1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG_Trước khi kết hôn, anh A, chị B đã lập văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng. Ngay sau khi kết hôn, họ muốn hủy bỏ văn bản này.

19 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo kết thúc học phần công chứng trước khi kết hôn, anh A, chị B đã lập văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng. Ngay sau khi kết hôn, họ muốn hủy bỏ văn bản này.
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình
Thể loại Báo cáo học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 39,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN (Công chứng các văn bản liên quan đến hôn nhân và gia đình, công chứng các văn bản liên quan đến thừa kế) Chuyên đề: Trước khi kết hôn, anh A, chị B đã lập Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng. Ngay sau khi kết hôn, họ muốn hủy bỏ văn bản này. Là công chứng viên, anh (chị) có chấp nhận giải quyết yêu cầu hủy bỏ văn bản thỏa thuận của họ không? Đồng thời, hãy nêu những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng? HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN (Công chứng các văn bản liên quan đến hôn nhân và gia đình, công chứng các văn bản liên quan đến thừa kế).

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC

-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN (Công chứng các văn bản liên quan đến hôn nhân và gia đình, công chứng các văn

bản liên quan đến thừa kế)

Chuyên đề : Trước khi kết hôn, anh A, chị B đã lập Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ

tài sản của vợ chồng Ngay sau khi kết hôn, họ muốn hủy bỏ văn bản này Là công chứng viên, anh (chị) có chấp nhận giải quyết yêu cầu hủy bỏ văn bản thỏa thuận của họ không? Đồng thời, hãy nêu những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng?

Họ và tên : -Sinh ngày :

-Số báo danh -Lớp : 24.2 thành phố Hồ Chí Minh

-, ngày -tháng - năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu: 2

3 Cơ cấu bài báo cáo 2

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản theo thỏa thuận 3

1.1 Khái niệm về chế độ tài sản theo thỏa thuận 3

1.2 Quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 3

1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận 8

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận 10

2.1 Những mặt đạt được 10

2.2 Những mặt hạn chế 10

2.3 Tình huống đề tài 11

Chương 3: Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về thỏa thuận chế độ tài sản và một số kiến nghị - đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận chế độ tài sản 14

3.1 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài sản 14

3.2 Một số kiến nghị - đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận 14

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kết hôn được hiểu là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Kết hôn dẫn đến hình thành nhiều mối quan hệ đặc thù như con cái, cấp dưỡng, quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên,… trong đó mối quan hệ về tài sản được coi là một trong những mối quan hệ phức tạp nhất Như một sự tất yếu, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung và thực hiện quan hệ tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình Thông thường các tài sản sau khi kết hôn thường được coi là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên pháp luật quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận chế độ tài sản của mình trước khi kết hôn Như vậy, việc thỏa thuận chế độ tài sản được thực hiện như nào, phạm vi thỏa thuận tới đâu? Theo quy định của pháp luật hiện nay, chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định

Ở nhiều nước trên thế giới, chế độ tài sản đặc biệt là chế độ tài sản theo thỏa thuận đều đã phổ biến từ rất lâu và đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật cụ thể như Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ,… Ở Việt Nam, cũng có sự thay đổi về các quy định về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng qua từng thời kỳ Việc ghi nhận chế độ tài sản này được coi là một điểm mới rất tiến bộ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn hiện nay

Ngoài Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, pháp luật Việt Nam hiện hành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh về chế độ tài sản theo thỏa thuận nhằm đảm bảo tối đa quyền, lợi ích và thể hiện sự tôn trọng đối với sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, qua một thời gian dài áp dụng, một số quy định về chế độ tài sản theo thỏa thuận đã dần bộc lộ những bất cập đòi hỏi cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời

Xuất phát từ những lý do trên, Học viện tư pháp đã ra đề thi: “Trước khi kết hôn, anh A, chị B đã lập Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng Ngay sau khi kết hôn, họ muốn hủy bỏ văn bản này Là công chứng viên, anh (chị) có chấp nhận giải quyết yêu cầu hủy bỏ văn bản thỏa thuận của họ không? Đồng thời, hãy nêu những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết yêu cầu công chứng Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng? ” để hoàn thành bài báo cáo chuyên đề kết thúc

môn học Công chứng các văn bản liên quan đến hôn nhân và gia đình, công chứng các văn bản liên quan đến thừa kế của mình Bài báo cáo chuyên đề đã trình bày một số những vấn đề lý luận chung nhất về chế độ tài sản theo thỏa thuận, phân tích thực tiễn áp

Trang 4

dụng các quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu:

Mục đích: Với tinh thần nghiên cứu, học hỏi một cách nghiêm túc, trong đề tài này, bản thân em muốn phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật về Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó mong muốn có một cách nhìn toàn diện hơn về chế độ tài sản của vợ chồng trong thời đại hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên bài báo cáo có nhiệm vụ: Làm rõ quy định của pháp luật về Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng; Đánh giá thực tiễn

áp dụng pháp luật; Đưa ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp, kiến nghị…

Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là vVăn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, , tập trung vào một số nội dung chủ yếu: khái niệm, đặc điểm ý nghĩa của Văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, từ thực tiễn áp dụng những mặt đạt được và hạn chế để từ đó rút ra được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp

3 Cơ cấu bài báo cáo

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục bài báo cáo chuyên đề gồm có 03 chương với các nội dung chính như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản theo thỏa thuận

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận

Trang 5

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản theo thỏa thuận

1.1 Khái niệm về chế độ tài sản theo thỏa thuận

Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng được ghi nhận bắt đầu

từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, cụ thể: “đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có

trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” 1 Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản riêng của vợ chồng còn bao

gồm tài sản được phân chia từ tài sản chung của vợ chồng, đồ dùng, tư trang cá nhân Các quy định về tài sản riêng được hoàn thiện hơn ở Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

“Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.” 2 Đặc biệt, ngoài việc làm rõ hơn các vấn đề về tài sản riêng, Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng ghi nhận về chế độ tài sản của vợ chồng “vợ chồng

có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”.3

Chế độ tài sản theo thỏa thuận được ghi nhận từ Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 nhưng đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa thế nào là chế độ tài sản theo thỏa thuận Tuy nhiên, qua thực tiễn có thể hiểu, chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng tự thỏa thuận về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau trên nguyên tắc tự do, tự nguyện Thỏa thuận này được thể hiện dưới dạng văn bản: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân

1.2 Quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Về thời điểm xác lập thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng

Thỏa thuận về chế độ tài sản phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn

1 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;

2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

3 Khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Trang 6

Về hình thức của thỏa thuận

Chế độ tài sản theo thỏa thuận có thể được gọi là hợp đồng hay thỏa thuận Tuy nhiên điểm chung của tất cả các tên gọi trên là phải được lập thành văn bản, có chữ ký của hai bên Thỏa thuận này phải được lập bằng văn bản trước mặt công chứng viên cùng với

sự có mặt của cả hai bên hoặc người được ủy quyền Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo tính chặt chẽ của thỏa thuận và kiểm soát được tính tự nguyện của các thỏa thuận, tránh các tranh chấp phát sinh

Về nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận: Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch

có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; d) Nội dung khác có liên quan.

Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được

vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng các Điều 29, 30,

31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định”.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã quy định

về những nội dung cơ bản phải có trong thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng:

Thứ nhất, những tài sản nào được xác định là tài sản chung và tài sản riêng Về vấn

đề này, vợ chồng cần làm rõ và chứng minh được đâu là tài sản chung và đâu là tài sản riêng Hoặc hai bên có thể tiến hành thỏa thuận với nhau như sau:

- Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

- Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

- Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng

Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề xác định tài sản của vợ chồng trong nội dung thỏa thuận, khoản 1 Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP đã quy định như sau:

“1 Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây: a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

Trang 7

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng

có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng”.

Như vậy, khi xác định về trong nội dung thỏa thuận, vợ, chồng có thể xác định theo các nội dung sau: nếu giữa vợ và chồng có tài sản thì tài sản của vợ, chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng; giữa vợ và chồng không có tài sản riêng (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung); giữa vợ và chồng không có tài sản chung (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản riêng); hoặc được xác định theo thỏa thuận khác của vợ, chồng (ví dụ xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung)

Đối với các trường hợp thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Thứ hai, cần phải đáp ứng các nguyên tắc chung 4về chế độ tài sản của vợ chồng:

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập

- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường

Thứ ba, đối với thỏa thuận hoặc giao dịch về tài sản là nhà ở duy nhất của vợ và chồng thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến loại tài sản này cần phải có sự thỏa thuận của vợ và chồng Trong trường hợp nhà ở duy nhất này là tài

4 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 8

sản riêng của vợ hoặc chồng thì người có quyền sở hữu tài sản này có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho người còn lại5

Thứ tư, đối với các giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng quy định trong giao dịch với người thứ

ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó; trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định

về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.6

Thứ năm, đối với những nội dung chưa được ghi nhận trong thỏa thuận về tài sản của vợ chồng hoặc có quy định nhưng chưa rõ ràng thì sẽ được giải quyết theo nguyên tắc chung và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định

Về việc thay đổi, sửa đổi, bổ sung thỏa thuận

Thỏa thuận của vợ chồng chỉ có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện về hình thức và nội dung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng sẽ phát sinh nhiều vấn đề mà vợ chồng muốn thỏa thuận lại nội dung trong thỏa thuận trên Vì vậy, để đảm bảo được quyền, lợi ích của vợ chồng cũng như bên thứ ba, pháp luật Việt Nam cũng quy định các quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận chế độ tài sản theo quy định tại Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 17 Nghị định 126/2014/NĐ-CP Theo đó, trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật

Như vậy, có thể thấy quy định về việc thay đổi chế độ tài sản của pháp luật Việt Nam có sự linh hoạt và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cặp vợ chồng

Sau khi hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung thỏa thuận trên thì thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin

5 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

6 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Trang 9

liên quan theo quy định cả pháp luật Đối với các quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Thỏa thuận chế độ tài sản bị vô hiệu

Để làm rõ các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản bị vô hiệu Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ

chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần a) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng b) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn có liên quan, thoả thuận chế độ tài sản giữa vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân

sự và các luật khác có liên quan Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Thêm vào

đó, hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực theo quy định của pháp luật

- Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 Thỏa thuận về chế độ tài sản phải đảm bảo các nguyên tắc chung của chế độ tài sản của vợ chồng cũng như đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của gia đình và đảm bảo quyền và lợi ích của người thứ ba khi tham gia giao dịch

- Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình Theo đó, người nào có hành nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cha, mẹ; con cái hoặc anh chị em, ông bà nội ngoại, cô, dì, chú, bác ruột hoặc giữa vợ và chồng sau khi ly hôn,… thì thỏa thuận về chế độ tài sản sẽ bị tuyên vô hiệu

Tóm lại, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng xét về bản chất là một giao dịch dân sự có sự tham gia của hai bên trong giao dịch Theo quy định của Luật Dân sự, Giao

Trang 10

dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Với quy định trên, pháp luật tạo điều kiện cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận định đoạt tài sản của mình nhưng vẫn phải đảm bảo các nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng phải gánh chịu với người thứ ba và các thành viên trong gia đình Quy định này cũng góp phần ngăn chặn những thỏa thuận được vợ chồng xác lập nhằm mục đích không lành mạnh, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan; góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng được pháp luật công nhận của cha, mẹ, con và của các thành viên khác trong gia đình

Về cung cấp thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong giao dịch với người thứ ba

Khi tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản có liên quan trong văn bản thỏa thuận chế độ tài sản thì vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự

1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận

Việc áp dụng chế tài hủy hợp đồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng Cụ thể như sau:

Thứ nhất, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đảm bảo quyền tự do định

đoạt của công dân đối với tài sản của mình Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 32) và Bộ luật Dân sự năm

2015 (Điều 160)

Thứ hai, thỏa thuận về chế độ tài sản tạo điều kiện xác định được các loại tài sản

trong quan hệ giữa vợ chồng và xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên của đối với tài sản đó Từ đó, cho phép vợ chồng tự quyết định đối với từng loại tài sản trong gia đình, thúc đẩy hai bên tự giác thực hiện các nghĩa vụ và quyền đã thỏa thuận, giúp họ giảm thiểu được các tranh chấp phát sinh trong gia đình và rủi ro khi tham gia các hoạt động kinh doanh, đầu tư

Thứ ba, tạo cơ ở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng

hoặc với những người khác, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ chồng hoặc với người thứ ba tham gia vào giao dịch liên quan đến tài sản vợ chồng

Ngày đăng: 28/09/2022, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w