Trong Holocen, sự phát triển của khu vực ven bờ chịu sự chỉ phối của quan hệ tương tác của chuyển động kiến tạo, sự thay đổi mực biển Chân tĩnh và quá trình trầm tích.. Trên các đới nân
Trang 1Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, T4 (2004), Số 3, Tr.25-42
ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỜ VÀ DAO ĐỘNG MỤC BIỂN HOLOCEN
Ở KHU VỤC HẢI PHÒNG
TRAN BUC THANH®, DINH VAN HUY, NGUYEN CAN®, DANG DUC NGA®, Tóm tắt Về cơ bản, các kiến trúc hình thái dương và âm ở khu vực Hải phòng phát triển kế thừa trên nên các đới kiến trúc nâng và hạ tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại Tuy
nhiên, kiến trúc hình thái âm vùng cửa sông Bạch Đằng phát triển mở rộng một phần cả trên nên đới nâng điểu hoà Đó là kết quả ảnh hưởng của biển tiến chân tĩnh Holocen ở một khu vực ven bờ địa hình bị chia cắt mạnh Trong Holocen, sự phát triển của khu vực ven
bờ chịu sự chỉ phối của quan hệ tương tác của chuyển động kiến tạo, sự thay đổi mực biển Chân tĩnh và quá trình trầm tích Có sự khác biệt lớn về bề đày trầm tích Holocen thuộc các
hé tang Hai Hung (Qy.'? hh) va Thái Bình (Q„.Ÿ tb) trên các đới nâng và hạ kiến tạo Ở khu vực Đông Bắc, trầm tích chủ yếu là các tướng đâm lay sii vẹt và triểu thấp, rất hiểm gặp các
lớp móng tướng dưới triểu Trên các đới nâng mạnh và một phần nâng điều hoà, trầm tích
của cả hai hệ tầng này hầu như chỉ là tướng đâm lây sú vẹt.Tất cả các thêm tích biển bác (3-3.5m) tuổi đầu Holocen muộn, I (4-6m) tuổi giữa Holocen giữa, II (8-12m) tuổi cuối
Pleistocen muộn và các ngấn ăn mòn biển có độ cao tương đương trên vách đá vôi đêu nằm trên các đới nâng kiến tạo liện đại Có 5 hệ đê cát cổ Holocen được hình thành trong quá trình tiến hoá bờ, phản ánh khá rõ sự thay đổi tương đối của mực biển Hệ 1 cao 4-6m, tuổi giữa Holocen giữa, hệ 2 cao 3-3,5m, trổi đầu Holocen muộn; hệ 3 cao 2-2,5m, tuổi giữa Holocen muộn; hệ 4 cao 2,5-3m, tuổi cuối Holocen miện và hệ 5 cao 3-3,5m, tuổi hiện nay Trong đó hệ thứ 3 nằm giữa, thấp nhất, tuổi khoảng I nghìn năm trước Sự lài, lấn của đường bờ một số lần trong từng giai đoạn kể từ sau 7 nghìn năm chủ yếu do quan hệ giữa
tốc độ lắng đọng trầm tích và sự dao động mực nước biển như là kết quả tổng hợp của
chuyển động kiến tạo và nâng chân tĩnh ,
Đao động mực nước biển tĩnh ở khu vực trong Holocen được chứng tỏ là nâng cao dan cho đến ngày nay Trong khi đó, mực nước tương đối-vị trí đường bờ thay đổi dao động hình sin theo biên độ nhỏ dân qua trục mực biển trung bình hiện nay Vị trí nuực nước biển tương đối cao nhất +4-6m vào thời gian 5-6 nghìn năm trước, sau đó hạ thấp hơn hiện nay 2,5-4m vào 3-4 nghìn năm trước, tương ứng tuổi của văn hoá Hạ Long va đì chỉ khảo cổ Tràng Kênh Tiếp theo, vị trí mực nước tương đối nâng cao hơn hiện nay 3-3,5m vào 2-3 nghìn năm trước, rồi hạ dân thấp hơn hién nay 15m vao khoảng ] nghìn năm trước, sau đó nâng dân đến ngày nay Nhóm cư dân cổ Việt Khê phân cách về thời gian với cư dân cổ Tràng Kênh qua đợt biển lấn vào 2-3 nghìn năm trước Vào khoảng l nghìn năm trước, mực biển tương đối hạ thấp nhất trong Holocen muộn, khi mà đồng bằng châu thổ sông Hồng ít bị lí ngập
nhất .Một nghìn năm qua, châu thổ ở khu vực Tây Nam Hải Phòng vẫn tiếp tục bồi lấn ra
biển, trong điều kiện mực biển đâng cao nhưng nhỏ hơn tốc độ lắng đọng trầm tích Khoảng 3-7 trăm năm trước, Đồ Sơn gắn với đồng bằng bồi tụ để biến thành bán đảo Từ đó, vùng
cửa sông Bạch Đằng chuyển hoá từ chế độ châu thổ (delta) có động lực sông thống trị, sang
chế độ hình phễu (estuary) có động lực biển thống trị Cả ba trận thuỷ chiến Bạch Đằng ở
thế kỷ X-XIH đêu xảy ra khi vùng cửa Bạch Đằng còn ở chế độ châu thổ,-bờ lấn xa hơn ra
phía biển và lòng sông nông, hẹp hơn hiện nay
25
Trang 2I MO DAU
Hải Phòng có vị trí đặc biệt, nằm chuyển tiếp giữa ven bờ Dong Bac va chau thổ sông Hồng, giữa kiến trúc Caledolit và trũng địa hào Kainozoi Do địa hình ven bờ đa đạng, có mặt cả đồng bằng, đồi núi lục nguyên, đá vôi và kiến tạo hiện đại phân dị sâu sắc thành các đới nâng, hạ nên ở đây hầu như có đầy đủ tư liệu về các sự kiện liên quan đến dao động mực nước Holocen ven bờ Đây là một khu vực thuận lợi cho nghiên cứu địa chất Holocen và vì thế đã được nhiều người quan tâm [7,9,18,20,22, 26] Dựa vào kết quả nghiên cứu nhiều năm về địa mạo, tân kiến tạo- kiến tạo hiện đại, địa tầng-cổ sinh và tham khảo các tài liệu khác, bài viết này trình bày những nét cơ bản về quá trình phát triển bờ và dao động mực nước Holocen ở khu vực ven bờ Hải Phòng, có liên hệ với một
số di tích, sự kiện khảo cổ và lịch sử Mặc dù còn những hạn chế về số liệu tuổi tuyệt đối, bài viết đã cố gắng trình bày một cách có hệ thống bản chất, qui mô và trình tự diễn biến của các sự kiện phát triển bờ trong Holocen của Hải Phòng, được coi là đại diện cho ven
bờ Bắc Bộ
H QUAN HỆ BỀ DÀY TRẦM TÍCH VÀ PHÂN DỊ KIẾN TẠO
Trầm tích Đệ tứ ở Hải Phòng dày từ vài mét đến trên trăm mét [9, 24, 26] Trong đó, trầm tích Holocen có chỗ dày tới 25-30m như ở Tây Nam Đồ Sơn Chắc chấn, Hải Phòng
có mặt 4 hệ tầng theo thứ tự trẻ dần là: Hệ tầng Hà Nội (Q; „ hn) nguồn gốc aluvi sông;
hệ tầng Vĩnh Phúc (Q„„¡ˆ vp) là phức hệ trầm tích châu thổ, nguồn gốc biển, sông biển,
aluvi sông; hệ tầng Hải Hưng (Q,y'? hh) nguồn gốc biển, sông biển và đầm lây biển; hệ
tầng Thái Bình (Q,¿` tb) đa nguồn gốc (hình 1) Ở Tây Nam Hải Phòng có thể có mặt hệ tầng Lệ Chi, tuổi Pleistocen sớm [26]
Trên nền phân dị phức tạp của vận động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại (TKT và KTHĐ) ở khu vực Hải Phòng có mặt các đới nâng, hạ tương đối (hình 2) Đó là các đới nâng Kiến An - Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên - Quảng Yên, Cát Bà và các đới nâng điều hoà trong giai đoạn KTHĐ ở phía Tây Cát Bà, Nam Thuỷ Nguyên, Đông Bắc Kiến An - Đồ Sơn tạo thành những dải hẹp, chuyển tiếp và khâu nối các đới nâng và sụt hạ Các đới sụt
hạ gồm đới Hải Phòng (hay vùng cửa sông Bạch Đằng) ở phía Đông Bắc và các đới Kiến Thuy-Tién Lãng, Vĩnh Bảo ở phía Tây Nam đới nâng Kiến An-Đồ Sơn [1, 2]
Chuyển động kiến tạo trong Holocen chi phối sâu sắc tướng, bề dày các thành tạo tram tích hệ tâng Hải Hưng (Q,„'Ÿ hh), hệ tầng Thái Bình (Q,¿` tb) và sự phát triển địa hình liên quan Bề dày trầm tích tang dan từ đới nâng sang đới sụt hạ Ở khu vực Đông Bắc Đồ Sơn, trên đới nâng tương đối mạnh, bề dày hệ tầng Hải Hưng đạt 0,3-1,4m, là yếu
tố cơ bản tạo thêm tích tụ biển bậc II và đồng bằng hiện nay Trầm tích hệ tầng Thái Bình chỉ dày 0-1,5m, tạo nên phần lớn bề mặt đồng bằng thấp ven biển hiện nay và thêm 26
Trang 3tích tụ biển bậc I Ở đới nâng điều hoà, trầm tích Q,y'? day 0,8-1,2m, Q,y* day 1,2-1,8m
Ở rìa đới sụt hạ tương đối, trầm tich Q,y'? day 1,5-6,5m, Q,y’ day 1,2-2,5m Ở trung tam
đới sụt hạ tương đối mạnh, trầm tích Q,y'” dày 8,2-11m, Q,„` dày 1,8-5m và phát triển rộng rãi bãi triều và hệ lạch triều [2, 22, 24] Ở các đới sụt hạ mạnh, bề dày Holocen thường trén 10m va dat trên 20m
Tại Hải Phòng, có thể phân biệt 3 kiến trúc hình thái dương (KTHT) và 3 KTHT am Chúng cơ bản phù hợp, phát triển kế thừa trên các đới nâng và hạ trong TKT và KTHĐ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biển tiến chân tĩnh Holocen, kiến trúc hình thái am Hải Phòng (vùng cửa sông Bạch Đằng) phát triển mở rộng trên cả các đới nâng điều hoà viền quanh các đới nâng mạnh, mặc dù trầm tích Holocen tại đây rất mỏng Căn cứ vào các dấu hiệu về sự thay đổi tướng và bề dày trầm tích, dấu vết đường bờ và ngấn biển cổ trên các đới kiến trúc TKT và KTHĐ khác nhau, và so sánh với biểu đồ dâng mực biển chân tinh cua Shepard (1963), da xác định được tốc độ nâng và sụt hạ ở các đới khác nhau trong Holocen Tốc độ nâng ở đới nâng tương đối mạnh, vào khoảng 1,8-2,0 mm/năm từ giữa Holocen giữa tới.nay Tốc độ hạ ở đới sụt Hải Phòng tương đối mạnh, vào khoảng 0,18 mm/năm từ đầu Holocen giữa tới nay và 0,20 mm/năm từ đầu Holocen muộn tới nay, cực đại 0,8mm/năm ở phần trung tâm [2]
Hình 1 Mặt cắt trầm tích Holocen Hải Phòng
a Mặt cắt trầm tích Holocen Kiến An - Cát Bà
* Xa tae lye 1 Yok tay f ah An rer as gre % we Pyar : tye ¬ te inks the ade ard lng " eo ⁄ ở - 4 ` weer
+ \ Serer X V7 ees Cine t 3 b Re la wate đ ¬ si
ề ; oo
+
NN ~ a = i —¬— Mở ` — we > `
~~] ~ Thành SS ^
' Ni WY) UY; ⁄ MỊN
Ghi chit:
1 Đá lục nguyên (LK 10/324 Lễ khoan và số liệu)
2 Đá gốc cacbonat -
3 Sét, sét - bột, cát bột xám vàng, xám nâu phần trên màu vàng loang lổ, nguồn gốc aluvi (châu thổ), tuổi Pleistocen muộn (am Q„¡?)
4 Cát hạt nhỏ xám vàng, nguồn gốc aluvi, tuổi Holocen sớm (aQ,v')
5 Sét - bột, sét xám đen, xám xanh, nguồn gốc biển và đầm lây - biển, tuổi Holocen sớm - giữa
(mbQy,'”)
6 Cát bùn xám đen nguồn gốc hồ -đầm lây, tuổi Holocen giữa (IbQ,,2)
7 Cát bột màu xám nâu, nguồn gốc biển, tuổi đầu Holocen muộn (mQ,¿Ätb,)
8a Cát biển tướng val bờ, tuổi Holocen mu6n (mQ,,"tb,)
8b Sét bột xám xanh, nguồn gốc biển- đầm lầy (lagun), tuổi đầu Holocen muộn (mbQ, 'tb,)
27
Trang 49 Các trầm tích biển, sông - biển, hiện đại (m, am, Q,¿1b,): a Bãi bồi; b Bãi triều cao; c Bãi triều thấp; d Delta triều; e Luồng lạch
b Mặt cắt trầm tích Holocen Yên Lập - Cát Hải
Ghi chú:
1 Cát nhỏ xám vàng, tướng aluvi, tuổi Holocen sớm (aQ,v})
PI Nền xét bột đẻo quánh, màu loang lổ, nguồn gốc châu thổ nổi, tuổi Pleistocen muộn
(amQ,,’)
x Mặt tích tụ giàu sắt tại ranh giới Holocen giữa và Holocen muộn
Ý Vị trí lỗ khoan, hố đào
*Su vet
MBCN - Mực biển cao nhất
MBTN - Mực biển thấp nhất
MBTB - Mực biển trung bình
2 Sét, xanh lục, tướng hồ Holocen sớm - giữa (IQ,„!?)
3 Sét, bột xám xanh, xám nâu, xám đen, nguồn gốc biển và đâm lầy - biển, tuổi Holocen sớm -
3a Cát biển tướng val bờ, tuổi Holocen giữa (mQ,,?)
4 Cát, bùn nhão, nguồn gốc hồ - đầm, tuổi Holocen giữa (Q,,2)
5 Cát bột tướng triều thấp và dưới triều, tuổi đầu Holocen muộn (mQ, #tb')
6 Sét bột xám xanh, nguồn gốc biển - dam lay (lagun), tuổi đầu và giữa Holocen muộn
(mbQ,,"tb'”)
6a Cát biển tướng val bờ, tuổi giữa Holocen muộn (mQ,vtb?)
6b Cát biển tướng val bờ, tuổi đầu Holocen muộn (mbQ, tb))
7 Bùn bột nâu phủ mặt bãi triều lầy, hiện đại
7a Bùn bột tướng bãi triều thấp, hiện đại
7b.Bùn bột tướng sườn bờ ngầm và đáy luồng, hiện đại
28
Trang 5Hình 2 Sơ đồ kiến trúc tân kiến tạo, kiến tạo hiện đại và biểu
hiện địa chấn vùng cửa sông Bạch Đằng
dự
iM
; e
BNE rasta
xế | vớ
“TAX
`
ON
VER LANG
ld
` ef
¬ 7
Sor
Ca
:
Ghi chú:
DA
ae
- Đới kiến trúc nâng trong tân kiến tạo và kiến
tạo hiện đại
- Đới biểu hiện nâng điều hoà trong kién tao
hién dai ;
- Đới có biểu hiện nâng hạ kiến tạo tương đối
trong giai đoạn hiện đại
- Ranh giới đới nâng hạ tương đối mạnh trong
Holocen
- Đường đẳng trị biên độ nâng hạ kiến tạo
- Đứt gãy thuận vạch ngắn chỉ hướng cắm của
mặt trượt
- Đứt gấy sâu, hoạt động trong giai đoạn tân
kiến tạo vä kiến tạo hiện đại có biểu hiện động
đất mạnh
- Phương trượt của đứt gãy trong pha
Oligocen - Miocen (P,-N,)
- Phương trượt của đứt gãy trong pha
Pliocen - Đệ tứ (N:-Q)
- Đứt gãy hoạt động trong giai đoạn tân
kiến tạo hiện đại có biểu hiện động đất
trung bình cao
- Dut gay hoat động trong giai đạon tân
kiến tạo hiện đại có biểu hiện động đất
trung bình cao
- Đứt gãy tân kiến tạo và kiến tạo hiện
đại có biểu hiện động đất yếu
- Chấn tâm động đất đạt 2,5-3,0 độ Richter
- Chấn tâm động đất đạt 4,1-4,5 độ Richter
- Chấn tâm động đất dat 4,6-5,0 độ Richter
- Chấn tâm động đất đạt 5,1-6,0 độ Richter
29
Trang 6Hình 3 Sơ đồ biến đổi vị trí đường bờ Holocen vùng cửa sông Bạch Đăng
Tỷ lệ 1: 100000 0 1 2Km
SA ŸsÂ2s2ssa.sEF
Ly CV Vy GBP
namie
¢ * ONS ERS *
Mee ewe
ag
Anh Dú rig} me
+
KIEN THUY © 4
® 1d HC
CHỦ GIẢI Gita Holocen lita (3000-0000 ndin)
hy x ——(C tuổi ÍloloceH piĩa CÍDQD nằm]
SOs Pres Dau Holecen mudn (Khouny 3000 udin
J— c——= \ — JU HÍfOlQCCH HUIỎN
(khoảng 2300-3000 năm)
Bản có Ý—— Ga Hialocen nhiên (TQQỒ nằm) Exexese«xee Gitte Holacen mudn (300-70! nà]
we Wink Quang Hon Dau
30
Trang 7Hình 4 Sự thay đổi mực nước đại đương trong Holocen
Nahin nein tries
-
at fo
ay SU
da
+1
nen c2, Theo Đ (1957)
SO me
Hinh 5 Biéu do dự kiến sự thay đối mực nước biển tương đối - vị trí
đường bờ ở ven bờ Bắc Bộ
Nginn nắp Diên
“7
¢
“
“
ĐỒ năm
+ SỞ năm
su
Ot}
Ill MOT SO DAC DIEM CO BAN DIA HINH VEN BO
1 Đồng bằng không bị ngập triều
Đồng bằng tích tụ sông - biển Pleistocen muộn ( Qạy), phát triển trên đới nâng điều
hoà TKT và KTHP tạo thành dải hẹp trong các thung lũng ở đảo Cát Bà, bề mặt cao 10-
31
Trang 815m, cấu tạo từ các trầm tích cát bột, sét màu vàng hệ tâng Vĩnh Phúc O Bac Thuỷ Nguyên, bể mặt thể hiện bằng những gò đống, tiếng địa phương gọi là các "đượng”, rộng từ vài chục đến vài trăm mÝ lộ ra trên bề mặt đồng bằng Holocen giữa Ở phía Tây
Bắc Hải Phòng, bề mặt bị phủ một lớp mỏng trầm tích sông biển Holocen giữa Ở Đình
Vũ, Cát Hải thuộc kiến trúc - hình thái hạ mạnh trong Holocen, bề mặt nằm sâu 12-13m dưới trầm tích Holocen
Đồng bằng tích tụ sông - biển Holocen giữa (Q„ˆ), phát triển trên đới nâng điêu
hoà, bê mặt có độ cao phổ biến 2-4m, phân bố thành các mảng lớn xung quanh các đới nâng và trên đới nâng điều hoà Trầm tích bề mặt là sét, bột, cát lẫn tàn tích thực vật của
hệ tầng Hải Hưng Trên bề mặt phủ một lớp mỏng sét loang lổ do phong hoá nhẹ Sau khi được tích tụ, các chuyển động kiến tạo hiện đại đã nâng cao và hình thành bẻ mặt đồng
bằng này
Đồng bằng tích tụ sông - biển, dâm lây - biển tuổi Holocen muộn (QạŠ) trên đới
nâng điều hoà và suf TKT, khá rộng và thoải, cao 0,8-1,5m, có thể bị ngập nước khi
triều cao, nhưng có đê bảo vệ Bề mặt cấu tạo từ trầm tích bột, sét và tàn tích thực vật
thuộc hệ tầng Thái Bình, có bề dày trong đới nâng tương đối mạnh là Im, trong đới nâng điều hoà I,5m, trong đới võng hạ 2- 3m Ở rìa các đới nâng mạnh, một bộ phận
của bề mặt được nâng cao tạo thành dải thêm biển hẹp cao 3 - 3,5m
2 Đồng bằng ngập triều
Bai triéu cao phát triển trên đới nâng ở ven rìa đồng bằng, sát chân các đồi phía Bắc Thuỷ Nguyên trong KTHT dương Thuỷ Nguyên - Quảng Yên, bẻ dày trầm tích hệ tầng Thái Bình 1-1,Šm, mặt đáy nằm sâu -0,§ đến +0,6m Cấu trúc bãi (tính đến mực
OmHÐĐ) có 4 lớp từ trên xuống dưới: lớp 1- trầm tích rừng ngập mặn (RNM) màu xám nâu; 2- trầm tích RNM xám xanh; 3-trầm tích RNM xám nâu và 4- bột sét lót đáy loang
lổ Lớp 1 thuộc hệ tầng Thái Bình (Q,„)), lớp 2 và 3 thuộc hệ tầng Hải Hưng (Q,„'”), lớp
4 thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc °
Bai triéu cao phát triển trên đới hạ phát triển rộng khắp Ở cửa sông Bạch Đằng,
bề dày hệ tầng Thái Bình đạt 2-3m, đáy nằm sâu -2,5 đến -1,5m Cấu trúc bãi có 3 lớp đều thuộc hệ tầng Thái Bình: 1- tram tích RNM màu xám nâu ở bề mặt; 2- trầm tích
RNM xám xanh và 3- trầm tích bãi triều thấp Ở Tây Nam Đồ Sơn, cấu trúc bãi chỉ gồm
hai lớp Lớp trên bùn bột sét nâu, lớp dưới cát bột xám nâu
Bai triéu thấp phát triển trên đới sụt hạ thiếu hụt bồi tích, phân bố ở khu vực cửa sông Bạch Đằng, trên KTHT âm ở phía Bắc bán đảo Đồ Sơn, sụt hạ KTHĐ khá mạnh Do nguồn cấp bồi tích từ sông nhỏ, tốc độ ngập chìm (sụt hạ kiến tạo và dâng chân tĩnh) lớn hơn tốc độ lắng đọng, đã có tình trạng tích tụ không đền bù Quá trình xói lở bãi triều
32
Trang 9cao, tích tụ bãi triều thấp diễn ra mạnh mẽ, đã tạo ra kiểu bãi triều mài mòn-tích tụ như ở Đượng Gianh (Phù Long)
Bãi triều thấp phát triển trên đới sụt hạ có đền bù bồi tích phân bổ ở phía Tây Nam Đồ Sơn trong KTHT âm Kiến Thuy - Tiên Lãng Nguồn bồi tích từ các sông Văn
Úc, Thái Bình khá lớn nên tốc độ trầm tích lớn hơn tốc độ ngập chìm Cấu trúc bãi triều thấp chỉ gồm một lớp trầm tích cát bột có màu nâu, nâu xám, đang được bồi lấn biển ra biển
3 Các thêm tích tụ biển
Thêm tích tụ biển bậc IHI, Pleistocen muộn (Qui), trên đới nâng TKT, xâm thực yếu, cao 8-12m, dưới dạng đê cát, cuội sỏi nối đảo ở Đồ Sơn và Ao Cối - Cát Bà Ở Ao Gối thêm được cấu tạo bởi cát, sạn, cuội chứa mảnh san hô, vỏ thân mềm biển và đá cuội bazan Ở Đồ Sơn thêm được cấu tạo bởi cuội, sỏi, cát có độ mài mòn và chọn lọc tốt
Thêm tích tụ biển bậc II, Holocen giữa (Qnˆ) trên đới nâng và nâng điều hoà, cao
4 - 6m, phân bố hạn chế sát chân đồi ở Cát Bà, Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên, được cấu tạo từ cất, cuội, sỏi màu xám vàng chứa vỏ thân mềm biển, tướng bãi biển Thêm được thành tạo khi biển mở rộng cực đại vào khoảng 5-6 nghìn năm trước
Thêm tích tụ biển bậc I Holocen muộn (Q„*) trên đới nâng và nâng điều hoà, cao 3- 3,5m, cấu tạo từ cát nhỏ, sạn, cuội, mài tròn, chọn lọc tốt, chứa thân mềm biển, tướng bãi biển, tuổi khoảng 2.000-3.000 năm trước Chúng gặp ở nhiều nơi như Đồ Sơn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, hiện đang bị xói lở phổ biến do sóng biển
4 Các hệ thống đê cát biển
Hệ Ï : cao 4-6m, tương đương thêm tích tụ bậc II, tuổi Holocen giữa, cấu tạo từ cát trung và thô, kéo dài từ Tiên Lãng (Khởi Nghĩa, Tiên Tiến) qua Quốc lộ 10 (Thuỷ Nguyên) và tiếp tục sang Quảng Yên
Hệ 2: cao 3-3,5m, tương đường thêm tích tụ bậc I, tuổi đầu Holocen muộn, khoảng 2000-3000 năm trước, cấu tạo bởi cát hạt nhỏ màu xám vàng, xám nhạt, phân bố sát
hệ đê cát II ở Thuỷ Nguyên, tiếp tục kéo tới làng An Biên cổ ở nội thành rồi sang Kiến
An, Tiên Lãng
Hệ 3: cao 2-2,5m, tuổi giữa Holocen muộn, khoảng 2000-1000 năm trước, cấu tạo bởi cát hạt nhỏ màu xám vàng đến xám nhạt, phân bố từ Phù Long, Cát Hải sang Tràng Cát và tiếp tục ở Kiến Thụy, Tiên Lãng
Hệ 4: cao 2,5-3m, tuổi cuối Holocen muộn, khoảng 700-500 năm trước, cấu tạo bởi cát hạt nhỏ màu xám, xám vàng, phân bố từ Đồ Sơn, Kiến Thụy sang Vinh Quang (Tiên Lãng)
Hệ 5: cao 3-3,5m, tuổi hiện nay, cấu tạo bởi cát hạt nhỏ màu xám nhạt, vàng nhạt, phân bố ở ven bờ Đượng Gianh, Cát Hải, Đình Vũ và Vinh Quang
33
Trang 10Như vậy, theo mặt cắt ngang ra phía biển, độ cao các đê cát giảm dần từ hệ 1 đến hệ
3 chứng minh cho quá trình hạ thấp tương đối mực biển và độ cao tăng dân từ hệ 3 đến hệ
5 chứng minh cho quá trình nâng cao tương đối mực biển [7]
5 Các thêm mài mòn và ngấn biển cổ
Thém mai mon (bench) được hình thành ngay dưới chân vách đốc do giật lùi dần của vách dưới tác động của sóng biển và có độ cao ngang mực nước biển đương thời Ở Duong Gianh, Cát Hải, Đình Vũ có các thêm rộng 20-50m, cao 0,4-2m phát triển trên nên trầm tích bở rời do bờ đang bị xói lở Ở Đồ Sơn thêm mài mòn phát triển 3 bậc có độ cao khác nhau: bậc trên cao 2-2,5m ngang mực biển đầu Holocen muộn, bậc giữa cao ngang mực biển trung bình hiện nay và đang phát triển, bậc thấp cao -0,5 đến -1,0m so với mực biển trung bình, có lẽ ứng với mực nước hạ thấp vào khoảng nghìn năm trước
Các ngấn biển cổ Holocen dưới dạng các hàm ếch tạo ra do ăn mòn hoá học của nước biển và sóng vỗ trên vách đá vôi Cát Bà và Hạ Long đã được xác định có hai ngấn chính [18, 23] Ngấn trên cao 4-6m (so với mực biển trung bình hiện nay), tương đương thềm biển bậc II, ứng với mực biển tương đối nâng cao nhất vào giữa Holocen giữa, khoảng 5-6 nghìn năm trước Ngấn dưới cao 3-3,5m, tương đương thêm bién bac I, ứng với mực đỉnh của đợt biển lấn vào đầu Holocen muộn, khoảng 2-3 nghìn năm trước Gần đây, những số liệu tuổi tuyệt đối mới có ở vịnh Hạ Long và Ninh Bình cũng cho thấy ngấn trên tuổi tập trung vào 5-6 nghìn năm trước và ngấn dưới là 2-3 nghìn năm trước [10] Tại vùng bờ đá vôi Hà Tiên ở phía Nam, cũng tồn tại hai ngấn ăn mòn biển Ngan trên cao 45m cũng có tuổi tuyệt đối 5-6 nghìn năm trước, nhưng ngấn dưới cao 2,5m, khác với khu vực Hải Phòng-Hạ Long, có tuổi 4150 năm trước [13]
IV ĐẶC DIEM PHAT TRIEN VUNG VEN BO TRONG HOLOCEN
Cuối Pleistocen muộn có một đợt biển tiến vào ven bờ Bắc Bộ và khi rút đã tạo ra trầm tích thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc Ở ven rìa đồi núi ở Đồ Sơn, Cát Bà đã hình thành các thêm tích tụ biển bậc II dạng nối đảo, trên vách đá vôi quần đảo Cát Bà, Long Châu
và ở Thuỷ Nguyên còn dấu tích các ngấn mài mòn biển có độ cao 8-12m Một số giá trị tuổi tuyệt đối của các ngấn này đã được xác định, trẻ nhất là khoảng 33 nghìn năm trước [10] Sau đó là thời kỳ biển lùi, liên quan đến đợt băng hà lần cuối, đường bờ tiến ra ngoài cửa vịnh Bác Bộ Bề mặt đồng bằng Vĩnh Phúc vừa được thành tạo bị phong hoá mạnh có màu sắc loang lổ Quá trình sông hoạt động mạnh đã xâm cắt bề mặt đáy Vịnh Bác Bộ, tạo nên mạng thung lũng sông cổ bị ngập chìm có dạng cành cây và hầu hết có hướng nối với các sông trên lục địa hiện nay
Sang Holocen, biển tiến xuất phát từ độ sâu 100-120m, tốc độ lúc đầu khá lớn và sau đó chậm dần Trong quá trình biển tiến có một số lần thay đổi tốc độ do nguyên nhân 34