Bên cạnh đó là các nghị định bổ trợ cho việcthực hiện, có thể kể đến Nghị định số 60/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Ngânsách nhà nước 2002; Nghị định số 01/2011/NĐ-CP quy định về việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Bài Tiểu luận Môn Luật Tài chính
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 2
Trang 21 Khái quát cơ sở lý luận về bội chi ngân sách nhà nước theo quy định pháp
luật Việt Nam hiện hành 3
1.1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước 3
1.2 Đặc điểm của bội chi ngân sách nhà nước 8
1.3 Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước 9
1.4 Nguyên tắc giải quyết bội chi ngân sách nhà nước 10
1.5 Các giải pháp giải quyết bội chi ngân sách nhà nước 11
2 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 13
2.1 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn trước khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành (giai đoạn 1991-1996) 13
2.2 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn từ khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành cho đến nay 14
3 Giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 31
3.1 Tăng thu 31
3.1 Giảm chi 32
3.3 Vay trong nước và nước ngoài 33
3.2 Phát hành tiền 35
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt nhiều năm qua, ngân sách nhà nước đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc giúp nhà nước hình thành và ổn định các quan hệ thị trường, góp phần kiểm soát tình hình lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp, làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc
1
Trang 3gia, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế… Song song với những mặt tích cực
ấy, ngân sách nhà nước trong quá trình sử dụng vẫn bộc lộ những mặt hạn chế nhấtđịnh Ví như yếu kém trong việc quản lý thu chi ngân sách nhà nước, sử dụng ngânsách nhà nước chưa đúng cách…; dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách hay còn gọi làbội chi ngân sách nhà nước
Tùy định hướng và thực tiễn tình hình phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia
mà bội chi ngân sách nhà nước mang ý nghĩa tích cực hay tiêu cực Đối với Việt Namtrong hoàn cảnh hiện tại, vấn đề bội chi ngân sách luôn được đề đặt ra và tìm hướngkhắc phục hợp lý Cùng với nhu cầu và hoàn cảnh này, Chính phủ nước ta đã thiết lập
cơ chế pháp lý thích hợp với hoàn cảnh kinh tế thời cuộc, tận dụng các công cụ củamình để khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước, ổn định nền kinh tế đất nướchiện thời và làm nền tảng phát triển các lĩnh vực khác trong tương lai Để tìm hiểuthêm về vấn đề bội chi ngân sách nhà nước, mời các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu thôngqua bài tiểu luận: Pháp luật về bội chi ngân sách nhà nước – Thực trạng và giải pháp
Bài tiểu luận của nhóm chủ yếu phân tích và nhìn nhận vấn đề đang được đề cập
từ khía cạnh pháp lý, với những quy định của nhà nước về việc thực hiện đường lối,chủ trương nhằm khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước Mong nhận được sựnhận xét và góp ý của quý thầy cô và bạn đọc
1 Khái quát cơ sở lý luận về bội chi ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
Như đã đề cập ở Lời mở đầu, bội chi ngân sách nhà nước đang luôn là vấn đềđược Nhà nước Việt Nam coi trọng và khắc phục trong nhiều năm qua Qua thời gian,hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề trên ngày càng được hoàn thiện, có thể kể đến sự
2
Trang 4ra đời của nhiều Nghị quyết của Chính phủ qua từng thời kỳ Qua đó, vấn đề sử dụng
và cân đối ngân sách nhà nước luôn được đề cao, làm cơ sở để xây dựng, củng cố vàphát triển các lĩnh vực khác trong xã hội Bên cạnh đó là các nghị định bổ trợ cho việcthực hiện, có thể kể đến Nghị định số 60/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Ngânsách nhà nước 2002; Nghị định số 01/2011/NĐ-CP quy định về việc Phát hành tráiphiếu Chính phủ, trái phiếu do chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương;Quyết định số 958/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoàicủa quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của Thủ tướng Chínhphủ;…
Lấy cơ chế pháp lý được xây dựng theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành,đồng thời kết hợp tìm hiểu trên phương diện kinh tế về vấn đề bội chi ngân sách nhànước; nhóm chúng tôi xin được tổng hợp phần cơ sở lý luận về bội chi ngân sách nhànước với các nội dung như sau:
1.1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
“Bội chi ngân sách nhà nước là bội chi ngân sách trung ương được xác định bằngchênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trungương của năm ngân sách1”
Từ khái niệm trên cho thấy, bội chi ngân sách nhà nước được tính toán từ tổng sốchi và tổng số thu của ngân sách trung ương Cụ thể:
Tổng số chi của ngân sách trung ương bao gồm các khoản phải chi theonhiệm vụ, tức các khoản chi phát triển kinh tế,xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh;bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và cáckhoản chi khác theo quy định của pháp luật Vấn đề này được quy định tại Điều 31Luật ngân sách nhà nước 2002 và cụ thể hóa tại Điều 21 Nghị định số 60/2003/NĐ-CPvới nội dung như sau:
Chi đầu tư phát triển về:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năngthu hồi vốn do trung ương quản lý;
1 Khoản 1, Điều 4 Nghị đinh số 60/2003/NĐ-CP
3
Trang 5+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn cổ phần, liêndoanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nướctheo quy định của pháp luật;
+ Chi hỗ trợ tài chính, bổ sung vốn, hỗ trợ và thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật;
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước
do các cơ quan trung ương thực hiện;
+ Chi hỗ trợ các tổ chức tài chính của Nhà nước do Trung ương quản lý;
+ Chi bổ sung dự trữ nhà nước;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật
Chi thường xuyên về:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa thông tinvăn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sựnghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý:
o Các trường phổ thông dân tộc nội trú;
o Đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề
và các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác;
o Phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động sự nghiệp y tế khác;
o Các cơ sở thương binh, người có công với cách mạng, trại xã hội, phòng chốngcác tệ nạn xã hội và các hoạt động xã hội khác;
o Bảo tồn, bảo tàng, thư viện, trùng tu di tích lịch sử đã được xếp hạng, các hoạtđộng sáng tạo văn học, nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác;
o Phát thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác;
o Bồi dưỡng, huấn luyện huấn luyện viên, vận động viên các đội tuyển quốc gia;các giải thi đấu quốc gia và quốc tế; quản lý các cơ sở thi đấu thể dục, thể thao và cáchoạt động thể dục, thể thao khác;
o Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
o Các sự nghiệp khác
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý:
4
Trang 6o Sự nghiệp giao thông: duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa cầu đường, các công trìnhgiao thông khác, lập biển báo và các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông trên cáctuyến đường;
o Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp: bảo dưỡng, sửachữa các tuyến đê, các công trình thủy lợi, các trạm trại nông nghiệp, ngư nghiệp, lâmnghiệp; công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến ngư; công tác khoanh nuôi, bảo vệ,phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
o Điều tra cơ bản;
o Đo đạc địa giới hành chính;
o Đo vẽ bản đồ;
o Đo đạc biên giới, cắm mốc biên giới;
o Đo đạc, lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính;
o Định canh, định cư và kinh tế mới;
o Các hoạt động sự nghiệp môi trường;
+ Hoạt động của cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam;
+ Hoạt động của các cơ quan trung ương của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốcViệt Nam; Liên đoàn Lao động Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Liênhiệp Phụ nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh;
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
+ Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia, dự án nhà nước do các cơquan trung ương thực hiện;
5
Trang 7+ Thực hiện chế độ đối với người về hưu, mất sức theo quy định của Bộ Luật Lao độngcho các đối tượng thuộc ngân sách trung ương bảo đảm; hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hộitheo quy định của Chính phủ;
+ Thực hiện các chính sách đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, thân nhân liệt sĩ,gia đình có công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội khác;
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc Trung ương theo quy định tại Điều 17 của Nghị định này;
-+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
- Trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay
- Chi viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài
- Chi cho vay theo quy định của pháp luật
- Bổ sung Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương
- Bổ sung cho ngân sách địa phương
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách trung ương năm trước sang ngân sách trungương năm sau
Nguồn ngân sách để xác định tổng số chi vừa nêu trên cần dựa trên tổng
số thu mà nhà nước quy định theo dự toán năm ngân sách Thu ngân sách nhà nước baogồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhànước; các khoản thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản thu khác theo quyđịnh của pháp luật Cụ thể, nguồn thu ấy được dựa trên các khoản thu của ngân sáchtrung ương được quy định tại Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước 2002 và hướng dẫn chitiết tại Điều 20 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP với nội dung như sau:
Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%:
+ Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;
+ Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá nhập khẩu;
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành (Bộ trưởng Bộ Tàichính công bố cụ thể các đơn vị hạch toán toàn ngành);
6
Trang 8+ Các khoản thuế và thu khác từ các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuêmặt đất, mặt nước;
+ Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vaycủa ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương,thu nhập từ vốn góp của ngân sách trung ương;
+ Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ởnước ngoài cho Chính phủ Việt Nam;
+ Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệ phí
do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phítrước bạ;
+ Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của cácđơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;
+ Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Thu kết dư ngân sách trung ương;
+ Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước chuyển sang;
+ Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân sách trung ương theo quy định củapháp luật
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương:
+ Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu quy định tạiĐiểm a, Khoản 1 Điều này và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;+ Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vịhạch toán toàn ngành quy định tại điểm d Khoản 1 Điều này và thuế thu nhập doanhnghiệp thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, không kể thuế quy định tại Điểm đKhoản 1 Điều này;
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước không kể thuế tiêu thụ đặcbiệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Phí xăng, dầu
7
Trang 91.2 Đặc điểm của bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi của ngân sách nhà nước là bội chi của ngân sách trung ương:
Vấn đề trên được khẳng định bởi các lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc Ngân sách địa phương đượcphân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý Tại Khoản 3,Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002 quy định: “Về nguyên tắc, ngân sách địaphương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầngthuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đốicủa ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động vốn trong nước và phảicân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Mức dư nợ từnguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nướchàng năm của ngân sách cấp tỉnh” Việc quy định như trên nhằm mục đích kiểm soátcác khoản nợ của ngân sách cấp địa phương, tránh hậu quả nặng nề trong hoạt độngngân sách của địa phương, ảnh hưởng đến chính sách phát triểnchung của đất nước
Thứ hai, ngân sách trung ương phải đảm nhận chủ yếu nhiệm vụchi đầu tư phát triển nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế xã hội , bảo đảm
sự phát triển cân đối hài hoà giữa các vùng miền, xoá dần sự cách biệt về kinh tế xã hội
do điều kiện khách quan mang lại giữa các địa phương trong phạm vi quốc gia
Thứ ba, nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước được thực hiện
từ việc vay trong nước và vay của nước ngoài Bởi vậy để quản lý tốt việc vay vốn chođầu tư, tránh tình trạng địa phương thực hiện vay vốn đầu tư tuỳ tiện dẫn đến việckhông kiểm soát được khoản nợ vay của nhà nước, ngân sách trung ương sẽ thực hiệnviệc đi vay và quản lý số nợ đối với số vốn vay từ nước ngoài
Xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số thu và tổng số chi ngân sáchtrung ương của năm ngân sách: Chênh lệch thiếu là khoản thâm hụt mà tổng số chi
8
Trang 10vượt quá tổng số thu trong năm ngân sách, dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách nhànước.
Về mặt nguyên tắc, số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển:Nguyên tắc trên là một trong những phương thức quan trọng để đảm bảo sự cân bằngthu, chi ngân sách Chi đầu tư phát triển là các khoản chi được quy định chi tiết tạiKhoản 1, Điều 21 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP, nhằm làm tăng điều kiện cơ sở vậtchất của quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế
1.3 Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước:
Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh: Khủnghoảng làm cho các khoản thu của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên đểgiải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi ngânsách nhà nước tăng lên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, các khoản thu của Nhà nước sẽtăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng - điều đó làm giảm mức bội chi ngânsách nhà nước Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bộichi chu kỳ
Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi củaNhà nước: Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng
sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu
tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt Mứcbội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn…),tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNS
1.4 Nguyên tắc giải quyết bội chi ngân sách nhà nước
Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc2:
Không sử dụng cho tiêu dùng: Đây được coi là nguyên tắc bất di bất dịchtrong việc giải quyết bội chi nhằm hạn chế các khoản chi từ hoạt động quản lý nhànước nói chung Chi tiêu dùng là khoản chi căn cứ vào mục đích và nội dung, là những
2 Khoản 2, Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002
9
Trang 11khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai Từ đặc điểmcủa chi tiêu dùng, có thể nhìn nhận chi tiêu dùng giống như các khoản chi thườngxuyên3, bao gồm chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, vănhóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sựnghiệp xã hôi khác;quốc phòng, an ninh, và trật tự an toàn xã hội; các hoạt động sựnghiệp kinh tế; hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam… Nguyên tắc này được đặt ranhằm đảm bảo khả năng giải quyết tình trạng bội chi ngân sách của nhà nước, đảmbảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi tiêu của ngân sáchnhà nước.
Chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển: Trong quá trình giải quyết bộichi ngân sách nhà nước, Chính phủ vẫn phải đề cao việc thực hiện tăng trưởng kinh tếđất nước bằng cách sử dụng ngân sách cho các khoản chi đầu tư và phát triển nhằm làmtăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế Từ đó thu hồi vốn và kiếm thêm lợinhuận bổ sung vào nguồn ngân sách nhà nước đang trong tình trạng thâm hụt
Bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn: Nguyên tắcnày được đảm bảo thực hiện bởi hai nguyên tắc cụ thể phía trên Tuy nhiên, việc thựchiện nó phải dựa trên sự phối hợp, cân nhắc kỹ lưỡng và cẩn trọng của cơ quan chứcnăng trong việc xác định rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của các cấp theo quyđịnh của pháp luật và đường lối phát triển của đất nước; phối hợp chặt chẽ với khốilượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái đối với đồng ngoại tệ;… nhằm hướng đến mụctiêu chung là giải quyết tình trạng bội chi ngân sách nhà nước
1.5 Các giải pháp giải quyết bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng các biện pháp sau4:
Tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước:
Tăng thu: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế Việc tăng cáckhoản thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt ngân sách nhà nước và giảm
3 Khoản 2, Điều 3 Luật Ngân sách nhà nước 2002
4 http://sotaichinh.hoabinh.gov.vn/ngan-sach-nha-nuoc/cong-khai-ngân sách nhà boi-chi-ngan-sach-nha-nuoc-nham-kiem-che-lam-phat-hien-nay.190.html
nước/xu-ly-10
Trang 12bội chi ngân sách nhà nước Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bộichi ngân sách nhà nước, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hànghóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽtriệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, kinh doanh và làmmất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thếgiới.
Giảm chi: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thườngxuyên từ ngân sách nhà nước Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vôcùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi ngân sách nhà nước và xuất hiệnlạm phát Ở đây, triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vàonhững dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm,thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tưcông, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếunhững khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Phát hành tiền mới để bù chi: Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước cóthể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa vào lưu thông Tuy nhiên, giảipháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bộichi ngân sách nhà nước Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước là dothiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển, gây “tăng trưởng nóng” vàkhông cân đối với khả năng tài chính của quốc gia
Vay trong nước và ngoài nước:
Biện pháp vay trong và ngoài nước là nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nướcđược quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP Thông quahoạt động vay, Chính phủ và chính quyền địa phương ghi nhận nợ đối với các trái chủ
về khoản nợ và bảo lãnh của mình cùng các thỏa thuận về lãi suất, hoàn lại Các biệnpháp này được thực hiện qua các hoạt động cụ thể là phát hành trái phiếu Các loại tráiphiếu được phát hành gồm: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh vàtrái phiếu Chính quyền địa phương
11
Trang 13Theo quy định của Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, ba loại trái phiếu kể trên đượcphân loại theo phạm vi phát hành trong và ngoài nước như sau:
Các khoản vay trong nước từ phát hành trái phiếu Chính phủ và cácnguồn tài chính khác trong nước gồm:
o Trái phiếu Chính phủ
o Trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh
o Trái phiếu Chính quyền địa phương
Các khoản Chính phủ vay nước ngoài được đưa vào cân đối ngân sách:
o Trái phiếu Chính phủ
o Trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh
Nghị định số 01/2011/NĐ-CP cũng quy định đối với các loại trái phiếu về Tổchức phát hành và mục đích sử dụng; Phương thức thanh toán; Đối tượng đấu thầu và
tham gia; Sử dụng và thanh toán; Lãi suất; Điều kiện phát hành… nhằm tạo cơ chế rõ
ràng, minh bạch cho hoạt động phát hành trái phiếu theo nhu cầu cần thiết của Nhànước và từng địa phương
Ngoài ra, trong việc định hướng và sử dụng vốn vay từ các nguồn vay trong nước
và nước ngoài, Thủ tướng chính phủ cũng đã thông qua Quyết định số 958/QĐ-TTg vềviệc Phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 –
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ngày 27 tháng 07 năm 2012 Điều này đã góp phần tạotiền đề cho hành lang pháp lý về vấn đề bội chi ngân sách nhà nước, qua đó giúp giảiquyết tình trạng bội chi mà ngân sách nhà nước đang phải đối diện
2 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn trước khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành (giai đoạn 1991-1996)
Bước vào giai đoạn từ năm 1991-1996, tình hình đất nước đã có nhiều chuyểnbiến tích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đã có động lực mới, tình trạng thiếulương thực đã được giải quyết căn bản; đặc biệt, cơ cấu chi ngân sách nhà nước đã dầndần thay đổi theo hướng tích cực hơn Cụ thể, nguồn thu trong nước đã đủ cho chithường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành tiền cho chi thường xuyên đã
12
Trang 14chấm dứt Trong giai đoạn này, vấn đề chi đúng đối tượng, có hiệu quả, thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội được đặt ra Nhờ những giải pháp trên, số thâm hụt ngân sách nhànước đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài(từ năm 1992 trở đi Nhà nước đã có những quy định về việc chấm dứt phát hành tiềntrực tiếp để bù đắp bội chi)
Thực vậy, trong giai đoạn từ năm 1991-1996, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước sovới GDP chỉ ở mức 1,4% đến 4,17% (1991: 1,4%, 1992:1,5%, 1993: 3,9%, 1994:2,2%, 1995: 4,17% và 1996 là 3%)5 Như vậy, có thể thấy rằng bội chi NGÂN SÁCHNHÀ NƯỚC trong những năm 1991-1995 là rất thấp, được khống chế ở mức chấpnhận được là 2,63% - việc này đã thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủtrong thời kỳ trên
Nhìn chung, thực trang bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạnnày đã có nhiều chuyển biến tích cực Cụ thể, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việcđổi mới chính sách quản lý và cân đối ngân sách nhà nước để cải thiện vấn đề khai thácnguồn thu và phân bổ nguồn lực quốc gia, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sovới giai đoạn trước, bội chi ngân sách nhà nước ở giai đoạn này giảm và duy trì ở mứcchấp nhận được Tuy vậy, cân đối ngân sách nhà nước trong giai đoạn này vẫn cònnhiều hạn chế như cải cách thuế vẫn còn nhiều bất cập; hệ thống thuế chồng chéo, phứctạp gây khó khăn cho công tác hành thu và quản lý thuế; vay bù đắp bội chi ngân sáchnhà nước chỉ chú trọng giải quyết nhu cầu chi; các nguồn thu và nhiệm vụ chi phân cấpcho chính quyền địa phương không ổn định, hạn chế khả năng chủ động của ngân sáchđịa phương khi cân đối ngân sách cấp mình; Nhà nước vẫn chưa xóa bỏ hết các khoảnchi bao cấp dẫn đến lãng phí nguồn lực tài chính của đất nước…
2.2 Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn từ khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành cho đến nay
Với những thay đổi mạnh mẽ trong thời kỳ đầu chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thịtrường, nước ta đã đạt được không ít kết quả khả quan Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
5 Xem: Lê Quốc Lý, “Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với lạm phát ở Việt Namhiện nay”, Tạp chí Tài Chính số 10/2008
13
Trang 15khuyết điểm tồn đọng trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước Lúc này, yêu cầuđặt ra là cần có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh, quy định rỏ ràng hơn nhằmđảm bảo tính hiệu quả và minh bạch khi thực hiện cân đối ngân sách nhà nước, thúcđẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững Vì vậy, ngày 20-03-1996 Quốc hội khóa 9, kỳhọp thứ 9 đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước và văn bản này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01-01-1997 Cùng thời điểm đó, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngânsách nhà nước 1996 cũng được Chính phủ và Bộ tài chính đưa ra để vận dụng thựchiện Qua một thời gian Luật Ngân sách nhà nước 1996 được áp dụng thi hành, để phùhợp hơn với thực tế và các văn bản pháp luật thuế hiện hành ( Luật Thuế thu nhậpdoanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế gía trị gia tăng), ngày 20-5-1998Luật Ngân sách nhà nước 1996 đã được sữa đổi, bổ sung Đến năm 2002, đất nướcbước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới gia nhập WTO nên Luật Ngânsách nhà nước cần phải sửa đổi theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế hơn, với cáccam kết quốc tế về thuế quan; đồng thời, phải đảm bảo được nguồn thu ngân sách nhànước để có thể chủ động và linh hoạt hơn trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước
Do vậy, taị kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước sửađổi, bổ sung ngày 16-12-2002 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2004
Có thể khẳng định rằng Luật Ngân sách nhà nước hiện hành đã xử lý một cáchcăn bản quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền, quan hệ giữa ngân sách trungương và ngân sách địa phương Đặc biệt, việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi khá
cụ thể, rõ ràng (trong đó, ngân sách trung ương giử vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm
vụ chiến lược, có quy mô trên toàn quốc; còn ngân sách địa phương ngày càng được
mở rộng quyền tự chủ hơn trong vấn đề khai thác các nguồn thu tại chỗ và chủ động bốtrí chi tiêu hợp lý) Thực tế, từ những chính sách đúng đắn được thể chế bằng các vănbản pháp luật mà nguồn thu ngân sách ở các tỉnh, thành đã tăng lên một cách bền vững
Cụ thể, ngân sách địa phương từ chỗ chiếm 34% tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn1991-1996 đã tăng lên 45% giai đoạn 1997-2006 Điều này tạo nền tảng cơ bản cho cácđịa phương chủ động nhằm cân đối ngân sách một cách tích cực hơn Hơn nữa, quaviệc phân cấp ngân sách nhà nước, nguồn thu của các địa phương đã được tăng lên
14
Trang 16đáng kể Nếu trước đây thu ngân sách địa phương chỉ chiếm 20%-22%/tổng thu ngânsách nhà nước thì nay đã chiếm ở mức 42%-44%/tổng thu ngân sách nhà nước6 - đây là
cả một sự nỗ lực về việc cân đối nguồn lực phù hợp nhằm phục vụ cho mục tiêu pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước Ngoài ra, việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhànước đã đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc tăng cường năng lực khai thác, huyđộng các nguồn lực tài chính thông qua ngân sách nhà nước Cụ thể, với việc sửa đổi
hệ thống phân cấp ngân sách nhà nước, theo đó trao quyền tự chủ nhiều hơn cho chínhquyền địa phương, nguồn thu ngân sách nhà nước đã được các cấp chính quyền địaphương quan tâm nhiều hơn so với trước; quy định về ổn định ngân sách địa phươngtheo tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên chongân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm đã tạo điều kiện cho các địa phương yêntâm và tích cực trong việc huy động các nguồn thu trên địa bàn; quy định cho phép địaphương được huy động các nguồn vốn tín dụng trong nước cho đầu tư với mức tối đa30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh đã giúpnhiều địa phương chủ động hơn trong việc huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách đểtham gia đầu tư cho các mục tiêu đã đề ra Kết quả đạt được là ngân sách địa phươngngày càng được hưởng nhiều nguồn thu hơn như các khoản thu từ thuế tài nguyên môitrường, các khoản thu điều tiết từ thuế tiêu thụ đặc biệt Đặc biệt, nếu như từ năm
2003 trở về trước, cả nước chỉ có khoảng 5 địa phương có khả năng thu vượt chi và cóđiều tiết về ngân sách trung ương, thì sau khi sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhànước đến năm 2009 đã có 11 địa phương tự đảm bảo được ngân sách chi của mình màkhông cần sự hỗ trợ của ngân sách trung ương Những kết quả nêu trên đã góp phầnquan trọng vào việc cân đối ngân sách nhà nước
Trước hết, nhằm làm rõ hơn phần thực trạng bội chi ngân sách nhà nước giai đoạnsau khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành, nhóm chúng tôi xin được phân
6 Xem: Lê Quốc Lý, “Phân cấp tài chính cho chính quyền địa phương trong nền kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tê”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 12/2008, Trang 8
15
Trang 17tích thực tiễn bội chi ngân sách nhà nước trong một số năm gần đây thông qua các sốliệu về Quyết toán Thu, Chi cân đối ngân sách nhà nước7.
năm 2008
Quyết toán năm 2009
Dự toán năm 2010
Dự toán năm 2011
1 Thu cân đối ngân sách
Vay trong nước 48,009 88,520 98,700 92,600
Vay nước ngoài 19,688 27,380 21,000 28,000
Qua bảng thống kê trên, có thể thấy rằng, tình hình bội chi ngân sách nhà nướctrong những năm gần đây xấp xỉ 5% - tỷ lệ này vẫn ở trong mức giới hạn bội chi chophép Sau đây sẽ là đánh giá chi tiết cho từng năm:
Trang 18(Tỷ đồng)
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 189,300
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 64,500
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể 208,850
Nguồn bù đắp bội chi
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2008
Theo bảng số liệu trên, dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 là
323000 tỉ đồng phấn đấu cả năm đạt 399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với
dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong
đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, ;loại trừ yếu tố tăng thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ
lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ tập trung chỉ đạotăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008 Dự toán chi cân đối ngân sách
17
Trang 19nhà nước Quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện cả năm đạt 474280 tỉđồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007 Cũng theo đó,bội chi ngân sách nhà nước năm 2008 Quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng Ước cảnăm bộ chi ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểmtoán Đến ngày 31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo
an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại:
Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuếxuất nhập khẩu Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sảnxuất kinh doanh gặp khó khăn
Các bộ ,ngành ,địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nướcđược giao nhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhànước và nguồn trái phiếu chính phủ còn chậm
Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãngphí ,kém hiệu quả ,một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhànước
Năm 2009:
(Tỷ đồng)
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88,200
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, quản lý hành chính 269,300
18
Trang 206 Dự phòng 13,700
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước nước năm 2009
Theo bảng số liệu trên, dự toán thu ngân sách nhà nước: Dự toán tổng thu cân đốingân sách nhà nước năm 2009 là 389,900 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 23% GDP; trong đó, từthuế, phí và lệ phí là 21,5% GDP Về cơ cấu thu năm 2009, dự toán thu nội địa chiếm59,8% tổng thu ngân sách nhà nước, thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt độngxuất khẩu, nhập khẩu chiếm 22,6% tổng thu cân đối ngân sách nhà nước Và dự toánchi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sáchvới mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, đảm bảo các nguyên tắc sauđây:
Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh
xã hội và điều chỉnh tiền lương, các khoản tăng chi theo tiền lương
Bố trí tăng chi dự phòng, dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủđộng phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, bố trí đảm bảo việc chi trả
nợ theo đúng cam kết
Bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục đào tạo dạy nghề y tế, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, bảo vệ môi trường, nông nghiệp nông thôn … theo Nghịquyết của Đảng, Quốc hội
- Đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để tiết kiệm, tiếptục rà soát việc thắt chặt chi xây dựng, bố trí dự toán chi thường xuyên cho các Bộ, các
cơ quan trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008, giảm mứcbội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP
Cũng theo bảng số liệu trên, dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 là 491,300
tỷ đồng, tăng 23,1% so với dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 Số tăng chi này tậptrung cho các nhiệm vụ chính Đặc biệt, bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82% GDP(giảm 3,700 tỷ đồng so với tính bội chi ở mức 5% GDP) để góp phần kiềm chế lạm
19