Bài viết Phát triển những hàm độ thon thân cây keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam giới thiệu những hàm độ thon thân và sản lượng gỗ thu hoạch để thống kê thể tích thân cả vỏ và không vỏ và trữ lượng gỗ sản phẩm đối với rừng trồng thuần loài Keo lai ở Việt Nam.
Trang 1Lâm học
PHÁT TRIỂN NHỮNG HÀM ĐỘ THON THÂN CÂY KEO LAI
TRỒNG THUẦN LOÀI Ở VIỆT NAM
Nguyễn Văn Thêm 1 , Nguyễn Trọng Bình 2 , Nguyễn Trọng Minh 2
1
Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp TP Hồ Chí Minh
2
Trường Đại học Lâm nghiệp
https://doi.org/10.55250/jo.vnuf.2022.2.022-031
TÓM TẮT
Bài báo này giới thiệu những hàm độ thon thân và sản lượng gỗ thu hoạch để thống kê thể tích thân cả vỏ và không vỏ và trữ lượng gỗ sản phẩm đối với rừng trồng thuần loài Keo lai ở Việt Nam Các hàm độ thon thân và hàm sản lượng gỗ được xây dựng từ 168 cây mẫu từ cấp đường kính 4 ÷ 24 cm Hàm độ thon thích hợp được kiểm định từ 10 hàm dự tuyển khác nhau; trong đó 5 hàm do nhóm tác giả đề xuất trong nghiên cứu này năm
2022 Khả năng ứng dụng của các hàm độ thon được kiểm định từ 5 cây mẫu ở cấp đường kính từ 8 ÷ 16 cm Kết quả nghiên cứu cho thấy 10 hàm này mô tả tốt độ thon thân cây Keo lai ở mức ý nghĩa P < 0,01; trong đó hàm Them-Binh 2022d là hàm thích hợp nhất Các hàm độ thon thân cây, các hàm thể tích thân cây đứng cả vỏ
và không vỏ, các hàm thể tích gỗ sản phẩm cả vỏ và không vỏ đều nhận sai số nhỏ hơn 10,0%
Từ khoá: độ thon thân cả vỏ, độ thon thân không vỏ, hàm độ thon thân cả vỏ, hàm độ thon thân không
vỏ, rừng Keo lai
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đường kính thân cây gỗ giảm dần từ gốc
đến ngọn Đường cong biểu diễn sự suy giảm
đường kính thân cây gỗ từ gốc đến ngọn được
gọi là độ thon thân cây gỗ hay hình dạng thân
cây gỗ Độ thon thân cây gỗ không chỉ thay đổi
theo loài cây, chiều cao và tuổi, mà còn theo
điều kiện lập địa và phương thức lâm sinh
Xây dựng các hàm và biểu sản lượng gỗ ở mức
cây cá thể và quần thụ là mối quan tâm của
lâm học, điều tra và quản lý rừng, phân tích
hiệu quả kinh doanh rừng Trong lâm học, hàm
độ thon và hàm thể tích thân cây gỗ được sử
dụng để xác định ảnh hưởng của lập địa và đặc
tính quần thụ đến cây gỗ và quần thụ (Nguyễn
Văn Thêm, 2002) Trong điều tra rừng, độ thon
thân cây được sử dụng để ước lượng không chỉ
thể tích các phân đoạn gỗ với chiều dài bất kỳ,
mà còn cả thể tích thân cây đứng, thể tích gỗ
sản phẩm và sinh khối thân Trữ lượng rừng
giúp cho nhà quản lý xây dựng chiến lược
quản lý rừng Nhà kinh tế sử dụng các hàm sản
lượng để phân tích hiệu quả kinh doanh rừng
Độ thon thân cây có thể được mô tả bằng một
hàm với những biến dự đoán khác nhau Nhiều
tác giả (Muhairwe, 1999; Kozak, 2004;
Sharma và Zhang, 2004; Sharma và Parton,
2009 (dẫn theo Tang và cộng sự, 2017);
Westfall và Scott, 2010; Fonweban và cộng sự,
2011; Lee và cộng sự, 2017; Tang và cộng sự,
2017) đã xây dựng các hàm độ thon với nhiều
biến dự đoán khác nhau; trong đó ba biến dự đoán thường được sử dụng là đường kính thân ngang ngực (D, cm), chiều cao toàn thân (H, m), tỷ lệ giữa chiều cao ở vị trí khác nhau trên thân (h, m) và H (m) Hàm độ thon thân cây gỗ
có thể ở dạng hàm tuyến tính và hàm phi tuyến tính Ở Việt Nam, một số tác giả (Vũ Tiến Hinh, 2012; Nguyễn Trọng Bình, 1995, 2005; Nguyễn Văn Thêm và Lê Hồng Việt, 2021) đã xây dựng các hàm thể tích và hàm độ thon đối với những loài cây gỗ khác nhau Rừng Keo lai
(Acacia hybrid) phân bố khắp cả nước Kiểu
rừng này đóng vai trò to lớn về kinh tế, môi trường và quốc phòng Việc thống kê trữ lượng
gỗ cây đứng và trữ lượng gỗ sản phầm đối với kiểu rừng này đòi hỏi phải có các biểu thể tích
và biểu gỗ sản phẩm Thế nhưng, hiện nay vẫn còn thiếu các hàm độ thon và hàm thể tích đối với rừng Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam Hạn chế này gây ra những khó khăn cho điều tra rừng và quản lý rừng Về lý thuyết, các hàm
độ thon và hàm thể tích thân cây Keo lai trồng thuần loài không chỉ được xây dựng từ những hàm dự tuyển sẵn có, mà còn phát triển thêm những hàm mới Mặt khác, độ chính xác của các hàm không chỉ phụ thuộc vào dạng hàm và
số lượng biến dự đoán, mà còn vào phương pháp xây dựng các hàm hồi quy Xuất phát từ những vấn đề đặt ra trên đây, mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển những hàm độ thon và hàm sản lượng để thống kê thể tích
Trang 2thân cả vỏ, thể tích thân không vỏ và trữ lượng
gỗ sản phẩm đối với rừng Keo lai trồng thuần
loài ở Việt Nam
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Keo lai
trồng thuần loài ở Việt Nam từ 3 – 10 tuổi
Mật độ trồng ban đầu từ 1.100 cây/ha đến
2.200 cây/ha Số liệu về độ thon thân cây Keo
lai trồng thuần loài ở Việt Nam được thu thập
tại các địa phương: Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Đại Lải
(Vĩnh Phúc), Vân Hán và Phú Lương (Thái
Nguyên), Hàm Yên (Tuyên Quang), Cẩm Lĩnh
(Hà Nội), Xuân Lộc và Vĩnh Cửu (Đồng Nai),
Bến Cát và Phú Giáo (Bình Dương) Thời gian
nghiên cứu từ 2018 – 2020 Các khu vực này
chủ yếu là rừng trồng phục vụ cho mục đích
nghiên cứu loài Keo lai
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Độ thon thân cây đứng cả vỏ (DhCV, m3) và
độ thon thân cây đứng không vỏ (DhOV, m3)
của cây Keo lai được xác định từ 173 cây mẫu
từ 3 – 10 tuổi Đường kính (D, cm) và chiều
cao (H, m) của các cây mẫu dao động tương
ứng từ 4,0 đến 24,0 cm và 6,0 đến 27,0 m
(Bảng 1) Những cây mẫu được chặt hạ cách
mặt đất 30 cm Các cây mẫu được xác định
chiều dài toàn thân (H, m) bằng thước dây với
độ chính xác 1,0 cm Thân cây được phân chia
thành các phân đoạn với chiều dài (L) 100 cm;
đoạn ngọn có chiều dài (Ln) trên dưới 100 cm Đường kính thân cả vỏ (DCV, cm) và đường kính thân không vỏ (DOV, cm) tại vị trí ngang ngực, đường kính thân cả vỏ và đường kính thân không vỏ ở đầu nhỏ (tương ứng D1CV và
D1OV) và đầu lớn (tương ứng D2CV và D2OV) của mỗi phân đoạn được xác định bằng thước Panme với độ chính xác 1 mm Đoạn ngọn được đo chiều dài (Ln, cm) và đường kính đáy (DN, cm) Thể tích gỗ sản phẩm được xác định
từ gốc đến DCV ≥ 3 cm
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Từ 173 cây mẫu, sử dụng 168 cây để xây dựng các hàm DhCV và DhOV, còn lại 5 cây ở cấp D = 8 - 16 cm được sử dụng để kiểm tra khả năng ứng dụng của các hàm độ thon Các hàm độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài
ở Việt Nam được kiểm định từ 10 hàm dự tuyển (Bảng 2); trong đó 5 hàm 6 - 10 do Nguyễn Văn Thêm và Nguyễn Trọng Bình đề xuất Ở hàm 1 - 10, D (cm) = đường kính thân ngang ngực; Dh (cm) = đường kính ở những vị trí khác nhau trên thân; H (m) = chiều cao toàn thân; h (m) = chiều cao từ gốc đến những vị trí khác nhau trên thân; Y = (h/H); XJ = (1 -
Y1/4)/(1 – 0,011/4); Xk = Q/(1 - p1/3) với p = (1,3/H); Q = 1 - Y1/3; XL = (H - h)/(H - 1,3); Z
= (h/1,3)
Bảng 1 Đặc trưng thống kê của những cây mẫu
Trang 3Lâm học
Bảng 2 Những hàm độ thon dự tuyển trong nghiên cứu này
1 Dh = a 1 D a
2 X J(a3 + a4/exp(Z) + a5D^XJ + a6XJ^Z) Kozak (2001) (1)
2 Dh = a 1 D a
2 H a
3 X k(a4Y^4 + a5/exp(D/H) + a6XJ^0,1 + a7/D + a8H^Q + a9Xk) Kozak (2002) (2)
3 Dh = a 1 D a2 (1 - Y) (a
4 Dh 2 = a 1 D 2 X L Z (2 - (a
2 + a3Y + a4Y^2)) Sharma-Zhang (2004) (4)
5 (Dh/D) = a 1 *U*Z (a
2 + a3*Y + a4*Y^2) Sharma-Parton (2009) (5)
6 Dh = a 1 (D 2 *H) a2 (a 3 - √ ) (a
4Y + a5Y^2 + a6Y^3 + a7(D/H)) Them-Binh (2022a) (6)
7 Dh = a 1 (D 2 *H) a2 (a 3 - √ ) (a
4Y^2 + a5Y^3 + a6Y^4 + a7(D/H)) Them-Binh (2022b) (7)
8 Dh = a 1 (D 3 *H) a2 (a 3 - √ ) (a
4Y + a5Y^2 + a6Y^3 + a7(D/H)) Them-Binh (2022c) (8)
9 Dh = a 1 (D 3 *H) a2 (a 3 - √ ) (a
4Y^2 + a5Y^3 + a6Y^4 + a7(D/H)) Them-Binh (2022d) (9)
10 Dh = a 1 (D 4 *H) a2 (a 3 - √ ) (a
4Y^2 + a5Y^3 + a6Y^4 + a7(D/H)) Them-Binh (2022e) (10) Các hệ số hồi quy và những thống kê sai
lệch của 10 hàm dự tuyển được xác định bằng
phương pháp phân tích hồi quy và tương quan
phi tuyến tính của Marquartz Mức độ quan hệ
giữa DhCV và DhOV với các biến dự đoán được
đánh giá theo hệ số xác định (R2; Công thức
11) Sai lệch của các hàm độ thon so với độ
thon thực tế của cây Keo lai trồng thuần loài ở
Việt Nam được đánh giá theo 4 tiêu chuẩn: (1)
Tổng sai lệch bình phương (SSR; Công thức
12); (2) Sai số chuẩn của ước lượng (SEE;
Công thức 13); (3) Sai số tuyệt đối trung bình
(MAE; Công thức 14a) và sai số tuyệt đối
trung bình theo phần trăm (MAPE; Công thức
14b); (4) Sai số trung bình (ME; Công thức
15a) và sai số trung bình theo phần trăm
(MPE; Công thức 15b) Mức độ phù hợp của
các hàm so với độ thon thực tế của cây Keo lai
được đánh giá theo tiêu chuẩn thông tin Akaike (Công thức 16) Ở công thức (11) – (16), Dhi
và DhJ tương ứng là độ thon thực tế và độ thon ước lượng; DhBq là độ thon trung bình thực tế;
n = dung lượng quan sát; p = số tham số của hàm độ thon Mục đích của phân tích hồi quy
là xác định hàm ước lượng độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam với sai lệch nhỏ nhất Theo mục đích này, trước hết so sánh hệ số R2 và các thống kê sai lệch (SSR, SEE, MAE, MAPE, AIC) của 10 hàm dự tuyển Sau đó chọn hàm độ thon thích hợp theo
2 tiêu chuẩn SEEMin và SSRMin; trong đó tiêu chuẩn ưu tiên là SSRMin Khả năng ứng dụng của các hàm độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam được đánh giá theo tiêu chuẩn ME, MPE và MAPE
R2 = [1 −∑ (∑ ( )
Sau khi xác định được hai hàm DhCV và
DhOV thích hợp, sử dụng hai hàm này để ước
lượng thể tích của các phân đoạn trên thân
cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam Sau
đó tính thể tích thân cây đứng cả vỏ (VCV),
thể tích thân cây đứng không vỏ (VOV), thể
tích gỗ sản phẩm cả vỏ (VSPCV) và thể tích gỗ
sản phẩm không vỏ (VSPOV) Thể tích của
mỗi phân đoạn trên thân cây Keo lai được xác định theo công thức hình viên trụ; trong
đó đường kính được xác định theo công thức kép tiết diện bình quân Thể tích đoạn ngọn được xác định theo thể tích hình nón Hai đại lượng VCV và VOV là tổng thể tích của các phân đoạn cộng với thể tích đoạn ngọn (VN,
m3) Hai đại lượng VSPCV và VSPOV là tổng
Trang 4thể tích thân từ gốc đến Dh ≤ 3,0 cm Hiệu số
giữa DhCV và DhOV là đường kính vỏ (KV,
cm) Hiệu số giữa VCV và VOV là thể tích vỏ
(VVo, m3) Tỷ lệ giữa VCV và thể tích hình
viên trụ có đường kính tại vị trí ngang ngực
là hình số thân cây cả vỏ (FCV) Hàm ước
lượng H, Vi (Vi = VCV, VOV, VSPCV, VSPOV),
KV và FCV được ước lượng tương ứng theo
hàm 17 ÷ 20; trong đó Y = (h/H), D = đường
kính ngang ngực, còn m, ai, b, c và k là các tham số của hàm ước lượng Các bước phân tích hồi quy và tương quan được thực hiện bằng phần mềm thống kê STATGRAPHICS Centurion XV.I 15.1.02, IBM SPSS Statistics
22 Kỹ thuật xử lý số liệu được thực hiện theo hướng dẫn phân tích hồi quy của Nguyễn Trọng Bình và Nguyễn Văn Thêm (2015)
V = a + b*(D2*H) + c*(Dk*Hj) (18)
KV = a1(D3*H)a2(a3 - √ )(a
4 Y^2 + a
5 Y^3 + a
6 Y^4 + a
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hàm độ thon thân cây Keo lai trồng
thuần loài ở Việt Nam
Hệ số xác định (R2), những thống kê sai
lệch (SSR, SEE, MAPE) và tiêu chuẩn thông
tin AIC của 10 hàm ước lượng độ thon thân
cây Keo lai được dẫn ra ở Bảng 3 và 4 Các
hàm DhCV (Bảng 3) đều tồn tại ở mức ý nghĩa
rất cao (P < 0,01) Hệ số R2 nhận giá trị cao
nhất ở hàm Them-Binh 2022d (96,64%), thấp
nhất ở hàm Kozak 2001 (95,39%) Sai số SEE
nhận giá trị nhỏ nhất ở hàm Them-Binh 2022d
(0,718), cao nhất ở hàm Kozak 2001(0,840)
Sai số MAPE của 10 hàm này nhận giá trị rất
nhỏ; trong đó nhỏ nhất ở hàm Them-Binh
2022d (7,92%), cao nhất ở hàm Kozak 2001
(9,52%) Hai tiêu chuẩn SSR và AIC nhận giá
trị nhỏ nhất ở hàm Them-Binh 2022d (tương ứng SSR = 1.168,0; AIC = -1,488), cao nhất ở hàm Kozak 2001 (tương ứng SSR = 1.594,4; AIC = -785) So sánh với SSR của hàm Them-Binh 2022d (100%), giá trị này ở hàm Kozak (2001), Kozak (2002), Lee (2003), Sharma-Zhang (2004) và Sharma-Parton (2009) lớn hơn tương ứng 36,5%, 8,8%, 17,4%, 7,2% và 20,3%, còn 4 hàm (Them-Binh 2022a,b,c,e) chỉ lớn hơn 0,03% đến 0,15% Theo phân hạng, 5 hàm Them-Binh (2022a,b,c,d,e) lần lượt xếp hạng 5, 2, 4, 1 và 3, còn 5 hàm của 5 tác giả khác xếp hạng 6 – 10 Theo hai tiêu chuẩn SSR và AIC, hàm Them-Binh (2022d)
là hàm thích hợp để xây dựng hàm DhCV của cây Keo lai
Bảng 3 Hệ số tương quan và sai lệch của các hàm độ thon thân cả vỏ của cây Keo lai
trồng thuần loài ở Việt Nam
Trang 5Lâm học
Bảng 4 Hệ số tương quan và sai lệch của các hàm độ thon thân không vỏ của cây Keo lai
trồng thuần loài ở Việt Nam
Các hàm DhOV của cây Keo lai (Bảng 4)
cũng tồn tại ở mức ý nghĩa rất cao (P < 0,01)
Hệ số R2 nhận giá trị cao nhất ở hàm
Them-Binh 2022d (96,09%), thấp nhất ở hàm Kozak
2001 (94,88%) Sai số SEE nhận giá trị nhỏ
nhất ở hàm Thêm 2022d (0,748), cao nhất ở
hàm Kozak 2001(0,855) Sai số MAPE của 10
hàm này nhận giá trị rất nhỏ; trong đó nhỏ nhất
ở hàm Them-Binh 2022d (9,41%), cao nhất ở
hàm Kozak 2001 (11,32%) Hai tiêu chuẩn
SSR và AIC nhận giá trị nhỏ nhất ở hàm
Them-Binh 2022d (tương ứng SSR = 1.265,1;
AIC = -1.306,7), cao nhất ở hàm Kozak 2001
(tương ứng SSR = 1.653,2; AIC = -703) So
sánh với SSR của hàm Them-Binh 2022d
(100%), giá trị này ở hàm Kozak (2001), Kozak (2002), Lee (2003), Sharma-Zhang (2004) và Sharma-Parton (2009) lớn hơn tương ứng 30,7%, 5,1%, 12,6%, 4,8% và 14,0%, còn
4 hàm của Them-Binh (2022a,b,c,e) chỉ lớn hơn 0,09% đến 0,35% Theo phân hạng, 5 hàm Them-Binh (2022a,b,c,d,e) lần lượt xếp hạng
5, 2, 4, 1 và 3, còn 5 hàm của 5 tác giả khác xếp hạng 6 – 10 Theo hai tiêu chuẩn SSR và AIC, hàm Them-Binh (2022d) là hàm thích hợp để xây dựng hàm DhOV của cây Keo lai Những phân tích hồi quy cho thấy hàm
DhCV và DhOV đối với cây Keo lai theo hàm Them-Binh (2022d) tương ứng có dạng như hàm 21 và 22
J = (1,68004 - √ )(3,46226*Y^2 - 1,93951*Y^3 + 1,72821*Y^4 + 1,29828*(D/H))
R2 = 96,64%; SEE = ±0,718; MAPE = 7,92%; ME = 0,005; MPE = -1,2%
DhOV = 0,758796(D3H)0,230701K
K = (1,67955 - √ )(4,94407*Y^2 - 5,83161*Y^3 + 4,79294*Y^4 + 1,32711*(D/H)) (22)
R2 = 96,09%; SEE = ±0,748; MAPE = 9,41%; ME = 0,007; MPE = -1,6%
3.2 Kiểm định khả năng ứng dụng đối với
hàm độ thon thân cây Keo lai trồng thuần
loài ở Việt Nam
Giá trị DhCV của 5 cây kiểm tra được ước
lượng từ hàm 21 nhận sai số hệ thống (ME, MPE) dương và âm Giá trị DhOV của 5 cây kiểm tra được ước lượng từ hàm 22 nhận sai số
hệ thống âm (Bảng 5)
Trang 6Bảng 5 Kiểm định sai lệch của các hàm độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam
So với 5 cây kiểm tra, sai số (MPE) ước
lượng DhCV từ hàm 21 dao động từ -10,3% đến
2,2%; trung bình -4,0% Tương tự, sai số ước
lượng DhOV từ hàm 22 nhận sai lệch từ -15,7%
đến -0,4%; trung bình -7,5% Nói chung, so
với độ thon của 5 cây kiểm tra, sai lệch tuyệt
đối trung bình (MAPE) của hàm 21 và 22
tương ứng là 5,5% và 7,5% Theo số liệu ở
Bảng 3 và Bảng 4, giá trị MAPE đối với DhCV
và DhOV của 168 cây đều nhỏ hơn 10% Trong
điều tra rừng, yêu cầu đối với sai số thống kê
cây gỗ và quần thụ thường không vượt quá
±10% Vì thế, hai hàm hàm 21 và 22 được sử
dụng để ước lượng đường kính thân cả vỏ và
đường kính thân không vỏ ở những vị trí khác
nhau trên thân cây Keo lai
3.3 Các hàm sản lượng đối với cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam
Từ số liệu của 168 cây mẫu và hai hàm
DhCV và DhOV (Hàm 21 và 22), xác định được các hàm ước lượng H, KV, FCV, VCV, VOV,
VSPCV và VSPOV (Hàm 23 - 29) Các hàm này đều tồn tại ở mức ý nghĩa rất cao (P < 0,01) Hàm ước lượng H = f(D) nhận sai lệch (MAPE
= 7,2%) khá lớn là do các cây mẫu có biến động lớn về kích thước Các hàm KV, FCV,
VCV, VOV, VSPCV và VSPOV nhận sai lệch rất nhỏ (MAPE < 5,0%) là vì chúng đều được ước lượng từ hàm DhCV và DhOV Vì thế, các hàm này được sử dụng để ước lượng các thành phần sản lượng ở mức cây cá thể của rừng Keo lai
r = 85,7%; SEE = ±1,4; MAE = 1,1; MAPE = 7,2%
J = (1,6337 - √ )(-9,91117*Y^2 + 22,633*Y^3 - 13,3261*Y^4 + 0,90634*(D/H))
R2 = 99,64%; SEE = ±0,009; MAPE = 1,23%; ME = -0,0001; MPE = -0,10%
r = 99,9%; SEE = ±0,00086; MAE = 0,00066; MAPE = 0,13%
VCV = 0,000974 + 0,000023*(D2*H) + 0,000023*(D0,80518*H1,9319) (26)
R2 = 99,9%; SEE = ±0,00047; MAE = 0,00027; MAPE = 0,40%
VOV = 0,000648 + 0,0000219*(D2*H) + 0,000019*(D0,789658*H1,90741) (27)
R2 = 99,9%; SEE = ±0,00038; MAE = 0,00021; MAPE = 0,35%
VSPCV = 0,0000753 + 0,000023*(D2*H) + 0,000027*(D0,770629*H1,90255) (28)
R2 = 99,9%; SEE = ±0,00049; MAE = 0,00025; MAPE = 0,22%
VSPOV = 0,000177 + 0,000022*(D2*H) + 0,000019*(D0,80540*H1,91824) (29)
R2 = 99,9%; SEE = ±0,00045; MAE = 0,00028; MAPE = 0,30%
3.4 Áp dụng kết quả nghiên cứu
3.4.1 Ước lượng độ thon thân cây Keo lai
Hai thành phần DhCV và DhOV của cây Keo
lai được ước lượng theo hàm 21 và 22 Để xác
định hai thành phần này, trước hết đo đạc D và
H của từng cây trong ô mẫu Sau đó thay thế
D, H và h vào hàm 21 và 22 để nhận được
DhCV và DhOV Chiều cao từ gốc đến những vị
Trang 7Lâm học
trí khác nhau trên thân (h) được xác định tùy
theo yêu cầu của sản phẩm Để đơn giản trong
tính toán, hai thành phần DhCV và DhOV được
ước lượng theo cấp D Theo đó, trước hết
thống kê D và H của rừng Keo lai ở các tuổi
khác nhau trên các ô mẫu Kế đến lập phân bố
số cây theo cấp D đối với các tuổi; trong đó cự
ly mỗi cấp D = 2 cm Tiếp đến xác định H
trung bình của từng cấp D từ hàm 23 Sau đó
xác định DhCV và DhOV của từng cấp D bằng
cách thay thế cấp D, H trung bình của từng cấp
D và H vào hàm 21 và 22 Bảng 6 dẫn tóm tắt
DhCV và DhOV của cây Keo lai ở cấp D từ 12 –
18 cm Hình thái độ thon thân cây Keo lai từ
cấp D = 8 - 20 cm được biểu diễn ở Hình 1 và
2 Điểm uốn của độ thon thân cây Keo lai xuất
hiện ở độ cao 2,0 m tính từ gốc
3.4.2 Ước lượng một số thành phần sản lượng đối với rừng Keo lai trồng thuần loài
Bằng cách khảo sát các hàm 23 - 29, xác định được H, KV, FCV, VCV, VOV, VSPCV và
VSPOV (Bảng 7) Từ số liệu ở Bảng 7 cho thấy,
FCV của cây Keo lai giảm dần từ cấp D = 8 cm (0,533) đến cấp D = 24 cm (0,434); trung bình 0,474 Tỷ lệ (VOV/VCV) là 87,7%, còn lại 12,3% là thể tích vỏ So với VCV, hai đại lượng
VSPCV và VSPOV tương ứng là 99,4% và 87,3% Thể tích vỏ của cây Keo lai là hiệu số giữa VCV
và VOV Phần vỏ, ngọn, cành và lá là những vật liệu bỏ lại sau thu hoạch Thông qua quá trình khoáng hóa, những thành phần này tham gia vào chu trình vật chất của rừng Keo lai
Bảng 6 Độ thon thân cả vỏ và độ thon thân không vỏ theo cấp đường kính của cây Keo lai
trồng thuần loài ở Việt Nam
h (m)
Độ thon (Dh, cm) theo cấp D (cm)
2
6
10
14
18
22
26
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25
Hình 1 Đồ thị biểu diễn độ thon cả vỏ ở
những vị trí khác nhau trên thân cây
Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam
Điểm uốn
Hình 2 Đồ thị biểu diễn độ thon cả vỏ và không vỏ của cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam tại cấp D = 18 cm
23.0 20.6 19.4 18.5 17.8 17.1 16.5 15.9 15.3 14.6 14.0 13.3 12.5 11.7 10.9 10.0 9.0 8.1 7.2 6.2 5.3 4.4
21.8 19.4 18.3 17.5 16.8 16.2 15.6 15.0 14.4 13.7 13.1 12.4 11.6 10.8 10.0 9.2 8.3 7.3 6.4 5.4 4.5
4.0 6.0 8.0 10.0 12.0 14.0 16.0 18.0 20.0 22.0 24.0
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22
DCV tại D = 20 cm DOV tại D = 20 cm
Trang 8Trữ lượng gỗ cây đứng cả vỏ (MCV, m /ha),
trữ lượng gỗ cây đứng và không vỏ (MOV,
m3/ha), sản lượng gỗ thu hoạch cả vỏ (MSPCV,
m3/ha) và sản lượng gỗ thu hoạch không vỏ
(MSPOV, m3/ha) ở mức quần thụ được xác định
theo hai phương pháp Phương pháp 1 là xác
định bốn thành phần (MCV, MOV, MSPCV và
MSPOV) từ các cây trên ô mẫu Theo phương
pháp này, bốn thành phần kể trên được xác
định theo 3 bước:
Bước 1 là thống kê D của các cây trên ô mẫu ở những tuổi khác nhau, còn H được ước lượng theo hàm 23;
Bước 2 là xác định VCVi, VOVi, VSPCVi và
hàm 26 – 29;
Bước 3 là cộng dồn bốn thành phần này của các cây trong các ô mẫu và quy đổi ra đơn vị 1 ha
Bảng 7 Biểu ước lượng chiều cao, hình số, thể tích thân cây đứng và thể tích gỗ sản phẩm
theo cấp đường kính và chiều của cây keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam
D(cm) H(m) F CV V CV (m 3 ) V OV (m 3 ) V SPCV (m 3 ) V SPOV (m 3 ) (V SPOV /V CV )%
Phương pháp 2 là xác định bốn thành phần
(MCV, MOV, MSPCV và MSPOV) từ phân bố số
cây (Ni, cây) theo cấp D đối với mỗi tuổi
Phương pháp này giả định phân bố số cây (Ni,
cây) theo thể tích (V, m3) ở các cấp D là phân
bố tiệm cận phân bố chuẩn Theo giả định này,
bốn thành phần (MCV, MOV, MSPCV và MSPOV)
được xác định theo 5 bước:
Bước 1 là thống kê D của các cây trên ô
mẫu ở những tuổi khác nhau, còn H được ước
lượng theo hàm 23;
Bước 2 là tập hợp số cây trên các ô mẫu và
xây dựng bảng phân bố số cây (Ni, cây) theo
các cấp D (cm) ở mỗi tuổi hoặc cấp tuổi và quy
đổi ra đơn vị 1 ha;
Bước 3 là xác định giá trị trung bình của
tương ứng theo hàm 26 – 29;
Bước 4 là xác định MCVi, MOVi, MSPCVi và
(cây/ha) với giá trị trung bình của VCVi, VOVi,
Bước 5 là xác định bốn thành phần (MCV,
MOV, MSPCV và MSPOV) bằng cách cộng dồn
3.5 Thảo luận
Trong nghiên cứu này, độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam được kiểm định từ 10 hàm dự tuyển Các hàm này có số biến dự đoán từ 4 (Sharma – Zhang, 2004) đến
9 (Kozak, 2002) Hàm ước lượng DhCV và
DhOV từ 10 hàm này đều tồn tại ở mức ý nghĩa rất cao (P < 0,01) Vì thế, 10 hàm này có thể được sử dụng để xây dựng hàm độ thon thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam Tuy vậy, so với 5 hàm khác, 5 hàm do Nguyễn Văn
Trang 9Lâm học
Thêm và Nguyễn Trọng Bình đề xuất xếp hạng
từ 1 (Them-Binh, 2022a) đến 5 (Them-Binh,
2022e) So với hàm Them-Binh 2022d, 4 hàm
Them-Binh 2022(a,b,c,e) chỉ nhận sai lệch
(SSR) nhỏ hơn 1,5% Vì thế, 5 hàm này có thể
được sử dụng để xây dựng hàm độ thon thân
cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam Hàm
Kozak (2001, 2002) là hai hàm phù hợp với độ
thon của nhiều loài cây gỗ ở rừng nước Anh
Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2017) cho
thấy hàm Muhairwe (1999) mô tả tốt độ thon
thân cây Thông đỏ hàn quốc (Pinus densiflora)
và Thông trắng hàn quốc (Pinus koraiensis)
Bằng cách kiểm định 28 hàm dự tuyển, Tang
và cộng sự (2017) nhận thấy hàm Muhairwe
(1999) phù hợp với độ thon thân cây Cáng lò
trung quốc (Betula alnoides) Nói chung, các
hàm độ thon thân cây gỗ có thể được xây dựng
theo nhiều dạng khác nhau Hàm độ thon thích
hợp không chỉ phụ thuộc vào loài cây gỗ, mà
còn phụ thuộc vào các hàm dự tuyển và các
tiêu chuẩn kiểm định mức độ phù hợp của các
hàm thống kê
4 KẾT LUẬN
Nghiên cứu này xây dựng các hàm độ thon
thân cây Keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam
dựa theo 10 hàm dự tuyển Các hàm này đều
mô tả tốt độ thon thân cây Keo lai ở mức ý
nghĩa P < 0,01 Những hàm độ thon do
Nguyễn Văn Thêm và Nguyễn Trọng Bình đề
xuất trong nghiên cứu này là những hàm thích
hợp để mô tả độ thon thân cây Keo lai trồng
thuần loài ở Việt Nam Những hàm độ thon
này nhận sai số nhỏ hơn 10% Nghiên cứu này
cũng xây dựng hàm sản lượng gỗ cây đứng và
hàm sản lượng gỗ thu hoạch ở mức cây cá thể
của rừng Keo lai Các hàm này đều mô tả tốt
sản lượng gỗ cây đứng và sản lượng gỗ thu
hoạch ở mức ý nghĩa P < 0,01 Trong thực tế,
sử dụng các hàm độ thon, hàm sản lượng gỗ
cây đứng và hàm sản lượng gỗ thu hoạch để
xác định thể tích gỗ cây đứng và thể tích gỗ
sản phẩm ở mức cây cá thể của rừng trồng Keo
lai trồng thuần loài ở Việt Nam là hợp lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Fonweban J., Gardiner B., Macdonald E and
Auty D., 2011 Taper functions for Scots pine (Pinus
sylvestris L.) and Sitka Spruce (Picea sitchensis (Bong.)
Carr.) in Northern Britain Forestry, doi:10.1093/forestry/cpq043
2 Kozak A., 2004 My last words on taper
equations For Chron 80: 507-515
3 Lee WK., Seo JH., Son YM., Lee KH., Von
GK., 2003 Modeling stem profiles for Pinus densiflora
in Korea For Ecol Manag 172: 69-77
4 Lee D., Yeongwan., Jungho Lee and Jungkee Choi., 2017 Estimation and validation of volume
equations for Pinus densiflora, Pinus koraiensis, and
Larix kaempferi in South Korea South J Appl for 35:
105-108 Forest Science and Technology, 2017 E-ISSN
2158-0715, Vol 13, N 0 2, 77-82
5 Muhairwe CK., 1999 Taper equations for
Eucalyptus pilularis and Eucalyptus grandis for the
north coast in New South Wales, Australia For Ecol Manag 113: 251-269
6 Nguyễn Trọng Bình, 1995 Nghiên cứu mô
hình sinh trưởng của ba loài cây Thông nhựa (Pinus
merkusii), Thông mã vĩ (Pinus massoniana) và mỡ
(Manggletia glauca) trồng ở Việt Nam Tạp chí Sinh
học Tập 17, số 4, trang 3-5, 13
7 Nguyễn Trọng Bình, 2005 Lập biểu sinh trưởng và sản lượng tạm thời rừng Keo lai trồng thuần loài Tạp chí Nông nghiệp và PTNT.Số 13, trang 91-95
8 Nguyễn Trọng Bình và Nguyễn Văn Thêm,
2015 Ứng dụng SPSS để xử lý thông tin trong Lâm
nghiệp Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 292 trang
9 Nguyễn Văn Thêm, 2002 Sinh thái rừng Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội, 250 trang
10 Nguyễn Văn Thêm và Lê Hồng Việt, 2021
Những hàm độ thon đối với thân cây Tràm (Melaleuca
cajuputi Powell) ở khu vực Tây Nam Bộ Tạp chí Rừng
và Môi trường, Số 109, trang 82-86
11 Sharma M., Zhang SY., 2004 Variable-exponent taper equations for jack pine, black spruce, and balsam fir
in eastern Canada Forest Ecology and Management 198:39–53 doi: 10.1016/j.foreco.2004.03.035
12 Tang C., Wang CS., Pang SJ., Zhao ZG, Guo
JJ, Lei YC, Jeng J., 2017 Stem taper equations for
Betula alnoides in South China Journal of Tropical
Forest Science 29 (1); 80:92
13 Vũ Tiến Hinh, 2012 Phương pháp lập biểu thể
tích cây đứng rừng tự nhiên ở Việt Nam Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội, 196 trang
14 Westfall JA., and Scott CT., 2010 Taper models for commercail tree species in the Northeastern United States Forest Science 56 (6).
Trang 10DEVELOPING STEM TAPER FUNCTIONS FOR Acacia HYBRID
(Acacia auriculiformis*mangium) IN MONO-PLANTATIONS IN VIETNAM
Nguyen Van Them 1 , Nguyen Trong Binh 2 , Nguyen Trong Minh 2
1
Forestry Science and Technology Association of Ho Chi Minh City
2
Vietnam National University of Forestry
SUMMARY
This paper introduces the taper functions and harvested wood yield for statistics on insidebark and outsidebark timber volume and commercial timber stock for pure Acacia hybrid plantations in Vietnam The stem taper functions and wood yield functions for pure Acacia hybrid were constructed from 168 sample trees from the diameter classes 4 ÷ 24 cm The appropriate insidebark and outsidebark stem taper functions ware tested from
10 different candidate functions; in which 5 functions are proposed by Nguyen Van Them and Nguyen Trong Binh (2022) in this study The applicability of the insidebark and outsidebark stem taper functions was tested from 5 sample trees at the diameter classes from 8 ÷ 16 cm Research results show that these 10 functions describe well the stem taper of Acacia hybrid at the significance level of P < 0.01; where Them-Binh 2022d is the most appropriate function The stem taper functions, insidebark and outsidebark volume functions, and the insidebark and outsidebark commercial timber volume functions all received errors of less than 10.0%
Keywords: Acacia hybrid forest, insidebark stem taper, insidebark stem taper functions, outsidebark
stem taper, outsidebark stem taper functions
Ngày nhận bài : 09/02/2022
Ngày phản biện : 10/3/2022
Ngày quyết định đăng : 21/3/2022