Năm 2015, Công ty TNHH Kim Lân (sau đây gọi tắt là Công ty Kim Lân) và Công ty TNHH Nhật Linh (sau đây gọi tắt là Công ty Nhật Linh)ký hợp đồng nguyên tắc số 012015NLBNKL ngày 02012015 về việc Công ty Kim Lân sẽ cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật Linh. Hợp đồng này quy định cụ thể về thời gian giao hàng, phương thức thanh toán và các điều khoản khác. Quá trinh thực hiện hợp đồng, Công ty Kim Lân đã tiến hành giao đầy đủ số hàng theo yêu cầu của Công ty Nhật Linh. Ngày 25022016 Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã lập biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31122015, số tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân là 3.250.319.430 đồng. Ngày 08052016 Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh lập Biên bản đối chiếu công nợ lần 2 tính đến ngày 3042016, số tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân là 3.177.970.970 đồng. Ngày 0952016, Công ty Kim Lân đã có Công văn số 0506ĐNCV gửi Công ty Nhật Linh về việc đôn đốc thực hiện thanh toán tiền hàng còn nợ với Công ty theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25022016 tuy nhiên không nhận được phản hồi. Ngày 1752016 hai bên đã có buổi làm việc và thống nhất các vấn đề giữa hai bên , trong đó, Công ty Nhật Linh đã đồng ý thống nhất là có nợ Công ty Kim Lân với số tiền như tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25122016 và sẽ tiến hành lên lộ trình và phương thức thanh toán một cách sớm nhất. Ngày 2752016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào 3072016. Tuy nhiên, thực tế đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử thì Công ty Nhật Linh vẫn tiếp tục không thực hiện những cam kết của mình. Vì vậy, Ngày 1072016, Công ty Kim Lân có đơn khởi kiện công ty Nhật Linh tại TAND huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, yêu cầu TAND huyện Thuận Thành thụ lý giải quyết vụ án kiện đòi nợ tiền hàng giữa nguyên đơn là công ty Kim Lân và bị đơn là công ty Nhật Linh.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN DÂN SỰ
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
(Hồ sơ LS.DS13/B5.TH2-DA3/KDTM tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty TNHH Kim Lân và bị đơn Công ty TNHH Nhật Linh)
Họ và tên:
Ngày sinh:
Số báo danh:
Lớp:
Giảng viên hướng dẫn:
………
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP 3
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ 4
2.1 Những vấn đề pháp lý cơ bản 4
2.2 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 5
2.2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp 5
III Kế hoạch hỏi tại phiên tòa sơ thẩm với tư cách là LS của nguyên đơn 5
3.1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi nguyên đơn 5
3.2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi bị đơn 6
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN 6
4.1 Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 7
4.2 Về yêu cầu phản tố của bị đơn 8
V NHẬN XÉT DIỄN ÁN 10
5.1 Nhận xét chung 10
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP
Năm 2015, Công ty TNHH Kim Lân (sau đây gọi tắt là Công ty Kim Lân) và Công
ty TNHH Nhật Linh (sau đây gọi tắt là Công ty Nhật Linh)ký hợp đồng nguyên tắc
số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 về việc Công ty Kim Lân sẽ cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật Linh Hợp đồng này quy định cụ thể về thời gian giao hàng, phương thức thanh toán và các điều khoản khác
Quá trinh thực hiện hợp đồng, Công ty Kim Lân đã tiến hành giao đầy đủ số hàng theo yêu cầu của Công ty Nhật Linh Ngày 25/02/2016 Công ty Kim Lân và Công
ty Nhật Linh đã lập biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/12/2015, số tiền
mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân là 3.250.319.430 đồng
Ngày 08/05/2016 Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh lập Biên bản đối chiếu công nợ lần 2 tính đến ngày 30/4/2016, số tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân là 3.177.970.970 đồng
Ngày 09/5/2016, Công ty Kim Lân đã có Công văn số 0506ĐN/CV gửi Công ty Nhật Linh về việc đôn đốc thực hiện thanh toán tiền hàng còn nợ với Công ty theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 tuy nhiên không nhận được phản hồi Ngày 17/5/2016 hai bên đã có buổi làm việc và thống nhất các vấn đề giữa hai bên , trong đó, Công ty Nhật Linh đã đồng ý thống nhất là có nợ Công ty Kim Lân với số tiền như tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2016 và sẽ tiến hành lên lộ trình và phương thức thanh toán một cách sớm nhất
Ngày 27/5/2016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình
và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300.000.000 đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào 30/7/2016
Tuy nhiên, thực tế đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử thì Công ty Nhật Linh vẫn tiếp tục không thực hiện những cam kết của mình
Vì vậy, Ngày 10/7/2016, Công ty Kim Lân có đơn khởi kiện công ty Nhật Linh tại TAND huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, yêu cầu TAND huyện Thuận Thành thụ lý giải quyết vụ án kiện đòi nợ tiền hàng giữa nguyên đơn là công ty Kim Lân và bị đơn là công ty Nhật Linh
Trang 4II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ
2.1 Những vấn đề pháp lý cơ bản
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: tranh chấp mua bán hàng hóa trong hoạt động kinh doanh thương mại
- Thẩm quyền giải quyết:
+ Trong Hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thỏa thuận “Trong quá trình
thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hoặc tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng Nếu không thỏa thuận được thì hai bên sẽ kiện đến trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội” Tuy nhiên, tại thời
điểm khởi kiện là ngày 10/7/2016, trung tâm trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội không tồn tại hoặc đã giải thể Do đó, căn cứ quy định tại Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trọng tài thương mại, thỏa thuận Trọng tài mà hai công ty đã thỏa thuận là không thể thực hiện được và phải giải quyết bằng con đường tòa án
+ Căn cứ khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, và khoản 1 điều 39 BLTTDS 2015, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên
- Các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
+ Địa chỉ trụ sở chính: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
+ Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn, Chức vụ: Giám đốc
+ Đại diện theo ủy quyền: Kiều Thị Hải Vân, sinh ngày 05/8/1972, thẻ Luật sư
số 1311/LS, thuộc văn phòng luật sư Kiều Vân và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
+ Địa chỉ trụ sở chính: Cụm công nghiệp Thanh Khương, xã Thanh Khương,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
+ Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh, Chức vụ: Giám đốc
+ Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Tiến Công - Phó Giám đốc Công ty TNHH Nhật Linh Hộ khẩu thường trú: nhà B10, P102, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội
Trang 5- Thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại
là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Đ319 Luật thương mại năm 2005) Theo đó, đến ngày 07/6/2016, Kim Lân cho rằng công văn số
87/CV-NL của công ty TNHH Nhật Linh thể hiện việc không trả nợ cho công ty TNHH Kim Lân là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công ty TNHH Kim Lân nên đây là ngày bắt đầu tính thời hiệu Đến ngày 10/7/2016, Kim Lân khởi kiện Nhật Linh thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn
2.2 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tính đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Công ty Kim Lân yêu cầu Bị đơn - Công ty
TNHH Nhật Linh thanh toán tiền nợ mua hàng là 3.250.319.430 đồng và yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh thanh toán tiền lãi trên số tiền nợ chậm trả nêu trên là 250.000.000 đồng
Tuy nhiên, do một số khoản tiền hàng và thanh toán phát sinh năm 2016 chưa được hai bên đối chiếu công nợ nên tại phiên tòa sơ thẩm ngày 24/01/2017, công ty Kim Lân chỉ yêu cầu công ty Nhật Linh:
(1) Thanh toán số tiền nợ gốc là 3.177.970.970 đồng
(2) Thanh toán lãi chậm trả tạm tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 24/01/2017 là 296.371.478 đồng.
2.2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp
- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Kim Lân;
- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Nhật Linh;
- Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02/01/2015;
- Các phiếu nhập kho T1,T2,T3/2016;
- Uỷ nhiệm chi ngày 11/1/2016;
- Uỷ nhiệm chi ngày 30/1/2016;
- Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016;
- Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016;
- Bản sao Công văn 0506/ĐN/CV của Công ty Kim Lân gửi Công ty Nhật Linh;
- Biên bản làm việc ngày 17/5/2016
Trang 6III K Ế HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LS CỦA NGUYÊN ĐƠN
3.1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi nguyên đơn
- Ông cho HĐXX biết, Công ty Kim Lân đã hoàn tất nghĩa vụ giao hàng từng đợt theo Hợp đồng số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02/01/2015 chưa?
- Thời hạn thanh toán thỏa thuận tại hợp đồng đã ký là trong vòng 6 tháng kể từ ngày bên bán cung cấp các chứng từ trong đó có hóa đơn VAT Vậy ông trả lời cho HĐXX biết, Công ty Kim Lân đã cung cấp cho công ty Nhật Linh chưa?
- Ông cho HĐXX biết, tính đến thời điểm hiện tại, bị đơn còn nợ nguyên đơn chính xác bao nhiêu tiền?
- Ông cho HĐXX biết tại sao công ty Nhật Linh lại xây dựng các tài sản trên đất của nguyên đơn? Khi xây dựng công trình trên đất của nguyên đơn, bị đơn có xin phép không?
3.2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi bị đơn
- Ông cho HĐXX biết, biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016 đã được bên Nhật Linh ký tên và đóng dấu Vậy tại sao công ty Nhật Linh lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán?
- Ông cho HĐXX biết, các bên có thỏa thuận tại hợp đồng là bên Kim Lân phải ký vào bản kiểm kê tài sản thì bên Nhật Linh mới thanh toán nợ không?
- Ông cho HĐXX biết, tại sao Kim Lân lại lấy lý do trên để không thực hiện nghĩa vụ thanh toán?
- Ông cho HĐXX biết, trong biên bản làm việc ngày 17/5/2016 (BL 33), Nhật Linh có thừa nhận còn nợ tiền hàng và hứa sẽ thanh toán phải không?
- Ông cho HĐXX biết, Nhật Linh có gửi Công văn số 87/CV- NL (BL 06) ngày 7/6/2016 để từ chối không trả nợ phải không?
- Ông cho HĐXX biết, Nhật Linh có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh tài sản ở trên đất của Kim Lân thuộc quyền sở hữu của Nhật Linh không?
- Ông cho HĐXX biết, Nhật Linh có cung cấp được biên bản mà Kim Lân ký xác nhận những tài sản nào là của Nhật Linh không?
Trang 7IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa các vị luật sư đồng nghiệp
và toàn thể quý vị đang có mặt trong phiên toà ngày hôm nay!
Tôi là luật sư X, thuộc VP Luật sư X và cộng sự - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội Nhận lời mời của nguyên đơn, và được sự đồng ý của HĐXX, tôi tham gia phiên toà ngày hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Kim Lân– là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán với bị đơn
là bà Công ty TNHH Nhật Linh
Kính thưa HĐXX, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tham gia phần hỏi tại phiên toà, tôi xin trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Kim Lân như sau:
4.1 Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Thứ nhất, công ty TNHH Nhật Linh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02/01/2015 nên yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Kim Lân là có căn cứ.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có thể thấy Công ty Kim Lân đã hoàn thành việc giao hàng hóa (có sự xác nhận của công ty Nhật Linh) Tuy nhiên, tới thời hạn thanh toán, Công ty Nhật Linh đã không thực hiện nghĩa vụ này mặc dù Kim Lân đã nhiều lần gửi văn bản nhắc nhở Ngày 27/5/2016, tại công văn số 77/CVNL, Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: mỗi tuần thanh toán 1 lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các
ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016 Nhưng
trên thực tế, việc này đã không được bị đơn thực hiện như trong thông báo Đến ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ Kim Lân Đây là hành vi vi phạm hợp đồng được quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật
Thương mại năm 2005:“Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện
không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”.
Trang 8Thứ hai, công ty Nhật Linh đưa ra lý do không thanh toán cho công ty Kim Lân không hợp lý, không đúng quy định pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 23/08/2016 và tại biên bản công khai chứng cứ và hòa giải ngày 03/09/2016, bị đơn đưa ra lý do không thanh toán khoản nợ cho Kim Lân là vì Kim Lân chưa ký vào biên bản thống kê tài sản mà Nhật Linh đang để trên đất của Kim Lân Lý do Công ty Nhật Linh đưa ra để không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Kim Lân là không thuyết phục, bởi lẽ tại điểm 2.3, điều 2 trong hợp đồng nguyên tắc
số 01/2015/NLBN-KL ký ngày 02 tháng 1 năm 2015 giữa Kim Lân và Nhật Linh, phương thức thanh toán được các bên thỏa thuận là tiền mặt hoặc chuyển khoản (theo thỏa thuận, yêu cầu của bên bán), các bên không hề thỏa thuận thanh toán bằng đối trừ công nợ
Trang 9Ngoài ra, Điều 51 Luật thương mại 2005 quy định: “Trừ trường hợp có thoả
thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền mua hàng được quy định như sau:
1 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán
2 Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì
có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết.
3 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;
4 Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định của Luật này”.
Từ đó, có thể khẳng định rằng lý do mà Nhật Linh đưa ra để không thanh toán tiền hàng là không đúng quy định của pháp luật
Thứ ba, việc công ty Nhật Linh yêu cầu khấu trừ khoản nợ với công ty Kim Lân bằng các tài sản của Nhật Linh trên phần đất của Kim Lân là không có cơ sở.
Công ty Nhật Linh cho rằng, giữa nguyên đơn và Nhật Linh có ký kết hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 3/10/2008 và khẳng định Nhật Linh có 12 tải sản trên đất của Kim Lân Tuy nhiên, phía Nhật Linh không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho luận điểm này Do đó, việc công ty Nhật Linh yêu cầu đối trừ khoản
nợ với công ty Kim Lân bằng các tài sản của Nhật Linh trên phần đất của Kim Lân là không có cơ sở
4.2 Về yêu cầu phản tố của bị đơn
Theo Đơn phản tố ngày 17/11/2016, bị đơn đã có các yêu cầu phản tố yêu cầu công ty TNHH Kim Lân ký và hoàn trả lại toàn bộ số tài sản của công ty TNHH Nhật Linh (Bắc Ninh) trên đất của công ty TNHH Kim Lân
Tôi hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu phản tố và các căn cứ mà bị đơn đưa ra, bởi lẽ:
Tại văn bản ý kiến ngày 22/8/2016, bị đơn cho rằng năm 2006 ông Hàn Anh
Trang 10Nguyễn Chí Linh góp vốn bằng tiền mặt và ông Hàn Anh Tuấn góp vốn bằng quyền
sử dụng đất Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ đây là mối quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của 02 pháp nhân Bởi lẽ, Công ty TNHH Kim Lân và Công ty Nhật Linh có loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH 2 thành viên trở lên Việc ông Nguyễn Chí Linh góp vốn vào Công ty TNHH Kim Lân là điều dễ
hiểu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 60 Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Theo
quyết định của Hội đồng thành viên, Công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây: c) Tiếp nhận vốn góp của thành viên mới” Việc góp vốn giữa 02 cá
nhân nói trên vào Công ty TNHH Kim Lân được thực hiện từ năm 2006 nhưng mãi đến năm 2008, Công ty TNHH Nhật Linh mới được thành lập Như vậy, sẽ hết sức vô
lý khi hiểu rằng giữa Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh tồn tại thỏa thuận góp vốn
Công ty Nhật Linh cho rằng, giữa nguyên đơn và Nhật Linh có ký kết hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 03/10/2008 và khẳng định Nhật Linh có 12 tải sản trên đất của Kim Lân Tuy nhiên, phía Nhật Linh không đưa ra được tài liệu, chứng cứ như hợp đồng góp vốn, giấy chứng nhận đầu tư thể hiện rõ việc góp vốn Bị đơn cho biết
đã có biên bản xác nhận tài sản của công ty TNHH Nhật Linh Bắc Ninh đầu tư xây dựng trên đất của công ty TNHH Kim Lân ngày 06/3/2012 nhưng vẫn yêu cầu công ty TNHH Kim Lân phải ký xác nhận một số tài sản như nhà xưởng, kho tàng và các thiết
bị máy móc khác là không hợp lý
Ngoài ra, việc tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của Nhật Linh sau khi mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Bởi các lý do trên, tôi đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc bị đơn thanh toán khoản nợ và lãi suất như đã nêu trong yêu cầu khởi kiện
Kính thưa Hội đồng xét xử và vị đại diện Viện kiểm sát,
Dựa vào hồ sơ tài liệu, chứng cứ và diễn biến tại phiên toà hôm nay, với những trình bày, phân tích và căn cứ pháp lý như tôi đã nêu trên; chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và đưa ra quyết định để đảm bảo công lý được thực thi:
1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, cụ thể: