1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thời kỳ khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng- mon học kinh tế phát triển

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thời kỳ khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng
Tác giả Trần Thị Làn
Trường học Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 92,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ tại Việt Nam hiện nay Sự phối hợp giữa hai CSTK và CSTT nhằm đưa nền kinh tế vận hành đúng quy luật, khai thác được động lực to lớn của nền kinh tế

Trang 1

Môn : kinh tế phát triển

Họ tên: Trần Thị Làn

Lớp:

Số thứ tự: 47

Chuyên đề: sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thời kỳ khôi phục nền kinh tế sau khủng hoảng.

Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) là hai công cụ quan trọng trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào Hai chính sách này tuy có những chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế chung của mỗi quốc gia Bài viết đánh giá thực sự phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp phối hợp hiệu quả hai chính sách nói trên

Phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ tại Việt Nam hiện nay

Sự phối hợp giữa hai CSTK và CSTT nhằm đưa nền kinh tế vận hành đúng quy luật, khai thác được động lực to lớn của nền kinh tế thị trường phục vụ phát triển là mục tiêu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp này luôn gặp phải những vấn đề phức tạp

về mức độ, thời điểm, cách thức và cơ chế vận hành Phối hợp hai chính sách này như thế nào cho hợp lý và tối ưu để phục vụ 2 mục tiêu: ổn định

và phát triển là vấn đề đặt ra cần giải quyết, nhất là trong bối cảnh nền kinh

tế còn gặp nhiều khó khăn như năm 2013

Trang 2

Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, trong thời gian qua, CSTT được điều hành linh hoạt, thận trọng và liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn, còn CSTK được hoàn thiện theo hướng bảo đảm thống nhất, minh bạch và công bằng Năm 2012 và 2013, Chính phủ đã đưa ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, hỗ trợ thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện ổn định vĩ mô còn chưa vững chắc là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước Trong đó, những gói giải pháp tài khóa và tiền tệ được triển khai đồng bộ luôn có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả cũng như mục tiêu đề ra

Cụ thể, tình hình kinh tế - xã hội năm 2012 đã có những kết quả tích cực,

cơ bản hoàn thành được các mục tiêu đề ra Các giải pháp kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục phát huy hiệu quả Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp so với năm 2011 Cán cân thanh toán quốc tế cải thiện; lãi suất giảm mạnh; thanh khoản của hệ thống ngân hàng được đảm bảo; kim ngạch xuất khẩu ước tăng đáng kể

so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra; dự trữ ngoại hối được cải thiện; tỷ giá ổn định Khó khăn trong sản xuất, kinh doanh từng bước được tháo gỡ và có chuyển biến tích cực

Nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế tập trung vào ba lĩnh vực trọng tâm là tái

cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu ngân hàng thương mại và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã và đang được triển khai tích cực Những chuyển biến tích cực trên có phần quan trọng là do CSTK và CSTT đã được ban hành kịp thời, hết sức linh hoạt, đi liền với thực tiễn, đặc biệt là hai chính sách này đã ăn khớp với nhau hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên, sự phối hợp của hai chính sách vĩ mô này vẫn còn nhiều hạn chế, có những lúc còn chưa thực

sự nhịp nhàng Lúc CSTT “thắt” quá chặt, trong khi CSTK lại mở rộng; có lúc tín dụng mở rất nhanh nhưng đầu tư nhà nước lại mở chậm Liều lượng và mức độ sử dụng các công cụ từng thời kỳ, giai đoạn chưa tạo ra sức mạnh kết hợp tổng thể Sự phối hợp trong việc hoạch định và thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài hạn, sự phối hợp trong việc sử dụng các công cụ còn hạn chế

Trang 3

Thực tế những năm qua, để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, nhiều thời điểm quan điểm nới rộng cùng lúc đã được cả hai chính sách nói trên áp dụng, triển khai (cho vay tăng trưởng tín dụng cao, tăng đầu tư công ) Điển hình là năm 2009, “liều thuốc” nói trên đã giúp Việt Nam tăng trưởng 5,3% và kiềm chế lạm phát ở mức 6,8%

Tuy nhiên, bước sang năm 2010, trong khi CSTT đã giảm dần mức độ nới lỏng thì CSTK lại chưa được thắt lại tương ứng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2009 Kết quả là, dù tốc độ tăng trưởng năm 2010 đạt 6,78%, nhưng lạm phát lại tăng tới 11,75% (cao gần gấp 2 lần so với năm 2009) Năm 2011, mức mục tiêu kìm giữ lạm phát được đặt

ra ban đầu là dưới 7%, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát bình quân của

3 năm liền trước đó (12,73%)

Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã buộc phải cắt giảm cung tiền và tăng trưởng tín dụng một cách đột ngột, gây ra những hệ quả không mong muốn như lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng thẳng, thị trường chứng khoán suy kiệt, bất động sản đóng băng Kết quả, lạm phát năm 2011 tăng vọt lên 18,13% Bước sang năm

2012, các chỉ tiêu tăng trưởng được đề ra cơ bản đều đạt được và phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc biệt lạm phát đã trở lại tăng ở mức một con

số đúng như mục tiêu ban đầu nhưng tăng trưởng tín dụng lại không như mong muốn

Có những thời điểm CSTT và CSTK được điều hành khá độc lập, thiếu sự phối hợp nhịp nhàng dẫn đến sự xung đột, triệt tiêu hoặc làm giảm hiệu quả của 1 trong 2 chính sách Bên cạnh đó, trong quá trình thực thi chính sách cũng xuất hiện những vấn đề phức tạp phát sinh trong kết hợp hai chính sách này đó là sự lựa chọn chính sách và phương thức vận hành

Cụ thể như:

Thứ nhất, CSTK thắt chặt thể hiện ở việc giảm đầu tư công, bên cạnh việc thu hẹp danh mục và quy mô đầu tư để tái cấu trúc lại đầu tư công đang dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều sản phẩm và công trình hay dự án dở dang Trong trường hợp Chính phủ không chấp nhận sự phá sản của ngân hàng, các khoản nợ được tái cơ cấu sẽ do Nhà nước gánh chịu Điều này

vô hình chung sẽ chuyển các khoản nợ DN thành nợ của Nhà nước và khiến Nhà nước vừa là chủ nợ vừa là con nợ DN và ngân hàng có thể đổ gánh nặng và chuyển các loại rủi ro này lên CSTK do Chính phủ hoạch định

Trang 4

Thứ hai, với CSTT thắt chặt, các DN tiếp cận nguồn vốn khó khăn, mặc dù

cơ chế nới lỏng tín dụng đã được áp dụng cuối năm 2011, nhưng vẫn chưa được thực hiện triệt để trong thực tế Chính sách này làm cho DN trong nước khó mở rộng sản xuất - kinh doanh, tạo khả năng sáp nhập, mua lại

DN trong điều kiện DN nước ngoài có tiềm lực lớn, nguy cơ bị thôn tính và thâu tóm lớn hơn Hơn nữa, khi các DN trong nước khó mở rộng thị phần ngay trên thị trường trong nước thì các DN có vốn đầu tư nước ngoài có thể chớp lấy cơ hội này để mở rộng thị trường, gây ảnh hưởng và tạo được những nền tảng để phát triển trong chu kỳ tiếp theo Đây là yếu tố gây khó khăn không nhỏ đối với các DN trong nước

Thứ ba, khó khăn khi hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với khoản nợ nước ngoài, mặc dù đang ở mức vừa phải, đòi hỏi ngân sách nhà nước phải gánh chịu khi đồng tiền của các chủ nợ hay đối tác cung cấp ODA có hoàn lại với lãi suất ưu đãi có xu hướng mạnh lên so với đồng Việt Nam Điển hình như năm 2011, Việt Nam tiếp nhận hơn 7 tỷ USD vốn ODA đây

là nguồn vốn quan trọng nhưng cũng đặt ra áp lực trả nợ và những công việc phải xử lý thông qua CSTK dài hạn Đây là áp lực lớn đối với CSTK của Việt Nam

Thứ tư, tính phức tạp của việc phối hợp hai loại chính sách này còn do mức độ đòi hỏi cao trong liên kết và phối hợp giữa nhiều cơ quan khác nhau trong hoạch định và thực hiện Những vấn đề liên quan đến các tham

số kinh tế vĩ mô quan trọng Bên cạnh đó, năng lực phối hợp điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như hiệu lực và hiệu năng của chính sách ban hành đang là những vấn đề cần hoàn thiện

Thứ năm, bản chất của CSTT là kiểm soát cung tiền hoặc lãi suất nhằm duy trì mức lạm phát mục tiêu và góp phần tăng trưởng kinh tế CSTK thực hiện chi tiêu công và phải có trách nhiệm đảm bảo các khoản chi tiêu đó đem lại hiệu quả bởi cơ chế phân bổ vốn hợp lý, đó là nhân tố quyết định đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo nền tảng cho CSTT phát huy hiệu lực Thiếu điều kiện nền tảng này, các điều tiết mở rộng hay thu hẹp CSTK thực chất không đem lại kết quả bền vững, ngược lại, CSTT có thể phải gánh cho những vấn đề của CSTK

Quy mô chi ngân sách cao, tới gần 30% GDP (là mức cao so với thế giới);

tỷ trọng chi đầu tư phát triển ở mức cao, thể hiện mức độ chi phối của Chính phủ vào khu vực sản xuất và phần nào làm giảm hiệu quả và tính

Trang 5

cạnh tranh của khu vực này (đến lượt nó, khả năng tạo ra nguồn thu cho ngân sách sẽ hạn chế); chi tiêu dàn trải cho nhiều đối tượng, thiếu quy hoạch và chiến lược chi tiêu trong trung và dài hạn; hiệu quả sử dụng nguồn vốn này còn thấp; vấn đề quản lý và giám sát chi tiêu còn hạn chế

Thứ sáu, CSTT và CSTK chưa có có sự phối hợp nhịp nhàng trong việc hoạch định và thực hiện mục tiêu chính sách ở tầm ngắn hạn và dài hạn Trong thời gian từ năm 2008 đến nay, cả CSTK và CSTT đều được vận dụng tối đa cho các yêu cầu ổn định vĩ mô, khôi phục hệ thống DN, đảm bảo an sinh xã hội Tuy vậy, các yêu cầu này được thực hiện một cách bị động khi vấn đề đã nảy sinh và các chính sách được sử dụng để giảm nhẹ hậu quả

Vì thế, trong quá trình triển khai, mỗi chính sách thường sử dụng công cụ riêng của mình và theo đuổi các mục tiêu chính sách riêng CSTT một mặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát nhưng vừa phải duy trì sự ổn định của

hệ thống ngân hàng, đôi khi các mục tiêu này lại mâu thuẫn với yêu cầu tăng trưởng hoặc tháo gỡ khó khăn cho hệ thống DN CSTK cũng vừa phải thực hiện yêu cầu kiểm soát hoặc cắt giảm chi tiêu, vừa thực hiện chức năng hỗ trợ các DN, tập đoàn nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội Vì thế

mà rất khó thực hiện yêu cầu cắt giảm chi tiêu cũng như yêu cầu đảm bảo phân bổ chi tiêu đúng đối tượng và có hiệu quả (bởi các đối tượng tiếp nhận vốn ngân sách lại thường sử dụng không hiệu quả) Tình trạng này dẫn tới mâu thuẫn và khó khăn trong việc phối hợp giữa hai chính sách ở Việt Nam

Trong năm 2012, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đã có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng hơn trong điều hành chính sách, đặc biệt trong phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việc Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phối hợp đưa tín phiếu kho bạc lên giao dịch thành công trên thị trường thứ cấp đã góp phần tăng quy mô thị trường nợ, tăng tính đồng bộ giữa CSTT và CSTK

Thứ bảy, thiếu nền tảng kỹ thuật làm căn cứ cho sự phối hợp chính sách Nền tảng dự báo những biến động vĩ mô trên cơ sở nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng trong và ngoài nước là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng mục tiêu, lựa chọn công cụ chính sách và vạch ra lộ trình thực hiện chính sách Các thông tin và kết quả dự báo chính xác sẽ giúp kiểm soát độ trễ trong các tác dụng của từng chính sách, tạo nên sự bình tĩnh, bài bản của

Trang 6

các quyết sách, tránh những phản ứng tức thời gây hệ lụy và sửa chữa sau đó Hiện nay nền tảng dữ liệu, hệ thống thông tin, kỹ thuật dự báo, đội ngũ chuyên gia, tư vấn trong dự báo chưa được quan tâm đúng mức Nguồn lực dự báo còn yếu và phân tán ở các đơn vị khác nhau Các kết quả dự báo đôi khi mâu thuẫn và độ tin cậy chưa được thẩm định

Thứ tám, việc cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính sách chưa được thiết lập một cách chính thức Nhiệm vụ này chưa tạo thành thói quen cho các cơ quan chính sách ở Việt Nam Vì thế, thị trường không được cung cấp thông tin đầy đủ và cập nhật Các nhà làm chính sách mất đi một kênh triển khai chính sách hiệu quả thông qua kỳ vọng hợp lý của thị trường Việc cung cấp thông tin không chính thống cộng với mức độ thấp trong trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính sách còn gây nên sự thiếu tin tưởng của thị trường, đồng thời không tạo cho các nhà làm chính sách áp lực trong việc xây dựng và cam kết thực hiện mục tiêu

Có thể thấy vấn đề bao trùm trong thực tế phối hợp chính sách thời gian qua là ở chỗ: chi tiêu của Nhà nước đã vượt quá khả năng khai thác nguồn thu và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế khi chỉ số ICOR liên tục tăng theo thời gian Phần chênh lệch gây áp lực lên hệ thống ngân hàng và làm sai lệch bản chất hoạt động của hệ thống cũng như giảm hiệu lực của CSTT Ðiều này cộng với hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng dễ tổn thương, liên kết hệ thống trong tình trạng rủi ro cao, hoạt động trong bối cảnh thị trường vốn trung dài hạn chưa phát triển, tỷ lệ đòn cân nợ rủi ro trong cấu trúc vốn của DN đang làm ảnh hưởng sâu sắc tới hiệu lực CSTT cũng như khả năng phối hợp chính sách

Nhưng cũng năm 2014, Chính phủ quyết định nâng trần thâm hụt ngân sách lên 5,3% GDP, tăng phát hành trái phiếu để đầu tư, phục hồi tăng trưởng Vì vậy với năm 2014 sự phối chặt chẽ, nhịp nhàng chính sách tài khóa và tiền tệ càng đặc biệt quan trọng bởi với lãi suất thị trường đang có xu hướng giảm đòi hỏi sự thận trọng để không tạo ra lạm phát nhằm giữ ổn định kinh

tế vĩ mô, tạo cơ sở cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Hướng đến tương lai

Trong giai đoạn 2011-2020, một trong các giải pháp được đặt ra là: Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp, đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính, tiền tệ nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởmg, bảo đảm sự phát triển

Trong đó, chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguôn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; phân phối lợi ích công bằng, phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách…; CSTT phải chủ động

và linh hoạt thúc đẩy tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền…

Trang 7

Như vậy, có thể thấy rằng, việc xây dựng, phối hợp thực thi CSTK và CSTT có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra Để thực hiện được mục tiêu này, Bộ Tài chính và NHNN cần hết sức chú trọng khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả phối hợp hoạch định và điều hành, thực thi các nội dung cụ thể sau:

Một là, thiết lập cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin thường xuyên, đáng tin cậy giữa các đơn vị chức năng của hai

cơ quan để kịp thời năm bắt đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết phục vụ quá trình dự báo và hoạch định CSTK, CSTT trong ngắn hạn cũng như dài hạn Trong đó:

- NHNN cần cung cấp thường xuyên, đầy đủ, kịp thời cho Bộ Tài chính các thông tin liên quan trực tiếp đến quá trình theo dõi, nắm bắt và hoạch định, điều hành CSTK, như: Kế hoạch và diễn biến tăng trưởng, tăng phương tiện thanh toán, huy động vốn, dư nợ tín dụng, lượng tiền cung ứng, dự trữ bắt buộc, dự trữ ngoại hối nhà nước, cán cân thanh toán quốc tế; Diễn biến của thị trường tiền tệ, tín dụng, ngoại hối gồm các mức lãi suất điều hành của NHNN, lãi suất huy động và cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng, khối lượng giao dịch nghiệp vụ thị trường mở, khối lượng giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, dư nợ tái cấp vốn, khối lượng giao dịch và diễn biến tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng; tình hình vốn khả dụng của hệ thống các tổ chức tín dụng

- Bộ Tài chính cần cung cấp thường xuyên, đầy đủ, kịp thời cho NHNN các thông tin liên quan trực tiếp đến quá trình hoạch định, điều hành CSTT, nhất là điều hành lượng tiền cung ứng, lãi suất như: Dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm, kế hoạch điều hành thu, chi NSNN hàng quý (bao gồm cả kế hoạch huy động trái phiếu Chính phủ); Tình hình thực hiện thu, chi NSNN và kế hoạch huy động vốn để bù đắp thâm hụt NSNN; Kế hoạch bán ngoại

tệ cho NHNN; Tồn quỹ tiền mặt tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; Tình hình vay, trả nợ công nước ngoài; Kết quả phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và tình hình giao dịch của thị trường…

Hai là, thiết lập cơ chế tham vấn, đóng góp và tham gia ý kiến trực tiếp giữa các đơn vị chức năng của hai cơ quan

trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi CSTK và CSTT.

- Bộ Tài chính và NHNN cần thiết lập một cơ chế tham vấn, đóng góp và tham gia ý kiến trực tiếp, toàn diện giữa các đơn vị chức năng trong quá trình xây dựng, ban hành và thực thi các cơ chế chính sách có liên quan giữa hai cơ quan như: xây dựng chiến lược, mục tiêu, định hướng, giải pháp điều hành CSTK, CSTT trong từng giai đoạn và hàng quý, hàng năm; quản lý ngân quỹ của Chính phủ, quản lý nợ quốc gia và vốn ODA; Phát triển và thanh tra, giám sát thị trường tài chính; Quản lý thuế, hải quan

- Đối với quá trình xây dựng chiến lược, mục tiêu, định hướng, giải pháp điều hành CSTK, CSTT: Hai cơ quan cần chủ động chia sẻ, thảo luận, tham gia ý kiến ngay trong quá trình xây dựng định hướng chiến lược, kế hoạch, mục tiêu và giải pháp điều hành CSTK và CSTT trong dài hạn Điều này giúp đảm bảo sự nhất quán, thống nhất và phù hợp với mục tiêu, chiến lược, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và hướng tới tăng trưởng ổn định, bền vững Hàng năm, hai cơ quan cần trao đổi và thống nhất quan điểm, mục tiêu, định hướng đối với các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ bản cho năm kế hoạch tiếp theo để trình Chính phủ quyết định, bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ tiêu lạm phát, tăng trưởng tín dụng, đầu tư công, bội chi NSNN và dự kiến kế hoạch điều hành CSTK và CSTT Sau đó, chủ động thống nhất giải pháp điều hành, thực thi CSTK và CSTT hàng năm, hàng quý, hàng tháng, tránh tình trạng xung đột và triệt tiêu lẫn nhau giữa hai chính sách.

- Trong lĩnh vực quản lý ngân quỹ của Chính phủ, quản lý nợ quốc gia và vốn ODA: Hai cơ quan cần phối hợp khuyến khích thu thuế qua hệ thống ngân hàng, thanh toán lương và các khoản chi NSNN qua tài khoản; xây dựng

và triển khai kế hoạch hiện đại hóa và kết nối hệ thống thanh toán của Kho bạc Nhà nước với các hệ thống thanh toán qua ngân hàng; phối hợp xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành Chiến lược quản lý nợ quốc gia, Chiến lược quản lý nợ công; Phối hợp cân đối, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế của Chính phủ, của nền kinh tế

Trang 8

và tập trung ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối nhà nước; Chủ động trao đổi và thống nhất quan điểm đối với các khoản vay các tổ chức tài chính quốc tế của Chính phủ.

- Đối với phát triển và thanh tra, giám sát thị trường tài chính: Hai cơ quan cần chủ động phối hợp xây dựng và ban hành các chính sách, biện pháp phát triển thị trường tiền tệ, trái phiếu, cổ phiếu, bảo hiểm trong từng thời kỳ, đặc biệt là các biện pháp và chính sách có tác động lẫn nhau trong việc phát triển các thị trường Chủ động phối hợp trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức dụng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công

ty quản lý quỹ, các ngân hàng chính sách và các định chế tài chính khác.

Ba là, CSTT và CSTK cần phối hợp để góp phần thực hiện cùng một lúc hai mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đã

đề ra về lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng Để thực hiện cùng một lúc các mục tiêu nêu trên trong bối cảnh nguy cơ lạm phát cao vẫn còn tiềm ẩn là nhiệm vụ khó khăn trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ và các cấp, các ngành trong năm 2013, cũng như trong CSTK và CSTT Muốn vậy, CSTK và CSTT cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng để vừa duy trì mức độ “thắt chặt” hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, vừa phải có bước “nới lỏng” thận trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để phối hợp nhịp nhàng và hỗ trợ tích cực cho CSTT, CSTK cũng cần tiếp tục duy trì mức độ “thắt chặt” hợp lý để kiềm chế hiệu quả lạm phát thông qua các giải pháp: (1) Kiểm soát chặt chẽ mức bội chi ngân sách để hỗ trợ CSTT kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng và hạn chế áp lực phát hành trái phiếu chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách, góp phần giảm áp lực tăng lãi suất của hệ thống ngân hàng; (2) Điều hành chính sách giá, lãi suất trái phiếu chính phủ phù hợp với mục tiêu, giải pháp điều hành CSTT và diễn biến vĩ mô, diễn biến lạm phát để góp phần làm giảm kỳ vọng lạm phát; (3) Kiểm soát chặt chẽ quá trình tiết giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; (4) Kiểm soát chặt chẽ và nâng cao chất lượng đầu tư công, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, tín dụng chính sách và triển khai mạnh mẽ, quyết liệt các giải pháp thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, nhất là tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước.

Bốn là, trong dài hạn CSTT cần kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát, CSTK phải sử dụng có hiệu quả mọi

nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội.

- CSTT cần kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát không chỉ khi lạm phát tăng cao mà ngay cả khi lạm phát

ổn định đang ở mức thấp nhằm góp phần tạo lập niềm tin của thị trường vào các cam kết ổn định kinh tế vĩ mô Bên cạnh đó, phải duy trì hoạt động giám sát chặt chẽ việc mua, bán ngoại tệ để tránh tình trạng đầu cơ ngoại tệ, những cơn “sốt giá ảo” khiến cho tỷ giá gia tăng đột biến gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu và làm gia tăng dư nợ nước ngoài của NSNN.

- CSTK phải nỗ lực sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững, xác lập cơ sở kinh tế cho việc thực thi CSTT có hiệu quả Thu, chi ngân sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với nguyên tắc giữ ổn định tiền tệ.

Một số hàm ý cho Việt Nam

Năm 2014 nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn khó khăn Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2014 - 2015 là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế Từ kinh nghiệm các nước trên, bài viết đưa ra một số đề xuất để đạt được hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT của Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2015, cụ thể là:

Trang 9

Thứ nhất, trong mỗi giai đoạn, việc xác định trọng tâm phối hợp hai chính sách này là điều hết sức

cần thiết, cần phải được xem xét trong tương quan với các mục tiêu phát triển kinh tế trong trung và dài hạn Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, các chính sách cần hướng tới ưu tiên kiểm soát lạm phát, sau đó mới là tín dụng và lãi suất Muốn làm được điều đó, NHNN cần thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ, bảo đảm tín dụng tăng trưởng an toàn, hiệu quả theo nhu cầu của nền kinh tế

Thứ hai, xác định “liều lượng” phối hợp giữa CSTK và CSTT ở mức hợp lý Để làm được điều đó,

các cơ quan hữu quan cần nghiên cứu trên cả 2 giác độ định lượng và định tính để phát huy tối đa hiệu quả của chính sách trong nền kinh tế Trong quá trình điều hành chính sách, các cơ quan chức năng cần tính đến độ trễ của chính sách để khi ban hành mức độ tác động đến đời sống xã hội ở mức hợp lý và có những giải pháp dự phòng Tránh hiệu ứng chính sách tác động “quá liều” nhằm đạt mục tiêu ngắn hạn nhưng sẽ có tác động tiêu cực trong tương lai.

Thứ ba, CSTK và CSTT phải được sử dụng đồng thời trong sự kết hợp với các chính sách khác,

đặc biệt là các biện pháp giám sát vĩ mô thận trọng nhằm quản lý dòng vốn, tạo sự ổn định tài chính Sự kết hợp phong phú hơn của các công cụ chính sách sẽ đem lại ổn định kinh tế, tài chính bền vững hơn là các chính sách đơn phương Tuy nhiên, cần xác định thời điểm phối hợp, can thiệp chính sách Mỗi chính sách mỗi giải pháp được đưa ra đều có độ trễ nhất định mới phát huy tác dụng, vậy khi nào cần can thiệp thị trường, khi nào cần thoái lui cũng là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

Trang 10

Thứ tư, lựa chọn các phương pháp can thiệp chính sách phù hợp Đối với các công cụ hành chính,

cần phải có sự đánh giá và xem xét mức độ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Cần có một lộ trình phối hợp nhằm tránh tạo ra những tác động “đột ngột” đến nền kinh tế Vì vậy, cũng sẽ tác động đến

sự thành công của phối hợp chính sách.

Thứ năm, tăng cường sự trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng

chính sách, đặc biệt là sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN.

Tóm lại, thể chế kinh tế và chính trị của Việt Nam hiện tại là cơ sở tốt cho việc phối hợp CSTK và CSTT Tuy nhiên, trong thời gian qua đã diễn ra sự lệch pha và hi sinh lẫn nhau giữa các biến số vĩ

mô, đặc biệt là giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát Điều này cho thấy hiệu quả phối hợp CSTK - tiền tệ ở nước ta chưa cao Kinh nghiệm của Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản cho thấy, các chỉ tiêu vĩ mô cần phải cùng đạt được ở mức hài hòa và hợp lý; cần nâng cao tính khoa học và khả thi trong việc hoạch định chỉ tiêu để tránh sự đánh đổi giữa các chỉ tiêu đặt ra và sự bất định trong từng chỉ tiêu vĩ mô hàng năm.

Một số đề xuất

Kết hợp hài hòa giữa CSTT và CSTK có ý nghĩa hết sức quan trọng để đảm bảo kiềm chế lạm phát, khơi thông nguồn vốn, giúp tháo gỡ khó khăn cho DN, tạo ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là, Bộ Tài chính và NHNN và cần có sự phối hợp trong việc xác định mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó Trong thời gian tới, Chính phủ nên xem xét đến việc chuyển đổi khung mục tiêu chính sách theo hướng thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt - mục tiêu lạm phát linh hoạt nhằm hướng hai chính sách vào mục tiêu chung Theo đuổi chính sách này, cả NHNN và Bộ Tài chính sẽ cùng tham gia xác định khung mục tiêu chính sách cho giai đoạn trung hạn, tạo thế chủ động và linh hoạt trong quá trình phối hợp để đạt mục tiêu Mặt khác, chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt cho phép quan tâm cả mục tiêu kiểm soát lạm phát và mục tiêu tăng trưởng thông qua chỉ số độ lệch sản lượng Ðiều chỉnh này rất tương thích với việc lựa chọn mục tiêu của các nước đang phát triển như Việt Nam Chủ trương cũng như sự quyết tâm theo đuổi mục tiêu ổn định vĩ mô của Chính phủ trong thời gian qua là bước dấu hiệu quan trọng cho phép triển khai chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt ở Việt Nam trong thời gian tới

Hai là, Bộ Tài chính và NHNN cần tiếp tục chi tiết hóa thêm các nội dung

ưu tiên triển khai trong quá trình điều hành Theo đó, nên xây dựng các

Ngày đăng: 27/09/2022, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w