Hòa thượng Narada trong Ðức Phật và Phật Pháp đã giải thích về nội hàm của Từ - “Mettā”: T ừ Mettā là hiền lành, hảo tâm, tình thương bao trùm tất cả chúng sanh không có bất luận s ự p
Trang 1[6] PHẠM TRÙ LÒNG TỪ (METTĀ) TỪ BÀI KINH LÒNG TỪ
(METTĀSUTTAṂ) ĐẾN HỆ THỐNG LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT
GAUTAMA
[Thiều Thị Trà Mi 1 ] Tóm t ắt
Trong các l ời dạy của Đức Phật Gautama, Tâm (Cittā) giữ vai trò dẫn đầu mọi hoạt động của
Thân, Kh ẩu và Ý Với Ý Ô nhiễm hay Trong sạch hạnh phúc hoặc đau khổ sẽ theo sau,
t ạo thành chuỗi phản ứng nhân quả nghiệp báo Tâm Từ (Mettācitta) là một tâm sở (Cetasika ) đặc biệt có thể giúp tẩy sạch mọi uế nhiễm oan trái oán thù của Tâm sân hận
c ố chấp
Tâm T ừ là một phép mầu nhiệm của Tâm làm thay đỗi mọi oan trái buồn phiền thông qua phương
pháp th ực tập Rải lòng từ và Thiền Tâm Từ (Mettā Bhāvanā/ Loving-Kindness Meditation)
6.1 ĐỊNH NGHĨA PHẠM TRÙ LÒNG TỪ (METTĀ)
6.1.1 Định nghĩa Lòng Từ theo hướng khẳng định:
Mettā2: nhân t ừ, tình bằng hữu (Pali Viet Dictionary Bản dịch của ngài Bửu Chơn); tâm từ
(Pali Viet Abhidhamma Terms c ủa ngài Tịnh Sự) Loving-Kindness (Buddhist Dictionary
c ủa Nyanatiloka) hay Benevolence (Concise Pali-English Dictionary của A-P
Buddhadatta Mahathera) trong ti ếng Anh được dịch tương đương cho từ mettā có thể
chuy ển ngữ sang tiếng Việt là lòng nhân từ, lòng nhân đức
Hòa thượng Narada trong Ðức Phật và Phật Pháp đã giải thích về nội hàm của Từ - “Mettā”:
T ừ (Mettā) là hiền lành, hảo tâm, tình thương bao trùm tất cả chúng sanh không có bất luận
s ự phân biệt nào Mettā là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người
b ạn tốt, là lòng ước mong chân thành cho tất cả chúng sinh đều được sống an lành vui v ẻ (Ngài Narada, 1998, tr.100)
6.1.2 Định nghĩa Lòng từ theo hướng phủ định (loại suy):
Ngài Narada cũng viết rằng: Nghịch nghĩa của sân hận (vyapada) là Avyapada, Từ ái, có thiện
chí, m ột Phạn ngữ đồng nghĩa với tâm "Từ" (Ngài Narada, 1998, tr.100) Ngài cũng chỉ
ra và phân bi ệt Mettā với thứ tình cảm dính mắc của thế gian
[Tâm] T ừ (mettā) không phải là tình thương có liên quan đến nhục dục ngũ trần
[kāma-ta ṇhā]3 hay lòng trìu m ến cá nhân đối với một người nào
K ẻ thù trực tiếp của tâm từ là sân hận, oán ghét, hay ta không ưa thích, bực mình (kodha)
K ẻ thù gián tiếp là lòng trìu mến cá nhân (pema)
1 Ths Nhân học, học viên lớp Pāḷi chùa Hộ Pháp, học viên lớp tài năng T2s
2 Nguồn: http://dictionary.sutta.org/browse/m/mett%C4%81
3 Tất cả nội dung trong ngoặc vuông […] đều là chú thích của tác giả
Trang 2(Ngài Narada, 1998, tr.346)
Ngài H ộ Pháp cũng viết trong cuốn sách “Tâm từ” rằng đối lập với tình thương trong tâm từ là
hai lo ại tình thương khác: (1) có nhân tham và đưa đến sân và (2) hạn hẹp trong sự câu thúc c ủa thân quyến, có tính chất như sau:
Đối với loại tình thương thứ nhất, Ðức Phật dạy: "Tham ái là nhân sanh khổ đế" Nếu đối tượng
được thương yêu làm điều gì không đáp ứng được tâm tham muốn thì chủ nhân của tình
thương này cảm thấy
b ất mãn, thất vọng Cho nên, khi tham
mà được hài lòng, thì
s ẽ làm nhân sanh khổ lâu dài Tâm tham là nhân, mà tâm sân là
qu ả Nghĩa là tham [ái] mà không được như ý của mình, thì chính tâm tham ấy làm nhân duyên phát sanh tâm sân thù ghét, phá ho ại đối tượng chúng sinh, con người ấy Do đó, tình thương yêu phát sanh từ tâm tham gọi là tâm
t ừ giả
Lo ại tình thương thứ hai, tình thương trong gia đình, dòng họ Nếu tình thương này xuất phát từ
tâm tha m thì gây đau khổ như loại tình thương thứ nhất Nếu tình thương này xuất phát từ tâm thi ện [chẳng hạn như hướng người thân hành mười điều phước thiện hay khuyến dụ
gi ữ giới, tham thiền…] thì tâm thiện ấy cũng bị giới hạn trong mối quan hệ huyết thống, khó được trong sạch hoàn toàn
H ình 1 Ba xu hướng thương yêu
Nói m ột cách khái quát, tình thương luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không so sánh được với tâm Từ là
tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ bao la Do đó tâm Từ không đồng nghĩa với tình thương yêu ích kỷ “Người thực hiện tâm Từ đến mức cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người Cái gọi
với tâm tham
ái (taṇhāpema) (gehasitapematrong gia đình )
với lòng từ
(mettā-adosa)
TÌNH THƯƠNG
(Pema)
3 xu hướng thương yêu
Trang 3là "ta" l ần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn vật Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan,
bi ến mất như đám sương mờ trong nắng sáng Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất” (Ngài Narada, 1998, tr 404 – 405)
H ình 2 Độ rộng của các loại tình cảm
M ở rộng theo Siêu lý học (Abhidhamma), Mettācitta: Ngài Hộ Pháp viết trong cuốn sách “Tâm
t ừ”, tâm từ (Mettācitta) chính là tâm sở vô sân đồng sanh trong đại thiện tâm có đối
tượng là tất cả chúng sinh Do đó, dù đối tượng chúng sinh có biến đổi tốt hoặc xấu4 v.v , thì thi ện tâm có tâm sở vô sân, tâm từ vẫn không biến đổi theo đối tượng chúng sinh
ấy Tâm sở vô sân thuộc loại tâm sở tịnh hảo (sobhanacetasika) đồng sanh với tất cả tịnh
h ảo tâm (sobhanacitta) có 6 đối tượng: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần
và pháp tr ần gồm có đối tượng chân nghĩa pháp và chế định pháp
6.2 BÀI KINH LÒNG T Ừ
6.2.1 Nguồn gốc
Vào mùa an cư kiết hạ, 500 vị tỳ-khưu đến rặng núi Himavantu (Vassana) để an cư mùa mưa
Do oai l ực giới đức trong sạch của các vị tỳ-khưu, làm cho nhóm chư thiên ngự trong lâu đài của
mình trên c ội cây không thể ở yên ổn được nên Chư Thiên ở khu vực này đã hội họp, bàn
lu ận với nhau rằng: "Những vị Tỳ khưu này sẽ ở lại đây suốt ba tháng mùa mưa, chúng ta không m ột ai dám trở lại lâu đài của mình trên cây Chúng ta làm cách nào để các vị ấy
r ời khỏi khu rừng núi này"
Chư thiên tại rừng núi này thấy bất tiện về sự có mặt của nhóm các vị tỳ-khưu nên làm sự sợ hãi
b ằng hình ảnh, tiếng kêu ghê rợn và thần rừng làm ra mùi hôi thối để các vị tỳ-khưu rời
đi sớm Nhưng các vị tỳ-khưu vẫn cam chịu để tiếp tục lưu lại trú xứ này để tu tiến Khi m ột vị trưởng lão trong nhóm các thầy tỳ-khưu này nhận ra sự gầy gò và vàng vọt của các vị
t ỳ-khưu khác, ngài y theo lời Phật dạy cho đây là trú xứ không phù hợp nên khuyên tất cả quay v ề và xin một trú xứ khác
4 Đối tượng của tâm từ là chúng sinh đáng yêu, đáng mến, đáng kính (piyamanāpasattapaññatti), thuộc chế định pháp
Lòng từ
Tình yêu thiên nhiên Tình người Tình đồng chủng Tình thân quen Tình dục và luyến ái
Trang 46.2.2 Thời điểm thuyết
T ại Savathi, khi 500 vị tỳ-khưu trở về bên đức Phật, đức Phật quán sát khắp cõi Diêm phù không
th ấy trú xứ nào có thể thích hợp nên đã giảng lên bài Kinh Metta như điều bảo toàn trước
s ự sợ hãi và là đề mục thiền định
Nh ững tư tưởng Từ ái an lành được ban rải ra, thấm nhuần bầu không khí trong toàn khu rừng
Các v ị thọ thần ở khắp nơi trong rừng nghe Kinh cảm thấy thanh bình an lạc, phát tâm
k ỉnh mộ chư Tăng, và kể từ đó thay vì khuấy nhiễu làm trở ngại, tận tình hộ trì và nâng
đỡ chư Tăng Trong thời đại ba tháng an cư kiết hạ, Vassana, tất cả chư vị tỳ khưu trong
nhóm đều chứng đắc Đạo Quả A La Hán (Ngài Narada, 1998, tr 503)
6.2.3 Lợi ích của bài Kinh Lòng Từ
Hình 3 11 lợi ích của bài kinh lòng từ
Ngoài nh ững lợi ích có tánh cách hữu hình, tâm Từ còn có năng lực hấp dẫn mạnh mẽ phi thường
Tâm T ừ có thể gieo những ảnh hưởng tốt đẹp từ xa đến một người khác Mọi người đều
11 lợi ích của bài Kinh Lòng Từ (AN 11.15)
Ngủ an lành
Thức an lành
Không thấy
ác mộng
Người yêu mến
Phi nhân quí mến
Chư thiên
hộ trì
Lửa, thuốc độc, vũ khí không hại đến
Nhanh đạt tâm định
Sắc diện
tươi sáng
Lúc sắp chết không mê
Nếu chưa níp - bàn thì sanh làm Phạm thiên
Trang 5c ảm thấy yên vui khi ở gần người lành (Ngài Narada, 1998, tr 410) Có Tâm Từ là có
h ạnh phúc Sống lân cận với người có Tâm Từ cũng được hưởng phần nào trạng thái mát
m ẻ (Ngài Narada, 1998, tr 398)
6.2.4 Giải thích nội dung bài Kinh Lòng Từ
Bài Kinh Metta Sutta này v ừa có tánh cách bảo hộ, vừa là một đề mục hành thiền Phần đầu bài
Kinh mô t ả những phẩm hạnh mà người mong tìm tình trạng an lành cho mình cần nên trau gi ồi, và phần sau là phương pháp thực hành tâm Từ, được giải thích cặn kẽ (Ngài Narada, 1998, tr 503)
Ð ối với những hành giả trú ngụ nơi rừng núi, muốn tiến hành đề mục niệm rải tâm từ, Ðức Phật
d ạy những hành giả ấy, trước khi tiến hành đề mục niệm rải tâm từ, cần phải nên thực hành đầy đủ 15 pháp hành tương thích với đoạn 1, 2, 3 và 4 đầu bài Kinh Lòng Từ gọi là
Mettāpubbabhāgapaṭipadā: Pháp hành phần đầu của đề mục niệm rải tâm từ, đúng theo
tinh th ần cốt lõi của bài kinh Mettāsutta này
Nh ững hành giả có trí tuệ sáng suốt mong muốn sự lợi ích cao thượng chứng ngộ Niết Bàn Ðối
v ới hành giả tiến hành đề mục niệm rải tâm từ, trước tiên cần phải thực hành đầy đủ 15 pháp hành (sau đó bắt đầu tiến hành đề mục niệm rải tâm từ) như sau:
Santindriyo Nipako Appagabbho Kulesu ananugiddho Yena viññū pare
upavadeyyum, na ca khuddamācare kiñci
B ảng 1 15 pháp hành
1- Sakko: là người có khả năng, nghĩa là có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, có tính chân thật, có
s ức khoẻ tốt, có sự tinh tấn không ngừng, trí tuệ có khả năng hiểu biết rõ về pháp học và pháp hành
2- Uju: là người ngay thẳng, chân thật, hành thiện pháp, không hề gian dối bằng thân, bằng khẩu
3- Sahuju: là người có tính tình trung thực, hành thiện pháp bằng ý nghĩ
4- Suvaco: là người dễ dạy, khuyên dạy thế nào, thì thực hành như thế ấy, không phải là người
c ứng đầu khó dạy
5- Mudu: là người nhu mì, tính hiền lành, thân hành động nhẹ nhàng mềm mỏng; khẩu nói lời êm
d ịu, dễ nghe; ý nghĩ những điều thiện, thương yêu, kính mến mọi người
6- Anatimāni: không ngã mạn, không tự cho mình hơn người hoặc bằng người hoặc thua người;
đối với người lớn hơn mình, thì cung kính lễ phép; đối với người bằng mình, thì sống hoà nhã; đối với người nhỏ hơn mình, thì tận tình giúp đỡ
7- Santussako: là người biết tri túc trong của cải của mình Tri túc trong của cải có 3 ý nghĩa:
- Hài lòng trong c ủa cải mình đã có sẵn
- Hài lòng trong c ủa cải của mình đang có được
Trang 6- Hài lòng trong c ủa cải dù tốt dù xấu (tâm không coi trọng đồ tốt, không coi khinh đồ xấu)
8- Subharo: là người dễ nuôi, người khác nuôi dưỡng như thế nào cũng hoan hỉ như thế ấy, không
h ề lựa chọn, phân biệt tốt xấu, ngon dở, nhiều ít, có không, v.v
9- Appakicco: là người ít công ít việc Ðối với hành giả tiến hành thiền định, tiến hành thiền tuệ
ít công vi ệc chừng nào tốt chừng ấy; vì ít công việc thì mới có nhiều thì giờ hành đạo
10- Sallahuvutti: là người có đời sống nhẹ nhàng; đi lại nhẹ nhàng, giống như con chim có đôi
cánh để bay, có cái mỏ để kiếm ăn vừa đủ nuôi mạng trong ngày Hành giả có đời sống
nh ẹ nhàng, đối với bậc xuất gia chỉ cần có 8 món vật dụng cần thiết hằng ngày, nhất là tam y m ặc che thân, có cái bát để đi khất thực nuôi mạng trong ngày
11- Santindriyo: là người biết thu thúc lục căn thanh tịnh Khi mắt nhìn thấy sắc đẹp hoặc xấu;
khi tai nghe âm thanh hay ho ặc dở; khi mũi ngửi mùi thơm hoặc hôi; khi lưỡi nếm vị ngon
ho ặc dở; khi thân xúc giác cứng hoặc mềm, nóng hoặc lạnh v.v ; khi tâm biết các đối tượng đáng hài lòng hoặc không đáng hài lòng, hành giả biết thu thúc lục căn thanh tịnh không để cho phiền não tham, sân, si phát sanh, chỉ có thiện tâm phát sanh mà thôi
12- Nipako: là người có trí tuệ thông minh sáng suốt, hiểu biết rõ sự lợi ích cao thượng Niết Bàn,
ch ỉ mong thực hành pháp hành thiền tuệ để mau chóng chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế,
ch ứng đắc 4 Thánh Ðạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn giải thoát khổ sanh mà thôi
13- Appagabbho: là người có thân, khẩu, ý được trau dồi thuần đức
14- Kulesu ananugiddho: là người không quyến luyến trong các gia đình, để tránh tình trạng vui
cùng vui v ới nhau, khổ cùng khổ với nhau
15- Yena viññū pare upavadeyyuṃ, na ca khuddamācare kiñci: những bậc Thiện trí chê trách điều
ác nào, không làm điều ác ấy dù là rất nhỏ
6.3 LÒNG T Ừ VÀ TÂM TỪ TRONG HỆ THỐNG PHÁP HỌC VÀ PHÁP HÀNH CỦA
PH ẬT GIÁO THERAVADA
Tâm từ trong đối chiếu trong các tài liệu Phật học (Pariyattidhamma)
Kh ảo sát tâm từ trong Tạng Kinh (Sutta Pitaka)
Vào th ời Đức Phật trú tại thị trấn Koliya, nhóm các vị tỳ khưu đã đến để vấn đạo Ngài trước giờ
kh ất thực Đức Phật giảng về phẩm chất của tâm từ câu sanh cùng bậc Thánh đã đoạn tận
năm triền cái trong bài Kinh Từ, phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi, chương 46 Tương Ưng Giác Chi như sau: “Sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm
y ếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ […] cùng khắp thế
gi ới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn v ới tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân …”5
Trong Kinh Sa môn Qu ả, Trường Bộ Kinh (bài 2) Đức Phật Gautama nhắc đến lòng từ như là
m ột phẩm chất của vị sa môn khi đã an trú giới hạnh trong giới luật “Đại Vương! Thế nào
là T ỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Đại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, b ỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm úy, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc
c ủa chúng sanh và hữu tình” […] Đồng thời, với lòng từ mẫn vị sa môn đối trị sân hận
5 Tương tự như vậy với ba trạng thái tâm còn lại thuộc tứ vô lượng tâm – Bi, Hỷ, Xả
Trang 7sâu bên trong tâm “(68) Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm h ết tham ái Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót t ất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận”
Trong Kinh Ca-di ếp Sư tử hống, Trường Bộ Kinh có đoạn nói về việc thực hành tâm từ bi có
th ể đưa đến cứu cánh, và một lần nữa cho thấy sự bế tắc của truyền thống tu hành khổ
h ạnh của các tôn giáo khác:
“Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận
các l ậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa T ỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn” Chứ không phải theo l ối tu tập tiết chế ăn uống đến độ nửa tháng chỉ ăn một bữa, chỉ ăn các thứ thực vật hoang d ại hay rơi rụng, hoặc mặc vải gai thô và thực hành hạnh tắm ngày ba lần nhằm gột
r ửa tội lỗi mà “không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc6, th ời vị
ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị”
Đức Phật khẳng định “Này Kassapa, vì ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này,
Sa-môn h ạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành trì, vẫn thật khó hành trì, do vậy thật
x ứng đáng mà nói: "Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!" Này Kassapa, n ếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự tận
di ệt các lậu hoặc tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô
l ậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.”
Trong bài Kinh Tướng, Trường Bộ kinh nói về tâm từ bi và quả của nghiệp hiện bày qua hình
tướng các đời kiếp được Đức Phật lý giải:
“Này các Tỷ-kheo, Như Lai lúc xưa làm Người, có thói quen không ngó liếc, không ngó xiên,
không ngó tr ộm, nhưng với tâm chánh trực mở rộng, cao thượng, Ngài nhìn Ðại chúng
v ới tâm từ bi Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại
m ạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này Sau khi tạ thế từ chỗ kia, Ngài sanh l ại tại chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: cặp mắt hết sức xanh và lông
mi như con bò cái.”
Liên quan đến việc thu thúc lời nói nhằm giữ tâm thanh tịnh, Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ
kinh (ph ẩm 04-06) rằng “Năm pháp nào cần phải an trú nội tâm? Ta nói đúng thời, không
ph ải phi thời; ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; ta nói lời nhu hòa, không
ph ải nói lời thô bạo; ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận” Trái ngược với an trú nội tâm như
th ế, ở phẩm 07-09, Đức Phật dạy tiếp về 10 tà pháp trong đó có “không từ bi” nơi người
6 Giới cụ túc, Tâm cụ túc, Tuệ cụ túc được nhắc lại giản lược ở Kinh Ca-diếp Sư tử hống này và được trình bày đầy đủ trong bài Kinh Sa môn quả
Giới cụ túc: tránh xa các tà mạng, nhờ vậy không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về sự hộ trì giới luật, hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh;
Tâm cụ túc: thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần giúp thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần;
Tuệ cụ túc: tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bình thản giúp dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến
Trang 8t ỳ-khưu ví như con quạ, đó là “Ngạo nghễ, hung hãn, cường dục, ăn lớn, độc ác, không từ
bi, khi ếp nhược, giọng chói tai, vọng niệm và cất chứa tài sản.”
Trong Tương Ưng Bộ kinh, chương 5 Đức Phật nói về trạng thái của việc nghe pháp và thuyết
pháp m ột cách thanh tịnh với sự từ bi “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người
có trí t ự mình giác hiểu Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng Và sau khi nghe pháp, mong h ọ được hiểu rõ pháp Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thi ện pháp tánh (dhammasudhammata) thuyết pháp cho các người khác Duyên lòng
t ừ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”
Chuy ện Phật thu phục Voi bằng tâm từ bi?
Tâm từ trong Tứ Phạm trú (Cattāro brahma vihāra)
"Brahma Vihara" có nghĩa là lối sống cao thượng, trạng thái cao siêu, hoặc chỗ nương tựa của
b ậc thánh nhân Ta gọi là Tứ Vô Lượng Tâm Tứ Vô Lượng Tâm giúp con người trở nên toàn thi ện và có lối sống của bậc thánh, trong kiếp hiện tại Tứ Vô Lượng Tâm có khả năng biến đổi người thường ra bậc siêu nhân, phàm ra thánh Nếu mỗi người đều cố gắng công th ực hành Tứ Vô Lượng Tâm, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, nam nữ v.v
qu ả địa cầu nầy sẽ trở thành một thiên đàng, trong đó tất cả chúng sanh chung sống an vui trong tình huynh đệ, và mỗi người sẽ là một công dân lý tưởng trong một thế giới thanh bình an l ạc (Ngài Narada, 1998, tr 403; Ngài Tịnh Sự, 2017, tr 528)
B ốn đức độ cao thượng ấy cũng được gọi là "Appamanna", rộng lớn bao la, vì Từ, Bi, Hỷ, Xả
không b ờ bến, không biên cương, không bị hạn định Tứ Vô Lượng Tâm bao trùm tất cả chúng sanh, không tr ừ bỏ một sanh linh nhỏ bé nào Từ, Bi, Hỷ, Xả là vô lượng, vô biên (Ngài Narada, 1998, tr 404)
Sân h ận (Dosa) là một tật xấu có sức tàn phá vô cùng khốc liệt Đối diện với lòng sân, tâm Từ
(mettācitta) là một đức độ nhẹ nhàng êm dịu làm cho con người trở nên cao thượng, tuyệt luân
Hung b ạo (Himsa) là một tật xấu khác đã gây nên biết bao tội ác và biết bao hành động bạo tàn
trên th ế gian Tâm Bi (Karuna) là vị thuốc công hiệu để tiêu trừ bệnh hung bạo
Ganh t ỵ (Issa) là chất độc cho cơ thể, vừa là động lực thúc đẩy con người vào những cuộc ganh
đua nhơ bẩn và những hoàn cảnh tranh chấp hiểm nguy Phương thuốc trị liệu nhiệm màu
và công hi ệu nhất để trị bệnh ganh tỵ là tâm Hỷ (Mudita)
Bám níu vào nh ững gì ưa thích, và bất toại nguyện với những điều không vừa lòng làm cho tâm
m ất bình thản Do sự phát triển tâm Xả (Upekkha), hai tệ đoạn trên sẽ bị tiêu diệt dần dần (Ngài Narada, 1998, tr 403)
Tâm từ trong Bát chi Thánh đạo (Ariyaṭṭhaṅgikamagga)
Bat chi Chánh Đạo gồm tám yếu tố, hay tám chi, được kể ra như sau: 1.- Chánh kiến (Samma
ditthi); 2.- Chánh Tư Duy (Samma Samkappa); 3.- Chánh Ngữ (Samma Vaca); 4.- Chánh Nghi ệp (Samma Kammanta); 5.- Chánh Mạng (Samma Ajiva); 6.- Chánh Tinh Tấn (Samma Vayama); 7.- Chánh Ni ệm (Samma Sati); 8.- Chánh Định (Samma Samadhi), trong đó:
Trang 9Ngài Narada (1998, tr 201) phân tách Chánh Tư Duy gồm ba phần:
a.- Nekkhamma, xu ất gia, là sự từ khước những dục vọng trần tục, hay lòng vị tha, nghịch nghĩa
v ới tâm luyên ái, vị kỹ, bám níu vào tư sản
b.- Avyapada, tâm t ừ ái, thiện chí , hay hảo tâm, nghịch nghĩa với thù hận, ác ý, ganh ghét Trong
đó, rải tâm Từ đến tất cả chúng sanh, hòa đồng với tất cả, tự mình chan hòa trong toàn thể
để không còn tự giam hãm mình trong sự hẹp hòi, phân biệt hay vị kỹ (Ngài Narada, 1998,
tr 203) Cùng v ới đó là tâm Bi, nhằm vào hạng chúng sanh xấu số, chuyên lo nâng đỡ người thấp hèn, nghèo đói, cô thân, tuyệt vọng, chăm nom săn sóc người đau ốm bệnh
ho ạn, khuyên nhủ và an ủi người thất bại, dẫn dắt và cứu vớt người tội lỗi, và soi sáng người tối tăm (Ngài Narada, 1998, tr 204)
Chánh Tư Duy dẫn đến Chánh Ngữ, Lời lẽ của người giàu lòng từ ái bi mẫn không những chân
th ật dịu dàng mà còn hữu ích và luôn đem lợi lộc lại cho kẻ khác (Ngài Narada, 1998, tr 205)
c.- Avihimsa, không hung b ạo, hay ôn hòa, hiền lương, bi mẫn, nghịch nghĩa với tính hung bạo,
tàn ác
Tâm từ ba-la-mật (Pāramitā)
Ngài Narada cho r ằng, Tâm Từ quan trọng nhất trong các Ba La Mật Chính Tâm Từ (mettācitta)
đã thúc giục Bồ Tát từ khước sự giải thoát riêng rẽ của mình để cứu độ tha nhân Tâm Ngài đã thấm nhuần tình thương vô hạn vô biên đối với tất cả, không phân biệt giai cấp,
ch ủng tộc, tôn giáo, nam nữ (Ngài Narada, 1998, tr 397)
Đức Phật tạo pháp hạnh ba la mật từ tâm - mettāpāramī vào tiền kiếp bồ tát Ngài là Bà-la-môn
Araka Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng: Trong thời quá-khứ, các bậc tiền bối thiện-trí
th ựchành niệm rải tâm-từ vô lượng suốt 7 năm Sau khi chết, sắc-giới thiện-nghiệp cho
qu ả tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm vị phạm-thiên trên cõi sắc-giới phạm-thiên suốt 7 kiếp trái đất hoại và kiếp trái đất trụ (saṃvaṭṭakappavivaṭṭakappa) Đến khi Đức-Phật Gautama
xu ất hiện trên thế gian, những hậu-kiếp của nhân vật trong tích ấy liên quan đến kiếp
hiện-t ại như sau: Nhóm đệ tử đạo-sĩ, nay kiếp hiện-tại họ là tứ chúng (tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni,
cận-s ự-nam, cận-sự-nữ) (Ngài Hộ Pháp, 2018, tr 350)
Đức-Bồ-tát tiền kiếp của Đức-Phật Gautama sinh làm con của đạo-sĩ Dukūla và nữ đạo-sĩ Pārikā,
t ạo pháp-hạnh tâm-từ ba-lamật bậc trung Do thực hành tứ vô lượng tâm miên mật, không ngơi nghỉ nên khi Đức-Bồ-tát Suvaṇṇasāma bị mũi tên độc đâm vào thân thể đau đớn vô cùng, nhưng Đức-Bồ-tát vẫn nhẫn-nại chịu đựng, không hề phát sinh sân-tâm Đó là do
nh ờ năng lực tâm-từ đè nén, chế ngự được sân-tâm Đó là nhờ năng lực của tâm-từ trong đại-thiện-tâm của hành-giả đã trở thành thói quen hằng ngày (Ngài Hộ Pháp, 2018, tr 404)
Đức-vua Bồ-tát Ekarāja là tiền-kiếp của Đức-Phật Gautama, tạo pháp hạnh tâm-từ ba-la-mật bậc
thượng Dù trong hoàn cảnh bất lợi, ngặt nghèo ấy, tiền-kiếp Như-Lai vẫn cảm thấy
an-l ạc do nhờ năng lực tâm-từ hỗ trợ thực-hành pháp-hành thiền-định với đề-mục niệm rải tâm-t ừ vô lượng đến tất cả chúng-sinh
Tâm từ trong pháp hành (Paṭipattidhamma)
Cách r ải lòng từ
Trang 10Chú gi ải Kinh Lòng Từ do ngài Buddhaghosa biên soạn, ngài Ñānamoli chuyển Anh ngữ và được
d ịch bởi Tỳ-khưu Thiện Minh hướng dẫn cách thực hành như sau:
- Đọc mỗi sáng và mỗi tối
- 2 câu T ừ tâm rồi đọc 1 câu điều an toàn, rồi đọc 2 câu bất tịnh, và 2 câu sự chết
- Vào ngày th ứ 8 mỗi tháng là ngày nghe pháp nên nổi chiêng lên và tụng Metta Sutta rồi
thuy ết pháp và ban phước
Trước tiên, hành giả phải gieo trồng tâm Từ cho chính mình Vì Đức Phật giảng trong Tăng Chi
B ộ kinh (phẩm 13-18) rằng “Này Ananda, lòng từ bi không có thể khởi lên một khi Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não! (mà các Thầy không có phản ứng)” Muốn vậy, phải
r ải khắp thân và tâm những tư tưởng an vui hạnh phúc Hành giả tưởng niệm: "Tâm tôi
r ất yên tĩnh, thân tôi rất an vui Tôi không bệnh họan, không phiền não, không lo âu, không sân h ận Tôi thể hiện tâm Từ Hào quang từ ái bao phủ chung quanh tôi, dập tắt mọi tư tưởng ích kỹ, mọi xúc động thù nghịch Tôi không còn cảm xúc trước cơn xung nộ xấu xa
c ủa kẻ khác Tôi đáp lại cái xấu bằng cái tốt, sân hận bằng tâm Từ." Hằng ngày rèn luyện tinh th ần như thế, dần dần hành giả trở nên vô cùng quãng đại, quên tất cả những điều xấu
xa c ủa kẻ khác và giữ tâm hoàn toàn trong sạch, không còn bợn nhơ sân hận, oán thù (Ngài Narada, 1998, tr 413)
Sau khi th ực hành đầy đủ 15 pháp hành phần đầu của bài kinh Tâm Từ, đến giai đoạn thứ nhì,
hành gi ả bắt đầu tiến hành niệm rải tâm từ theo tinh thần cốt lõi bài kinh Tâm Từ
(Mettāsutta) có 2 phần:
I- Ph ần đầu: Hành giả niệm rải tâm từ, cầu mong tất cả chúng sinh được sự tiến hoá, sự an lạc
g ọi là: hitasukhāgamapatthanāmettā
Trong ph ần này, niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh có ba phương pháp:
1- Sabbasa ṅgāhikamettā: Tiến hành niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh tổng hợp
2- Dukabhāvanāmettā: Tiến hành niệm rải tâm từ đến chúng sinh có 2 nhóm 3- Tikabhāvanāmettā: Tiến hành niệm rải tâm từ đến chúng sinh có 3 nhóm
1- Ti ến hành niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh tổng hợp như thế nào?
Ti ến hành niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh tổng hợp gom vào nhau, không phân loại chúng
sinh khác nhau Hành gi ả tiến hành niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh không giới hạn, theo bài k ệ trong bài kinh Tâm Từ như sau:
"Sukhino vā khemino hontu
Sabbe sattā bhavantu sukhitattā"
(C ầu mong tất cả chúng sinh, thân thường an lạc, được bình an vô sự; tâm thường được an lạc)
Khai tri ển phương pháp niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh tổng hợp này theo trạng thái có ba
phương pháp tiến hành:
Hành gi ả tiến hành niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh rằng:
"Sabbe sattā sukhino hontu"
(C ầu mong tất cả chúng sinh, thân thường được an lạc)