CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Cơ sở lí luận Trong chiến lược phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ nhiệm vụ của Giáo dục và đào tạo của là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nhiệm vụ này đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước như: Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nguồn nhân tài cho đất nước được các nhà trường đặc biệt quan tâm và mọi giáo viên đều có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi”. Công tác giáo dục nói chung, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường Trung học phổ thông trong cả nước. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác động tích cực đến quá trình dạy và học, tạo động lực, làm nòng cốt trong phong trào thi đua dạy tốt học tốt. Khơi dậy ý chí vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức và góp phần giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh, hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Như vây, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề cần thiết và cấp bách, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hội nhập đất nước hiện nay. Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và bộ môn Giáo dục công dân nói riêng còn gặp rất nhiều bất cập và khó khăn như: Học sinh chưa thực sự hứng thú với môn học, các em còn bị chi phối bởi định hướng nghề nghiệp nên chưa thực sự thu hút được nhiều những học sinh giỏi vào đội tuyển, phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa có tài liệu đi sâu nghiên cứu vấn đề này, giáo viên chỉ làm theo kinh nghiệm mà chưa tìm ra hướng đi cụ thể công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân Từ những băn khoăn trên, và bằng thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm tại trường Trung học phổ thông 19 5 Kim Bôi, bản thân tôi đã luôn quan tâm, tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi đã đạt được nhiều thành tích, khẳng định được vị thế của nhà trường, góp phần không nhỏ vào thành tích chung của nhà trường. Xuất phát từ lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi chuyên đề: Công dân với pháp luật” 2. Mục tiêu đạt được của sáng kiến Bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc Trung học phổ thông nhằm phát huy hết khả năng phát triển “tiềm tàng” của học sinh, thực hiện chiến lược “bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”. Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân ở Trường Trung học phổ thông, đặc biệt là việc bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi cho học sinh lớp 12, để lấy chọn học sinh tham gia bồi dưỡng và dự thi học sinh giỏi cấp Tỉnh đạt kết quả cao. CHƯƠNG II MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Vấn đề của sáng kiến Môn Giáo dục công dân cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, năng lực cho học sinh; trang bị cho học sinh về thế giới quan và nhân sinh quan khoa học; trực tiếp hình thành niềm tin, lý tưởng, đạo đức, ý thức pháp luật cho thế hệ công dân của đất nước. Môn học còn góp phần đào tạo học sinh thành những người lao động mới, góp phần hình thành phẩm chất tích cực của người công dân tương lai. Tuy nhiên, công tác thành lập và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục công dân còn nhiều khó khăn. Bởi vì lâu nay trong quan niệm của không ít phụ huynh và học sinh thì môn Giáo dục công dân vẫn bị coi là “môn phụ”, nên hầu như học sinh không có sự đầu tư cho môn học này. Thực tế đã có em tham gia đội tuyển nhưng rồi lại xin ra khỏi đội vì mục đích cuối cùng các em là muốn đầu tư chủ yếu vào các môn: Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa để hình thành khối thi, để sau này các em thi đỗ đại học nên không nhiệt tình và thậm chí không muốn dự thi đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục công dân. Chính thực tế trên đã không những làm giảm lòng nhiệt tình, tâm huyết và sự đam mê của giáo viên dạy Giáo dục công dân nói chung và giáo viên bồi dưỡng đội tuyển nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, sự tự tin của học sinh tham gia đội tuyển. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Ban giám hiệu và các đoàn thể trong nhà, các bậc phụ huynh và học sinh và thầy cô giáo cùng bộ môn ở các trường trong tỉnh đều nhiệt tình tích cực trao đổi phương pháp, kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo, chuyên đề, thao giảng, sử dụng công nghệ thông tin…góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục công dân. Vì vậy, để học sinh yêu thích bộ môn, hứng thú học và tham gia học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi đi thi đạt kết quả cao, tôi không ngừng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tư liệu, phát huy tác dụng của đồ dùng học tập,… để lựa chọn ra những phương pháp bồi dưỡng phù hợp nhất đối với bộ môn Giáo dục công dân. Với những nội dung, giải pháp được đề cập thì sáng kiến có ưu và nhược điểm sau: Ưu điểm: Đạt được các mục tiêu đã đặt ra khi thực hiện sáng kiến, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hiệu quả, đáp ứng yêu cầu kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh Hạn chế: Tuy nhiên để áp dụng sáng kiến hiệu quả thì giáo viên đầu tư nhiều tâm sức hơn trong quá trình giảng dạy. Mặc dù có những hạn chế nhưng sáng kiến sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với cách hướng dẫn học sinh ghi nhớ máy móc của phương pháp truyền thống. Kết quả cụ thể xin được trình bày rõ hơn trong phần khả năng áp dụng, hiệu quả của sáng kiến. 2. Giải pháp sáng kiến 2.1. Cách Phát hiện và chọn chọn học sinh giỏi
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1 Cơ sở lí luận
Trong "chiến lược phát triển con người", Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ
nhiệm vụ của Giáo dục và đào tạo của là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài”, nhiệm vụ này đã được cụ thể hoá trong các văn kiện củaĐảng và Nhà nước như: Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Việc bồi dưỡnghọc sinh giỏi là nguồn nhân tài cho đất nước được các nhà trường đặc biệt quantâm và mọi giáo viên đều có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi”
Công tác giáo dục nói chung, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nóiriêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường Trung học phổthông trong cả nước Việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác động tích cực đến quátrình dạy và học, tạo động lực, làm nòng cốt trong phong trào thi đua dạy tốt -học tốt Khơi dậy ý chí vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức và góp phần giáodục nhân cách toàn diện cho học sinh, hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dụcnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Như vây,đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề cần thiết và cấp bách, đáp ứng yêu cầucủa công cuộc đổi mới hội nhập đất nước hiện nay
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và bộ môn Giáo dụccông dân nói riêng còn gặp rất nhiều bất cập và khó khăn như: Học sinh chưa thực
sự hứng thú với môn học, các em còn bị chi phối bởi định hướng nghề nghiệp nênchưa thực sự thu hút được nhiều những học sinh giỏi vào đội tuyển, phương phápgiảng dạy còn hạn chế, chưa có tài liệu đi sâu nghiên cứu vấn đề này, giáo viên chỉlàm theo kinh nghiệm mà chưa tìm ra hướng đi cụ thể công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi môn Giáo dục công dân
Từ những băn khoăn trên, và bằng thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinhgiỏi trong những năm tại trường Trung học phổ thông 19- 5 Kim Bôi, bản thân tôi
đã luôn quan tâm, tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra phương pháp bồi dưỡng học sinhgiỏi đã đạt được nhiều thành tích, khẳng định được vị thế của nhà trường, gópphần không nhỏ vào thành tích chung của nhà trường
Trang 2Xuất phát từ lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi chuyên đề: Công dân với pháp luật”
2 Mục tiêu đạt được của sáng kiến
Bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc Trung học phổ thông nhằm phát huy hếtkhả năng phát triển “tiềm tàng” của học sinh, thực hiện chiến lược “bồi dưỡngnhân tài cho đất nước”
Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy bộ môn Giáo dục côngdân ở Trường Trung học phổ thông, đặc biệt là việc bồi dưỡng đội ngũ học sinhgiỏi cho học sinh lớp 12, để lấy chọn học sinh tham gia bồi dưỡng và dự thi họcsinh giỏi cấp Tỉnh đạt kết quả cao
Trang 3lý tưởng, đạo đức, ý thức pháp luật cho thế hệ công dân của đất nước Môn họccòn góp phần đào tạo học sinh thành những người lao động mới, góp phần hìnhthành phẩm chất tích cực của người công dân tương lai.
Tuy nhiên, công tác thành lập và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi mônGiáo dục công dân còn nhiều khó khăn Bởi vì lâu nay trong quan niệm củakhông ít phụ huynh và học sinh thì môn Giáo dục công dân vẫn bị coi là “mônphụ”, nên hầu như học sinh không có sự đầu tư cho môn học này Thực tế đã có
em tham gia đội tuyển nhưng rồi lại xin ra khỏi đội vì mục đích cuối cùng các
em là muốn đầu tư chủ yếu vào các môn: Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử,Địa để hình thành khối thi, để sau này các em thi đỗ đại học nên không nhiệttình và thậm chí không muốn dự thi đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục côngdân Chính thực tế trên đã không những làm giảm lòng nhiệt tình, tâm huyết và
sự đam mê của giáo viên dạy Giáo dục công dân nói chung và giáo viên bồidưỡng đội tuyển nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, sự tự tin củahọc sinh tham gia đội tuyển
Những năm gần đây, được sự quan tâm của Ban giám hiệu và các đoànthể trong nhà, các bậc phụ huynh và học sinh và thầy cô giáo cùng bộ môn ở cáctrường trong tỉnh đều nhiệt tình tích cực trao đổi phương pháp, kinh nghiệmchuyên môn, thông qua hội thảo, chuyên đề, thao giảng, sử dụng công nghệthông tin…góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dụccông dân
Vì vậy, để học sinh yêu thích bộ môn, hứng thú học và tham gia học lớpbồi dưỡng học sinh giỏi đi thi đạt kết quả cao, tôi không ngừng học hỏi, tìm tòi,
Trang 4nghiên cứu tư liệu, phát huy tác dụng của đồ dùng học tập,… để lựa chọn ranhững phương pháp bồi dưỡng phù hợp nhất đối với bộ môn Giáo dục công dân.
Với những nội dung, giải pháp được đề cập thì sáng kiến có ưu và nhượcđiểm sau:
* Ưu điểm: Đạt được các mục tiêu đã đặt ra khi thực hiện sáng kiến, công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi hiệu quả, đáp ứng yêu cầu kỳ thi chọn học sinh giỏicấp Tỉnh
* Hạn chế: Tuy nhiên để áp dụng sáng kiến hiệu quả thì giáo viên đầu tư
nhiều tâm sức hơn trong quá trình giảng dạy
Mặc dù có những hạn chế nhưng sáng kiến sẽ mang lại hiệu quả cao hơn
so với cách hướng dẫn học sinh ghi nhớ máy móc của phương pháp truyềnthống Kết quả cụ thể xin được trình bày rõ hơn trong phần khả năng áp dụng,hiệu quả của sáng kiến
2 Giải pháp sáng kiến
2.1 Cách Phát hiện và chọn chọn học sinh giỏi
Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khâu đầu tiên là khâu phát hiện và
tuyển chọn học sinh, khâu này quan trọng chẳng khác gì khâu “chọn giống của nhà nông".
Đối với môn Giáo dục công dân việc chọn học sinh giỏi là điều không dễdàng, bởi vì những em có tố chất thông minh, học lực khá - giỏi thường đăng kývào đội tuyển các môn học theo khối như: Toán, Lý, Hoá, Văn, Ngoại ngữ… rồicuối cùng mới đến Giáo dục công dân Vì vậy, giáo viên dạy đội tuyển mônGiáo dục công dân phải là người truyền được “lửa” cho học sinh Tức là phảikhơi dậy ở các em sự yêu thích môn học, niềm tin và lòng say mê để các em tựgiác tham gia với động cơ đúng đắn và có quyết tâm thi đạt kết quả cao Để làmđược điều này, theo tôi giáo viên vừa đóng vai trò là người thầy đồng thời cũng
là người bạn lớn của các em, để phân tích và chỉ ra cho các em thấy được nhữnglợi thế khi tham gia đội tuyển học sinh giỏi, tự tin khẳng định với các em khitham gia đội tuyển chỉ cần các em chăm chỉ là sẽ có giải, nếu cố gắng các em sẽ
có giải cao và sẽ được cộng điểm ưu tiên khi xét tốt nghiệp và thi đại học Phân
Trang 5tích cho các em niềm tự hào, vinh dự khi đạt giải môn thi cấp Tỉnh - đó là sự ghinhận sự cố gắng và kết quả mà các em đã đạt được Có thể nói, đó chính lànhững bước đi giúp các em đến với đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục côngdân.
Để nhận biết được học sinh giỏi Giáo dục công dân thông qua những dấu hiệu sau:
- Học sinh có trí nhớ bền vững, có khả năng trình bày bài, có khả năngphát triển vấn đề cách lập luận tốt
- Học sinh thường tìm hiểu kiến thức, kĩ năng cơ bản tốt hơn, nhanh hơn
Họ giải quyết các vấn đề, các tình huống một cách có tổ chức và rất hiệu quả
- Học sinh giỏi thường có động cơ học tập bền vững Đó là khi học sinhthực sự muốn học hỏi, muốn tìm hiểu và khám phá Học sinh thường khôngbằng lòng nếu chưa thực sự thỏa mãn được sự tò mò của bản thân
- Khi học sẽ cố gắng khai thác trọn vẹn kiến thức, đặt câu hỏi để đào sâuvấn đề và hay giơ tay phát biểu để bày tỏ ý kiến riêng của mình
- Biết kiên nhẫn và kiên trì trong quá trình học tập, sáng tạo, không nảnchí khi gặp phải vấn đề khó khăn
- Kết quả học tập là cái được thể hiện sau quá trình học tập của học sinh.Kết quả học tập tuy chưa thể phản ánh tuyệt đối chính xác về năng lực củahọc sinh, nhưng nó cũng thể hiện được tương đối khả năng mà học sinh cóđược
- Có khả năng đánh giá, nhận định về những thông tin có liên quan đếnlĩnh vực mà học sinh tìm hiểu
Để chọn học sinh giỏi tham gia vào ôn tập giáo viên cần kết hợp mềm dẻo các cách sau đây:
- Cách 1: Tìm hiểu học sinh đã có kinh nghiệm ôn tập bộ môn, đặc biệt là
những học sinh đã tham dự và đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi ở cấpTrung học cơ sở
- Cách 2: Khảo sát, đánh giá, lựa chọn học sinh trong quá trình giảng dạy.
Qua phát vấn học sinh trên lớp, qua bài kiểm tra tự luận thường xuyên và định
Trang 6kỳ, thi học sinh giỏi cấp trường.
- Cách 3: Động viên khích lệ học sinh tham gia ôn tập đội tuyển học sinh
giỏi theo khả năng Bồi dưỡng niềm tin cho học sinh khi tham gia bộ môn
- Cách 4: Khảo sát nguyện vọng của học sinh Giáo viên cho học sinh tự
nguyện đăng ký tham gia ôn tập bộ môn Để tránh lãng phí về tâm sức bồidưỡng học sinh, tránh đối tượng tham gia quá yếu, khó bồi dưỡng thì giáo viêncần phổ biến cho học sinh biết các tiêu chí cụ thể khi đăng ký tham gia bộ mônnhư : học lực bộ môn phải từ 7.5 trở lên, nhiệt tình, có ý chí, có khả năng tự họchỏi, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao và tự nguyện tham gia
Sau khi tuyển chọn được học sinh tham gia công tác bồi dưỡng thì giáoviên cần thông báo lộ trình, kế hoạch bồi dưỡng để học sinh sẵn sàng về tâm lý,chủ động trong thời gian biểu của mình cho hợp lý để học tập có hiệu quả caonhất
2.2 Xây dựng nội dung chuyên đề
Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường
Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá- giỏi, trung bình vàyếu kém) Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi dự thi Đốitượng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức Vì vậy, việc xâydựng nội dung chương trình là hết sức cần thiết Đây là công việc quan trọngđầu tiên sau khi thành lập đội tuyển Tôi xây dựng chương trình – kế hoạch bồi
dưỡng theo từng chuyên đề Trong đó có chuyên đề : “Công dân với pháp luật” Chuyên đề với những nội dung chính sau:
- Bài 1: Pháp luật và đời sống
- Bài 2: Thực hiện pháp luật
- Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật
- Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đờisống xã hội
- Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo
- Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản
Trang 72.3 Phương pháp bồi dưỡng
2.3.1 Cung cấp kiến thức chuyên đề
Trong chương trình sách giáo khoa môn Giáo dục công dân ở trườngTrung học phổ nhằm mục đích cung cấp kiến thức cơ bản, chưa đi vào chiềusâu Đối với học sinh giỏi yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc và toàn diện Các emphải nắm chắc bản chất của vấn đề, biết phân tích, chứng minh, so sánh và vậndụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn,… để có đủ tự tin, có
sự sáng tạo khi giải quyết bất kì đề thi nào
Một việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và giớithiệu những tài liệu đảm bảo chất lượng cho các em Thị trường sách hiện naykhá phong phú, hay dở đan xen, nhưng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn,nên tôi thường chọn và mua hoặc phô tô cho học sinh các sách như: Bài tậppháp luật, Tình huống pháp luật, các văn bản luật có liên quan, Tài liệu ôn thihọc sinh giỏi môn Giáo dục công dân …để làm tư liệu tham khảo
Trong chương trình bồi dưỡng, tôi kết hợp dạy kĩ hệ thống kiến thức cơbản theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bằng việc lựa chọn những nội dung kiến thứctrọng tâm cho các em rồi tiến hành mở rộng kiến thức bằng cho các em bằng các
dạng bài tập tình huống Đặc trưng của chuyên đề “Công dân với pháp luật” là
có rất nhiều câu hỏi tình huống, vì vậy khi ôn tập chuyên đề giáo viên tập trungnhiều vào việc hướng dẫn học sinh làm các bài tập tình huống
Ví dụ: Khi ôn Bài 2 : “Thực hiện pháp luật” tôi cho học sinh xử lí nhiều
tình huống như sau:
Tình huống 1: H (22 tuổi) bị tâm thần từ nhỏ Trong một lần phát bệnh,
H đã đánh gãy tay em Q ở gần nhà gây tổn hại sức khỏe 30% cho em
Hỏi: hành vi của H có phải là vi phạm pháp luật hình sự không?
Tình huống 2: K đi xe máy phóng nhanh, vượt ẩu nên đâm vào anh C đi
ngược chiều Hậu quả là anh C bị chấn thương, tổn hại sức khỏe của anh là 31%;chiếc xe máy của anh C bị vỡ nhiều bộ phận do tác động của va chạm
Hỏi, trong trường hợp này, K phải chịu những loại trách nhiệm pháp lý nào?
Tình huống 3: An đi xe máy vượt đèn đỏ ở ngã tư đường phố và đâm vào
Trang 8xe máy của Bình đang đi từ phía có tín hiệu đèn xanh, xe máy của Bình hư hỏngnặng, còn An chỉ bị xây xát nhẹ An đã nhận ra lỗi thược về mình và đền bù thiệthại cho Bình một số tiền mà Bình yêu cầu Thế nhưng, sau khi hai bên cùngnhau giải quyết bồi thường thiệt hại thì An còn bị cảnh sát giao thông phạt tiền
vì hành vi vượt đèn đỏ An cho rằng mình đã đền bù cho Bình là được rồi, cònviệc cảnh sát giao thông phạt tiền là không đúng pháp luật
Hỏi: theo em ý kiến của An là đúng hay sai khi bị cảnh sát giao thông phạttiền? Vì sao?
Bên cạnh đó giáo viên thường xuyên cập nhật các kiến thức pháp luậtmới, thông tin mới để minh hoạ cho bài dạy Các văn bản luật có liên quan nhưHiến pháp 2013, Bộ luật dân sự, luật Hôn nhân gia đình, luật bình đẳng giới, luậtkhiếu nại tố cáo, đều có thể cung cấp cho học sinh những dẫn chứng chính xác
khi vận dụng vào bài làm
Ví dụ, Khi dạy về Vi phạm dân sự, thì giáo viên cung cấp cho học sinh
các kiến thức mới của luật Dân sự 2015 như sau: (khoản 2 Điều 20); giao dịch
dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đóxác lập, thực hiện; người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được
tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đếnbất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định củaluật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý (khoản 4 Điều 21)
Đồng thời giáo viên đưa ra các dạng câu hỏi, bài tập thường gặp và địnhhướng trả lời
Ví dụ, Bài 1: Pháp luật và đời sống giáo viên cung cấp hệ thống các câu
hỏi như sau:
Câu 1 Pháp luật là gì? Tại sao nhà nước phải quản lí xã hội bằng pháp
luật? Muốn quản lý xã hội bằng pháp luật nhà nước cần phải làm gì?
Câu 2 Pháp luật có những đặc trưng nào? Điều lệ của Hội nông dân Việt
Nam có phải là văn bản pháp luật không, Vì sao?
Câu 3
Trang 9a) Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, nước ta đã cóbao nhiêu bản Hiến pháp? Đó là những bản Hiến pháp nào?
b) Em hãy sắp xếp các loại văn bản sau theo chiều giảm dần (từ 1 đến hết)của tính hiệu lực pháp lí:; Lệnh; Luật; Pháp lệnh; Nghị quyết của Hội đồng nhândân tỉnh, Hiến pháp
Câu 4 Pháp luật là gì? Vì sao mỗi công dân cần phải sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật?
Câu 5: Hãy chỉ ra được sự gống nhau, sự khác nhau( về nguồn gốc hình
thành, nội dung, hình thức thể hiện, phương thức tác động) giữa pháp luật vàđạo đức?
Câu 6 Sau khi học xong bài 1: Pháp luật và đời sống, học sinh A nói với
học sinh B:
- Giờ tớ mới biết pháp luật là do nhà nước ban hành Thế mà từ trước tớigiờ cứ thấy tivi phát nội dung: Quốc hội họp thông qua Luật … sửa đổi, tớ cứnghĩ chỉ có Quốc hội mới ban hành pháp luật
Học sinh B nói:
- Thì đúng Quốc hội là cơ quan lập pháp mà
Bằng hiểu biết của bản thân e hãy giải thích cho bạn A và B hiểu
Theo tôi, để một học sinh được tham gia dự thi môn Giáo dục công dâncấp tỉnh thì học sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Giáo dụccông dân – Kiến thức cơ bản ở đây không chỉ là những kiến thức đơn lẻ mà phảibao gồm hệ thống những hiểu biết cần thiết về pháp luật, thực hiện pháp luật vàquyền bình đẳng của công dân Vì vậy, khi nắm vững kiến thức học sinh mới cókhả năng ứng phó được với các loại câu hỏi, bài tập, từ đó giúp học sinh giảiquyết tốt các loại đề thi
2.3.2 Rèn luyện các kỹ năng
a Kỹ năng tìm hiểu tài liệu
Thời lượng ôn tập ở trên lớp ít, vì vậy việc hướng dẫn học sinh đọc tàiliệu khai thác kiến thức, tìm hiểu trước bài trong sách giáo khoa, rèn luyện kỹnăng tự học, tự nghiên cứu của học sinh là rất quan trọng và cần thiết
Trang 10Giáo viên cần căn cứ vào cơ sở pháp lý cụ thể như: Văn bản chỉ đạo
chuyên môn của ác cấp quản lý về thực hiện chương trình, nhiệm vụ năm học,thực hiện kế hoạch hoạt động để xác định được phạm vi kiến thức, kỹ năng của
bộ môn, nhấn mạnh nội dung trọng tâm Việc làm này giúp học sinh có cái nhìnkhái quát về công tác bồi dưỡng từ đó xác định được phương hướng, việc cầnphải làm khi tham gia bồi dưỡng
Hướng dẫn học sinh sưu tầm và cung cấp các tài liệu cần thiết cho mônhọc như: Sách giáo khoa, sách tham khảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các kênhthông tin( Truyền hình, internet )
Hướng dẫn học sinh cách phát hiện vấn đề, đề xuất các ý kiến thắc mắccần giải đáp
Để tìm hiểu tài liệu đạt hiệu quả học sinh cần phải:
Một là nắm tên đề bài, tên tiểu mục Nhiều học sinh học thuộc nội dung
nhưng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể “râu ông nọ cắm cằm bàkia”, nghĩa là lạc đề
Vậy trước khi học tiểu mục nào, nên nắm chắc tên tiểu mục ấy Chuyển
tiểu mục ấy thành câu hỏi Ví dụ như “ Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí” Học sinh sẽ tập trung vào các vấn đề như: “ Có mấy loại vi
phạm pháp luật? chủ thể? Độ tuổi? Trách nhiệm pháp lí? Ví dụ?” Như vậy kíchthích hứng thú học tập, hiểu sâu, nhớ lâu Đó là chủ động trong học tập
Hai là nắm dàn ý của cả bài hoặc của từng phần Trước khi học cả bài
hay từng phần nên nắm chắc cái dàn ý của nó Dàn ý thường theo từng bài Ví
dụ Bài 6: “Công dân với các quyền tự do cơ bản” học sinh sẽ tìm hiểu những
quyền tự do cơ bản theo các ý sau: Khái niệm, nội dung, ý nghĩa Nắm khunggiúp nhớ có hệ thống và nhớ lâu, dễ trả lời những câu hỏi tổng hợp
b Kỹ năng phân tích đề
Giáo viên Cung cấp thông tin về kỳ thi, hình thức thi, kết cấu đề thi Cụthể là:
- Hình thức thi: Tự Luận
- Số lượng câu hỏi khoảng từ 5 đến 7 câu với thời gian là 180 phút