Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Khoa Marketing
BÀI TẬP LỚN Học phần: LLNL1106(221)_26 Đề: : Lý luận về sản xuất hàng hóa (kinh tế hàng hóa) và phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.
HÀ NỘI – 04/2022
Trang 3Bài làm
I Lý luận về sản xuất hàng hóa (kinh tế hàng hóa) 1) Khái niệm sản xuất hàng hóa (kinh tế hàng hóa)
Theo C Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm không nhằm phục vụ mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính phủ mà để trao đổi, mua bán
Kinh tế hàng hóa là mô hình kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh
tế được thực hiện trên thị trường dưới hình thái hàng hóa và dịch vụ, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Kinh tế hàng hóa cũng chính
là sản xuất hàng hóa được hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm cả quá trình sản xuất
và trao đổi)
2) Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội loài người Đề nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển, C Mác cho rằng cần hội tụ đủ hai điều kiện sau:
a Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định Trong khi nhu cầu của họ lạiđòi hỏi nhiều loại sản phẩm Để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau
b Điều kiện thứ hai: Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất.
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau, có sự tách biệt về lợi ích Trong điều kiện đó,
2
Trang 4người này muốn tiêu thụ sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa C Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa." Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất dựa vào sự tách biệt về quyền sở hữu Xã hội loài người càng phát triển, sự tách biệt
về quyền sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất càng phong phú
Khi còn sự hiện diện của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ quan mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa được Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa sẽ làm cho xã hội đi tới chỗ khan hiểm và khủng hoảng
Vớiýnghĩa đó, cần khẳng định rằng nền sản xuất hàng hóa có uu thế tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự túc, tự cấp
3) Sơ lược về lịch sử phát triển của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa ra đời từ sản xuất tự túc tự cấp và thay thế nó trongquá trình lịch sử lâu dài
Ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hóa là sản xuất giản đơn chỉ giữ vai trò phụ thuộc Tuy nhiên chính sản xuất hàng hóa giản đơn đã tạo khả năng phát triển lực lượng sản xuất thiết lập các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó vốn tách biệt nhau
Quan hệ hàng hóa phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ phong kiến tan
rã và thúc đẩy quá trình đó diễn ra mạnh mẽ hơn
Hình thức điển hình nhất, cao nhất, phổ biến nhất của sản xuất hàng hóa
là sản xuất hàng hóa TBCN Dưới CNTB, quan hệ hàng hóa thâm nhập vào mọi chức năng của nền sản xuất xã hội, hàng hóa trở thành tế bào của nền sản xuất
Trang 5xã hội Nó mang đặc điểm: dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư
Sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại và phát triển dưới CNXH Đặc điểm của sản xuất hàng hóa XHCN là nó không dựa trên cơ sở chế độ người bóc lột người và nó nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất, tỉnh thần của mọi thành viên xã hội trên cơ sở sản xuất kinh doanh
4) Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa a) Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa có hai đặc trung cơ bản sau:
Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán Sản xuất hàng hóa
là kiểu tổ chức kinh tế đối lập với sản xuất tự cung, tự cấp trong thời kỳ đầu của lịch sử loài người Cụ thể trong sản xuất hàng hóa sản phẩm được tạo ra để đápúng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội Khi sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hóa, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa có tính xã hội, vừa có tính tư nhân, cá biệt Tính xã hội của lao động sản xuất hàng hóa thể hiện ở chỗ do phân công lao động xã hội nên sản phẩm lao động của người này trở nên cần thiết với người khác, với xã hội Còn tính tư nhân cá biệt thể hiện ở chỗ sản xuất ra cái gì, bằng công cụ nào, phân phối cho ai là công việc của chủ sở hữu tư liệu sản xuất, do họ định đoạt Tính xã hội của lao động sản xuất hàng hóa chỉ được thừa nhận khi họ tìm được người mua trên thị trường và bán được hàng hóa do họ sản xuất
Vì vậy, lao động của người sản xuất hàng hóa bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính xã hội và tính tư nhân cá biệt của lao động Mâu thuẫn giữa tính xã hội và tính tư nhân cá biệt của lao động sản xuất hàng hóa là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
4
Trang 6b) Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Một là, sự phát triển sản xuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chế Từ đó, nó xóa bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động
Hai là, tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất-kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Muốn vậy, họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến quy trình, mẫu mã hàng hóa, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Ba là, sản xuất hàng hóa quy mô lớn có ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc về quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu Vì vậy, sản xuất hàng hóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay
Bốn là, sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao luu kinh tế, giao lưu văn hóa, tạo điều kiện nâng cao, cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu-nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế-xã hội, phá hoại môi trường sinh thái
II Thực trạng về phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam
1) Thực trạng
Trong khoảng thời gian gần đây, nền kinh tế hàng hóa Việt Nam có xu hướng tăng trưởng Kinh tế Việt Nam năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản
Trang 7xuất, cung-cầu của nền kinh tế cùng song hành phát triển Tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08% so với năm 2017-mức tăng cao nhất 11 năm qua Chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh được cãi thiện, doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh Nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cổ và từng bước được tăng cường Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dân An sinh xã hội được quan tâm thực hiện
2) Đánh giá thực trạng a) Những kết quả đạt được
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý IV.2021 tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng này đã hỗ trợ cho mức tăng GDP của cả năm 2021 lên 2,58% Số liệu được tổng cục Thống kê công bố trong báo cáo kinh tế xã hội năm 2021 ngày 29.12.2021
- Do ảnh hưởng nặng của đợt dịch Covid-19 lần thứ tư, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong quý III năm nay lần đầu tiên trong hai mươi năm rơi xuống ngưỡng âm (-6,02%) Khi các biện pháp giãn cách được tháo gỡ, hoạt động kinh tế dần phục hồi trong quý IV, đưa mức tăng trưởng GDP quý cuối cùng trong năm nay tăng 5,22%
- Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kẻ theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLÐ cao trong khu vực ASEAN
- Việt Nam hồi phục mạnh mẽ sau 2 năm chịu tác động nặng nề của dịch
Covid-19 với kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2021 dự kiến đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020
- Quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá GDP bình quân đầu người năm 2021 đạt khoảng 3700 USD,
tổng sản phẩm trong nước tăng khoảng 6%, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế khoảng 91%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1-1,5 điểm phần trăm
1) Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 6
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 8Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định nhung nền kinh tế hàng hóa của Việt Nam vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để những ưu thế của mình Bên cạnh đó vẫn còn sự tồn đọng những hạn chế của nền sản xuất hàng hóa mà nước
ta cần sớm giải quyết
Về thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Lực lượng sản xuất ở Việt Nam đã và đang trên đà phát triển, tuy nhiên vẫn còn cần thêm thời gian để bắt kịp với thế giới
- Trong những năm trở lại đây, khoa học – công nghệ đã được Việt Nam áp dụng và góp phần đáng kể vào việc phát triển tư liệu sản xuất, trước tiên là cải biến những công cụ lao động thô sơ xưa cũ trong lĩnh vực nông nghiệp Những thay đổi này đã giúp sức lao động của con người được giải phóng, lao động trí óc ngày càng được đề cao Những nhà máy, xí nghiệp xuất hiện những dây chuyền sản xuất tự động hóa tiên tiến và hiện đại, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm đầu ra Tuy nhiên tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu khoa học, công nghệ còn thấp nên nền công nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng ở mức độ gia công Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng chảy máu chất xám đáng báo động hiện nay ở Việt Nam
- Để phát triển lực lượng sản xuất thì kết cấu hạ tầng cũng là một phần không thể thiếu, nó là cái “ cốt vật chất” của các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Hiện nayh ở nước
ta đã hình thành được hầu hết các trục đường bộ xuyên Việt, kết nối mạng lưới giao thông giữa các tỉnh thành với nhau, đặc biệt những năm gần đây nhiều tuyến đường từ các tỉnh, thành phố trung tâm
đã được xây dựng như Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, TPHCM – Vũng Tàu,… làm giảm đáng kể thời gian vận chuyển hàng hóa xuống 30-50% Đặc biệt với việc tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông được hoàn thiện sau 11 năm thi công đã góp phần làm giảm thời gian di chuyển của người lao động tại Hà Nội, giải
7
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 9quyết phần nào tình trạng tắc đường ở một số khu vực tuy nhiên vẫn chưa triệt tiêu được hoàn toàn tình trạng này Dự kiến đến năm 2024 Hà Nội sẽ cấm xe máy lưu thông trong nội thành thì tình trạng tắc đường này mới hoàn toàn chấm dứt
- Về giao thông đường biển, nước ta có 49 cảng biển, 166 bến cảng, 350 cầu cảng, năng lực thông quan khoảng 350-370 triệu tấn/năm Đặc biệt, quá trình ᴠận chuуển, bốc dỡ ển, bốc dỡ hàng hóa cũng đã được hiện đại hóa đáng kể bằng ᴠiệc thaуển, bốc dỡ thế ѕức lao động của con người thành ức lao động của con người thành những máуển, bốc dỡ móc, cẩu nâng tự động hóa
- Về giao thông đường không, Việt Nam đang đưa ᴠào khai thác 21 ѕức lao động của con người thành ân baуển, bốc dỡ , trong đó có 10 cảng hàng không quốc tế, ѕức lao động của con người thành ố lượng hành khách tăng mạnh từ 4,9 triệu khách năm
2000 lên đến 56,8 triệu khách năm 2014 Như ᴠậуển, bốc dỡ , chỉ chưa đến 15 năm, ѕức lao động của con người thành ố lượng hành khách đã tăng lên hơn 10 lần Giao thông hàng không cũng góp phần quan trọng trong ᴠiệc ᴠận chuуển, bốc dỡ ển, lưu thông hàng hóa giữa các ᴠùng kinh tế trọng điểm trong cả nước ᴠà ᴠới các nước khác trên thế giới
- Về giao thông đường ѕức lao động của con người thành ắt, mạng lưới đường ѕức lao động của con người thành ắt của nước ta có tổng chiều dài là 3.143 km, trong đó có 2.531 km tuуển, bốc dỡ ến chính, 612 km đường nhánh ᴠà đường ga Giao thông đường ѕức lao động của con người thành ắt nước ta góp phần quan trọng trong ᴠiệc ᴠận chuуển, bốc dỡ ển hành khách ᴠà hàng hóa từ thủ độ Hà Nội đến các ᴠùng trong cả nước
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn như vậy trong những năm vừa qua tuy nhiên những điểm yếu trong cơ sở hạ tầng vẫn còn xuất hiện rất nhiều Hiện hữu nhất có thể thấy kết cấu hạ tầng còn thiếu tính đồng bộ
và thống nhất giữa các vùng miền
Về đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất
Năng suất lao động xã hội ở Việt Nam còn thấp, theo PPP 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2019 chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapre;
8
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 1019,5% của Malyasia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Philippines và 68,9% của Brunei Tuy nhiên theo sức mua tường đương (PPP 2011) tốc độ này trong giai đoạn 2011 – 2019 của nước ta lại cao hơn các nước trong khu vực ASEAN-6 Có thể thấy Việt Nam đã có những bước phát triển bền vững trong giai đoạn gần đây, tuy nhiên cần phải cố gắng hơn khi phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước ASEAN-6
Năng suất lao động thấp là do xuất phát điểm của nước ta hạn chế, quy
mô kinh tế nhỏ cọng với quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực tuy nhiên còn chậm do công nghệ máy móc còn lạc hậu, lỗi thời, chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cao Khả năng tổng hợp, đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng chưa được hoàn thiện, các yếu tố nội sinh chưa đáp ứng được nhu cầu của nền sản xuất hiện đại Bên cạnh đó, việc chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu cảu Việt Nam khiến các khu vực doanh nghiệp nội địa nước ta thiếu động lực trong việc quyết định tăng trưởng năng suất lao động dẫn đến chỉ số này còn hạn chế ở nước ta
Về đáp ứng nhu cầu đa đạng của xã hội
Việt Nam ngày càng đáp ứng khá tốt về mẫu mã và chất lượng Những sản phẩm thuần Việt ngày càng nhiều và đa dạng, có chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng, tiêu biểu trong những năm gần đây là tập đoàn VinGroup khi cho ra mắt dòng xe ô tô Vinfast và có chỗ đứng trên thị trường ô tô của Thế giới Điều
đó cho thấy hàng nội địa Việt Nam đã đáp ứng được ngày càng nhiều hơn nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa lựa chọn tiêu dùng của người dân
Tuy nhiên, tư tưởng sính ngoại của người Việt vẫn còn rất nhiều và cần nhiều thời gian, sự cố gắng chung tay hơn nữa của người dân và các doanh nghiệp Việt Nam để Việt Nam có thể có chỗ đứng ngang bằng trên nền kinh tế thị trường hàng hóa thế giới
Trang 11III Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hàng hóa ởViệt Nam 1) Phát triển nền sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường
Nuớc ta tiếp giáp Biển Đông có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao thương Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ Điều này cho thấy lực lượng lao động của nước ta hoàn toàn có đủ điều kiện để sản xuất hàng hóa xuất khẩu Hiện nay, nhiều mặt hàng xuất khẩu như gạo, cà phê, thủy sản đang đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của nước ta
2) Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần sở hữu trên nền tảng công hữu
Là một quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa nên việc coi trọng công hữu là không thể bỏ qua Nhưng với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần sở hữu trên nền tảng công hữu giúp chúng ta vừa phát triển được kinh tế thị trường vừa phát triển được chính trị theo hướng xã hội chủ nghĩa
3) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường chặt chế và phù hợp
Chúng ta cần đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường chặt chẽ và phù hợp hơn với nền kinh tế trong nước để giúp nước ta dễ dàng kiểm soát được tình hình, nhanh chóng nắm bắt được thời cơ giúp nước ta kịp thời đưa ra các cách giải quyết phù hợp để phát triển kinh tế Đây là việc rất quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa
4) Tập trung đào tạo lực lượng lao động có trình độ cao
Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở Việt Nam rất cao nhưng lại không đủ số lao động có trình độ lao dộng đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế Nước ta nên
mở rộng đào tạo lực lượng lao động có trình độ cao chuyên môn sâu, tổ chức trao đổi học sinh với các nước phát triển, tạo động lực để các nhà khoa học trẻ, tài năng, các nguồn tri thức sống chảy về và xây dựng đất nước
10