chuyên đề: “Theo anh (chị) trong nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận về quy định hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định tại Bộ luật Dân sự.”

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC

-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN

Công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê, trao đổi, vay mượn tài sản

Chuyên đề: “Theo anh (chị) trong nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến

điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận về quy định hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định tại Bộ luật Dân sự.”

Họ và tên : -Sinh ngày :

Số báo danh : Lớp : Đào tạo nghề Công chứng 24.2HCM

, ngày - tháng - năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC Trang

I LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục đích, nhiệm vụ, đối nghiên cứu đề tài 2

2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

2.2 Nhiệm vụ 2

2.3 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Cơ cấu bài báo cáo 3

II NỘI DUNG 4

1.Những vấn đề lý luận về hợp đồng tặng cho có điều kiện 4

1.1.Khái quát về hợp đồng tặng cho tài sản 4

1.2 Đặc điểm hợp đồng tặng cho tài sản 4

1.2.3 Khái quát về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 4

2 Những đặc điểm cơ bản về hợp đồng tặng cho có điều kiện 6

2.1.Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 6

2.2.Chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 6

2.3.Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 6

2.4.Điều kiện tặng cho tài sản 6

2.5.Đặc điểm pháp lý 7

2.6 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện 8

3.Thực tiễn về hợp đồng tặng cho có điều kiện 9

3.1.Các yêu c ầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho 9

3.2 Những mặt đạt được: 12

3.3 Những mặt hạn chế 13

3.4.Nguyên nhân của những hạn chế và một số giải pháp, kiến nghị - đề xuất về hợp đồng tặng cho có điều kiện 15

PHẦN III KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong cuộc sống ngày nay, các loại hợp đồng dân sự được giao kết trên nhiều hình thức với những nội dung khác nhau Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các hợp đồng tặng cho tài sản đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng Kéo theo

đó, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tặng cho tài sản trên thực tế phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp Việc giải quyết tốt các tranh chấp về hợp đồng tặng cho tài sản sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên tặng cho, bên được tặng cho, qua đó

ổn định và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trong đời sống, xã hội Hiện nay cơ sở pháp lý để điều chỉnh hợp đồng tặng cho tài sản là Bộ luật dân sự 2015 Trên thực tế, việc tặng cho ở có thể diễn ra rất đa dạng từ chủ thể tặng cho như: những người

có quan hệ huyết thống (cha mẹ, con cái), người thân quen, cho đến các tổ chức, cộng đồng dân cư hoặc Nhà nước….Cơ sở pháp lý của tài sản tặng cho cũng vô cùng phức đòi hỏi cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo hệ thống pháp luật không chỉ là pháp luật dân sự về tặng cho tài sản, pháp luật đất đai về tặng cho quyền sử dụng đất mà còn pháp luật khác có liên quan như: pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về công chứng, chứng thực, pháp luật về đăng ký…Các quy định này đã tạo ra hành lang pháp lý khá đầy đủ và phù hợp để các chủ thể xác lập, thực hiện tặng cho tài sản với nhau Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng tặng cho còn sơ sài, nhiều vấn đề chưa được quy định như: Thời điểm phát sinh hi ệu lực của hợp đồng tặng cho đối với các tài sản vô hình; Các

y ếu tố pháp lý mà điều kiện tặng cho cần đáp ứng; Bảo vệ quyền lợi cho con và cho những người thân thích khác của người tặng cho; Tặng cho tài sản đối với cá nhân chưa được sinh ra; Chưa ghi nhận phương thức giải quyết đối với hợp đồng tặng cho có điều

kiện khi bên được tặng cho chỉ thực hiện một phần điều kiện ; hoặc, một số quy định

hiện hành về hợp đồng tặng cho còn chưa phù hợp như: Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho chưa thống nhất giữa động sản và bất động sản không phải đăng ký sở hữu Đối với động sản không phải đăng ký sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản Trong khi đó, hợp đồng tặng chi bất động sản không phải đăng ký có hiệu lực kể từ khi bên tặng cho chuyển giao tài sản; So với Bộ luật dân sự năm

2005, Điều 458 BLDS năm 2015 quy định bên tặng cho và bên được tặng cho được phép thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho động sản không phải đăng ký sở hữu

Việc tặng cho tài sản này có thể thực hiện bằng lời nói hay bất kỳ hành vi pháp lý đơn phương nào hoặc thông qua các hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của pháp luật Là một dạng phổ biến của hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện cũng được pháp luật ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số văn bản

Trang 4

khác có liên quan Thông qua đó, các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở pháp lý trong việc xây dựng, áp dụng và điều chỉnh về loại hợp đồng này Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng còn khá sơ sài, còn nhiều vấn đề chưa được đề cập đến Thêm vào đó, một số quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn, còn có những điểm mâu thuẫn với luật chuyên ngành Những hạn chế này đã khiến cho quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ những hợp đồng này gặp phải rất nhiều những khó khăn, vướng mắc

Xuất phát từ những vấn đề trên, em đã nghiên cứu và hoàn thiện bài báo cáo chuyên

đề môn Công chứng các hợp đồng mua bán, tặng cho, thuê, trao đổi, mượn vay tài sản với

đề tài: “Theo anh (chị) trong nội dung của hợp đồng tặng cho không đề cập đến điều kiện của hợp đồng tặng cho thì hợp đồng tặng cho đó có được xác định là hợp đồng tặng cho không có điều kiện không? Anh (chị) hãy bình luận về quy định hợp đồng tặng cho có điều kiện được quy định tại Bộ luật Dân sự.”

Bài báo cáo chuyên đề đã trình bày một cách khái quát về những vấn đề lý luận của hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện nói riêng Đồng thời phân tích những mặt được, mặt hạn chế về thực tiễn áp dụng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện và nêu tình huống minh họa cụ thể Qua đó, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

2.Mục đích, nhiệm vụ, đối nghiên cứu đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích: Với tinh thần nghiên cứu, học hỏi một cách nghiêm túc, trong đề tài này, bản thân em muốn phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật về Khái niệm hợp đồng tặng cho, đặc điểm của hợp đồng tặng cho, thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó mong muốn cung cấp thêm một cách nhìn toàn diện hơn về hợp đồng tặng cho có điều kiện nói riêng

2.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích trên bài báo cáo có nhiệm vụ: Làm rõ quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện; Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật; Đưa ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp, kiến nghị…qua đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến hợp đồng tặng cho, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trng hoạt động công chứng hiện nay

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là hợp đồng tặng cho, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, tập trung vào một số nội dung chủ yếu: khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng cho; từ thực tiễn áp dụng những mặt đạt được và hạn chế để từ đó rút ra được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, kiến nghị đảm bảo các quy định của pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc, có hiệu quả hơn nữa, đúng bản chất

3 Cơ cấu bài báo cáo

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục bài báo cáo chuyên đề của em gồm 03 phÇn với các nội dung chính như sau:

3.1 Những vấn đề lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

3.2 Thực tiễn về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

3.3 Nguyên nhân của những hạn chế và một số giải pháp, kiến nghị - đề xuất về hợp đồng tặng cho có điều kiện

Trang 6

II NỘI DUNG

1.Những vấn đề lý luận về hợp đồng tặng cho có điều

kiện 1.1.Khái quát về hợp đồng tặng cho tài sản.

Tặng cho tài sản là giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng diễn ra

phổ biến trong đời sống hiện nay Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận được quy định tại

Điều 457 Bộ luật dân sự 2015

1.2 Đặc điểm hợp đồng tặng cho tài sản

Bản chất của tặng cho tài sản là một giao dịch dân sự trong đó chủ thể khi còn sống chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho một chủ thể khác mà không yêu cầu được nhận lại bất cứ lợi ích vật chất tương xứng nào Tài sản được tặng cho ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản Bộ luật dân sự năm 2015 có đưa ra khái niệm về hợp đồng tặng cho tài

sản như sau: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.”1

1.2.3 Khái quát về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện.

Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện không phải là một thuật ngữ mới trong Bộ luật Dân sự năm 2015 Trước đó, hợp đồng tặng cho tài sản hay tặng cho tài sản có điều kiện cũng đã được đề cập đến trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 1995

Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện không cùng bản chất với giao dịch dân sự

có điều kiện

Giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu là việc phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch phụ thuộc vào sự kiện điều kiện xảy ra theo sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong giao

dịch Qua đó được hiểu, “điều kiện” trong giao dịch có điều kiện là những sự kiện pháp

lý do chính các bên thỏa thuận mà khi điều kiện xảy ra thì làm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực của giao dịch theo một trong hai chiều hướng: Làm phát sinh hiệu lực của giao dịch hoặc làm h ủy bỏ hiệu lực của giao dịch

Nếu chiếu quy định về giao dịch có điều kiện vào Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện thì rõ ràng, tặng cho tài s ản có điều kiện khác về bản chất với giao dịch dân sự

có điều kiện bởi hai lý do sau đây:

1 Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Trang 7

Một là, điều kiện trong giao dịch có điều kiện phải là những sự kiện qua đó làm

phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của giao dịch dân sự; còn điều kiện trong tặng cho tài sản có điều kiện không được coi là căn cứ để làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng tặng cho Trong khi đó, điều kiện tặng cho không ph ải là những sự kiện làm phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện mà thực chất đây là những nghĩa vụ mà bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản tặng cho

Hai là, những sự kiện nằm trong điều kiện của giao dịch có điều kiện phải mang tính chất

khách quan, việc phát sinh điều kiện không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Trong khi đó, điều kiện của tặng cho là một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự do bên được tặng cho thực hiện Tức là người được tặng cho sẽ là người thực hiện, tác động để điều kiện do bên tặng cho đưa ra được thực hiện trên thực tế

Sự khác biệt giữa điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện và điều kiện trong

hợp đồng tặng cho cũng được khẳng định qua nhận định sau: “Chúng ta thấy rằng tặng cho tài sản có điều kiện là một dạng giao dịch dân sự, nhưng những điều kiện được nói đến trong quy định về tặng cho tài sản có điều kiện tại Điều 470 BLDS đã bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn là điều kiện thực hiện nghĩa vụ”

Tại Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về tặng cho tài sản có điều kiện Theo đó:

“1 Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa

vụ trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho

đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” 2

Tặng cho tài sản có điều kiện là một vấn đề tương đối phức tạp, dễ gây nhầm lẫn

về mặt thuật ngữ nhưng không trùng lặp về bản chất giữa tặng cho tài sản có điều kiện và giao dịch dân sự có điều kiện Bên cạnh quy định riêng về tặng cho tài sản có điều kiện được quy định riêng tại Điều 462 BLDS năm 2015 thì Hợp đồng tặng cho tài sản có điều

kiện cũng giống như tất cả các hợp đồng khác tồn tại “hợp đồng tặng cho tài sản là một giao dịch dân sự có điều kiện” Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là một giao dịch

dân sự có điều kiện là trường hợp bên tặng cho và bên được tặng cho thỏa thuận về điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện mà không phải là

2 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 8

điều kiện tặng cho do bên được tặng cho thực hiện để được nhận tài sản.

2 Những đặc điểm cơ bản về hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Từ những quy định này có thể rút ra một số những đặc điểm cơ bản về hợp đồng tặng cho có điều kiện như sau:

2.1 Khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện được hiểu là hợp đồng tặng cho tài sản mà trong đó bên tặng cho tài sản có thể yêu cầu bên nhận tặng cho tài sản thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nhất định tại thời điểm trước hoặc sau khi tặng cho

2.2 Chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Chủ thể của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Khác với hợp đồng tặng cho tài sản, chủ thể của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện phải là chủ thể có năng lực pháp luật dân sự và có năng lực hành vi dân sự Năng lực

pháp luật dân sự của cá nhân là “khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là “khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” 4 Còn năng lực pháp luật dân sự của

pháp nhân được hiểu là “khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” 5

2.3 Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là động sản, bất động sản theo quy định của pháp luật Động sản ở đây có thể là tiền, trái phiếu, thóc gạo, hoa quả, máy móc, trang thiết bị,… Còn bất động sản là đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng hay tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng

2.4 Điều kiện tặng cho tài sản

Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không được làm thay đổi tính chất không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự đổi mới, linh hoạt trong việc sử dụng cụm từ “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” thay vì việc sử dụng cụm từ “mục đích và nội dung không trái pháp luật” như trong Bộ luật Dân sự năm 1995 hay cụm từ

“mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái

3 Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015;

4 Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015;

5 Khoản 1 Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 9

đạo đức xã hội” như Bộ luật Dân sự năm 2005 Điều này đã đảm bảo được quyền tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể hơn vì vi phạm luật có phạm vi hẹp hơn nhiều so với vi phạm pháp luật

Việc thực hiện điều kiện tặng cho tài sản có thể tiến hành trước hoặc sau khi tặng cho tài sản Thời điểm thực hiện điều kiện tặng cho sẽ phụ thuộc vào sự thống nhất ý chí giữa bên tặng cho và bên nhận tặng cho

2.5 Đặc điểm pháp lý

Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng có tính song vụ Theo đó, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ nhất định trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho Bên nhận tặng cho chỉ nhận được tài sản khi đã thực hiện điều kiện tặng cho mà bên tặng cho yêu cầu

Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều điều kiện trước hoặc sau khi tặng cho Như vậy, xét dưới góc độ quan hệ quyền và nghĩa vụ, bên tặng cho có quyền yêu cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện đã thỏa thuận Tương ứng với quyền của bên tặng cho, bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện tặng cho

Do đó, việc thực hiện điều kiện tặng cho được xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho Điều này cũng được minh chứng qua quy định tại khoản 1 Điều 462 BLDS năm

2015: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa

vụ trước hoặc sau khi tặng cho”.

Ngoài ra, xét theo khía cạnh quan hệ nghĩa vụ, quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của phía bên kia Theo đó, nếu bên tặng cho và bên được tặng cho đã thỏa thuận và thống nhất về điều kiện tặng cho thì bên tặng cho có quyền yêu cầu bên được tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ và tương ứng với quyền này là nghĩa vụ thực hiện điều kiện của bên tặng cho Sẽ không hợp lý nếu bên tặng cho đã chuyển giao tài sản tặng cho nhưng lại không được quyền yêu cầu bên được tặng cho phải thực hiện điều kiện tặng cho

Bên tặng cho tài sản và bên nhận tặng cho tài sản phải hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Nếu một trong hai bên bị đe dọa, ép buộc hay không tự nguyện khi thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện thì hợp đồng này bị

vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Ví dụ: Cha mẹ tặng cho con cái nhà đất với điều kiện con cái chăm sóc, hiếu thảo

bố mẹ khi bố mẹ già yếu; Bác tặng cho cháu toàn bộ 2000 mét vuông đất và 3 tỷ đồng với điều kiện người cháu phải chăm lo việc hương hỏa cho gia đình người bác khi người bác định cư ở nước ngoài Xét đến cùng, để thực hiện các điều kiện như chăm sóc, nuôi

dưỡng, hương hỏa thì người được tặng cho phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định và người được thụ hưởng các lợi ích này chính là bên được tặng cho Nhưng xét về tương

Trang 10

quan giá trị, các lợi ích mà bên tặng cho nhận được là rất nhỏ, không đáng kể và không mang tính chất đền bù tương đương so với giá trị tài sản tặng cho mà bên được tặng cho nhận được Do đó, nếu bác bỏ các điều kiện này và nhận định các điều kiện này làm thay đổi tính chất không có đền bù của hợp đồng tặng cho tài sản là hoàn toàn không phù hợp Hơn thế nữa, tất cả các hợp đồng tặng cho tài sản kèm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, hương hỏa được xác lập trên thực tế hiện nay mà phát sinh tranh chấp và đã được giải quyết tại tòa án thì tất cả các tòa đều mặc nhiên thừa nhận các điều kiện này và xác định đây là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Sẽ không hợp đạo đức và thiếu tính thuyết phục nếu không thừa nhận các điều kiện chính đáng như được chăm sóc, được nuôi dưỡng, được chăm lo hương hỏa sau khi chết của người tặng cho tài sản

2.6 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ về thời điểm có hiệu lực của hợp động tặng cho tài sản có điều kiện Trên thực tế, cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn

đề này Tuy nhiên, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện cũng là một loại hợp đồng tặng cho tài sản Do đó, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện cũng phải đáp ứng các quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho Cụ thể, Theo quy định tại khoản 1 Điều 458 và khoản 2 Điều 459 BLDS năm 2015:

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài

sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác ;

Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản nếu

bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu.

Đối với trường hợp tài sản tặng cho là bất động sản thì “phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền

sở hữu theo quy định của luật Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho

có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản” 6 Đây mới là điều kiện cần để hợp đồng

tặng cho có điều kiện có hiệu lực Thêm vào đó, để hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

có hiệu lực thì các bên phải đáp ứng điều kiện đủ nữa Điều kiện đủ ở đây chính là việc các bên hoàn thành điều kiện tặng cho tài sản

Về hậu quả pháp lý khi các bên không thực hiện đúng hợp đồng tặng cho:

Trường hợp nghĩa vụ, công việc phải được thực hiện trước và đã hoàn thành nhưng bên tặng cho không giao tài sản tặng cho: Lúc này bên được tặng cho không thể nói là bên tặng cho vi phạm hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại cho mình bởi hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực Trường hợp này, pháp luật chỉ yêu cầu bên tặng cho phải thanh toán chi phí thực hiện nghĩa vụ cho bên được tặng cho Đến đây, hợp đồng tặng cho ban

6 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngày đăng: 28/09/2022, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w