Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát.. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án không thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với di sản của cụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ LỚP QUỐC TẾ 46-A1
BÀI THẢO LUẬN SỐ 7
MÔN: LUẬT DÂN SỰ
THÀNH VIÊN NHÓM BỐN LỚP QT46A1
STT HỌ VÀ TÊN LỚP MSSV GHI CHÚ
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: XÁC ĐỊNH VỢ/CHỒNG CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN 4
1 Điều luật nào của BLDS quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật? 4
2 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được nghiên cứu 4
3 Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời 5
4 Cụ Thát và cụ Thứ có đăng ký kết hôn không? Vì sao? 5
5 Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 5
6 Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 6
7 Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm thì
cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 6
8 Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 7
9 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát 7
VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH CON CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN 8
1 Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời 8
2 Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 8
3 Trong Bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 9
4 Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 10
5 Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý
6 Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào? Vì sao? 10
7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng 10
8 Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, anh Tùng có được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung không? Vì sao? 11
9 Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11
10 Đoạn nào của bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát? 11
11 Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến 11
12 Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào xác định con dâu, con rể là người thừa kế của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 11
Trang 3VẤN ĐỀ 3: CON RIÊNG CỦA VỢ/CHỒNG 12
1 Bà Tiến có là con riêng của chồng cụ Tần không? Vì sao? 12
2 Trong điều kiện nào con riêng của chồng được thừa kế di sản của vợ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12
3 Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần không? Vì sao? 12
4 Nếu bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ mấy của cụ Tần? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12
5 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án không thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với di sản của cụ Tần 13
6 Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về chế định thừa kế liên quan đến hoàn cảnh của con riêng của chồng/vợ trong BLDS hiện nay 13
VẤN ĐỀ 4: THỪA KẾ THẾ VỊ VÀ HÀNG THỪA KẾ THỨ HAI, THỨ BA 14
1 Trong vụ việc trên, nếu chị C3 còn sống, chị C3 có được hưởng thừa kế của cụ T5 không? Vì sao? 14
2 Khi nào áp dụng chế định thừa kế thế vị? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14
3 Vợ/chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ có được hưởng thừa kế thế vị không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14
4 Trong vụ việc trên, Tòa án không cho chồng của chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 Hướng như vậy có thuyết phục không? Vì sao? 15
5 Theo quan điểm của các tác giả, con đẻ của con nuôi của người quá cố có thể được hưởng thừa kế thế vị không? 15
6 Trong vụ việc trên, đoạn nào cho thấy Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5? 15
7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án cho cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 16
8 Theo BLDS hiện hành, chế định thừa kế thế vị có được áp dụng đối với thừa kế theo di chúc không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 16
9 Theo anh/chị, có nên áp dụng chế định thừa kế thế vị cho cả trường hợp thừa
kế theo di chúc không? Vì sao? 16
10 Ai thuộc hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba? 17
11 Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 ở thời điểm
mở thừa kế không? Vì sao? 17
12 Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 ở thời điểm
mở thừa kế không? Vì sao? 17
13 Cuối cùng, Tòa án có áp dụng hàng thừa kế thứ hai không trong vụ việc trên?
Vì sao? 17
14 Suy nghĩ của anh/chị về hướng của Tòa án về vấn đề nêu trong câu hỏi trên (áp dụng hay không áp dụng quy định về hàng thừa kế thứ hai) 17
NGUỒN THAM KHẢO 18
Trang 4VẤN ĐỀ 1 XÁC ĐỊNH VỢ/CHỒNG CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN
Tóm tắt bản án số 20/2009/DSPT ngày 11/02/2009 và 12/02/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội:
Cụ Nguyễn Tất Thát có hai người vợ, vợ cả là cụ Nguyễn Thị Tần, vợ hai là cụ Phạm Thị Thứ Cụ Thát và cụ Tần có 4 người con chung là ông Nguyễn Tất Thăng, bà Nguyễn Thị Bằng, Nguyễn Thị Khiết và Nguyễn Thị Triển Cụ Thát và cụ Thứ có 1 người con là Nguyễn Thị Tiến Trước khi chết cụ Thát, cụ Thứ không để lại di chúc
Cụ Tần có để lại mấy lời dặn dò về việc cho bà Tiến một phần nhà đất của bố mę các
bà để lại nhưng ông Thăng không công nhận Tài sản của bố mẹ các bà để lại gồm 5 gian nhà ngói cổ, 2 gian nhà ngang, bếp, chuồng trâu, sân bể trên diện tích đất 640m² tại số nhà 11 hẻm 38/58/17 tổ 38, cụm 5 phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội Quá trình
ở bố mẹ các bà có tôn tạo đất nên có 786,5m2 như Tòa đo thực tế Hiện tại nhà đất trên
do ông Thăng trực tiếp quản lý Nay các đồng nguyên đơn và ông Thăng đều yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật
Quyết định của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao Hà Nội là chấp nhận đơn
yêu cầu chia thừa kế của bà Nguyễn Thị Tiến, bà Nguyễn Thị Bằng, bà Nguyễn ThịTriển đối với ông Nguyễn Tất Thăng về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ
1 Điều luật nào của Bộ luật Dân sự quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật?
Trường hợp thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây: a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không
có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”
2 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong
vụ việc được nghiên cứu
Trang 5Việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được nghiên cứu là hợp
lý
Giải thích:
- Khi cụ Thát mất (1961), cụ Thứ mất (1994) đều không để lại di chúc, cụ Tần trước khi mất (1995) cũng chỉ dặn dò lại cho bà Bằng ghi chép vào ngày 08/06/1994 nên theo Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015 về di chúc miệng thì không thỏa mãn các điều kiện để được xem là di chúc miệng hợp pháp Do vậy, Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở
- Trích đoạn Bản án số 20/2009/DSPT trong phần xét thấy: “Bà Tiến còn xuất
trình lí lịch và giấy khai sinh chính do Ủy ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến có bố là Nguyễn Tất Thát, mẹ là Phạm Thị Thứ”, “ông Đăm là con trai cụ Nguyễn Thị Vân, mẹ ông Đăm là con cụ Nguyễn Tất Vặn – cụ Vặn
là em ruột cụ Nguyễn Tất Thát đều khẳng định cụ Thứ là vợ hai cụ Thát” Do
vậy, cụ Thứ là vợ hợp pháp và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cụ Thứ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thát
3 Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết”
4 Cụ Thát và cụ Thứ có đăng ký kết hôn không? Vì sao?
Không có căn cứ để xác định việc cụ Thát và cụ Thứ có đăng kí kết hôn hay không vì trong bản án không đề cập đến điều này Ở đây, nhóm nhận định Cụ Thát và
cụ Thứ không đăng ký kết hôn Hai cụ chỉ sống với nhau như là vợ chồng
5 Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Trường hợp 1: Quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 mục II Nghị quyết 01/2003/NQ – HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:
“Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, nếu có một bên chết trước, thì bên vợ hoặc chồng còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế”
- Với quy định này, nếu nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước 03/01/1987, hôn nhân đó có giá trị pháp lý nếu người vợ hoặc chồng được hưởng thừa kế của người đã chết Nhưng phải chứng minh được quan hệ vợ chồng thật sự tồn tại và họ có đủ điều kiện kết hôn thì mới được hưởng thừa
kế của nhau
Trang 6Trường hợp 2: Quan hệ vợ chồng xác lập từ ngày 03/01/1987 đến ngày
01/01/2001:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 mục II Nghị quyết 01/2003/NQ – HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:
“Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003; do đó cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc vợ còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế […]”
- Quy định này nếu một người chết trước 01/01/2003 thì người còn lại được hưởng thừa kế nếu như họ sống chung với nhau như vợ chồng
Trường hợp 3: Trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy
định về Người thừa kế theo pháp luật: “Trong trường hợp một người có nhiều
vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ
mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”
Trường hợp 4: Sau khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959:
- Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định: “Cấm người đang có vợ,
có chồng kết hôn với người khác”
- Nhưng thực tế ở miền Nam thì ngày 25/03/1977 được lấy làm mốc để áp dụng nguyên tắc một vợ một chồng Vì vậy, đối với người đã có vợ ở miền Nam thì hôn nhân thực tế được chấp nhận trước ngày 25/02/1977
6 Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với cụ Tần
Trích đoạn Bản án số 20/2009/DSPT: “Bố mẹ các bà là cụ Nguyễn Tất Thát (chết
năm 1961) có 2 vợ, vợ cả là Nguyễn Thị Tần (chết năm 1995), vợ hai là cụ Phạm Thị Thứ (chết năm 1994).”
7 Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp
lý khi trả lời
chồng vào cuối năm 1960 nên cụ Thứ không là vợ hợp pháp của cụ Thát vì cụ
Trang 7Thát và cụ Thứ không đăng ký kết hôn và cụ Thát đã có vợ hợp pháp là cụ Tần
Vì vậy, cụ Thứ không là người thừa kế của cụ Thát
về người thừa kế theo pháp luật: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước
ngày 13/01/1990 - ngày công bố Luật hôn nhân và gia đình 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25/3/1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản
án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ
nhất của chồng và ngược lại”
8 Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ sống với nhau từ năm 1960 nhưng hai cụ chung sống với nhau ở miền Nam thì cụ Thứ vẫn được hưởng di sản của cụ Thát
Theo điểm a khoản 4 Nghị quyết 02/HĐTP quy định: “Trong trường hợp một
người có nhiều vợ (trước ngày 13/01/1960-ngày công bố luật Hôn Nhân và gia đình năm 1959 - đối với Miền Bắc; trước ngày 25/3/1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với Miền Nam và đối với cán
bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn không
bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa
kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.”
9 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của
cụ Thát
Việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát là hợp lí, công bằng
và đều đảm bảo được lợi ích cho các bên
Giải thích:
- Cụ Thứ và cụ Thát chung sống với nhau trước thời điểm ngày 13/01/1960 - ngày công bố luật Hôn nhân và gia đình 1959 có hiệu lực đối với miền Bắc nên việc chung sống của họ được xem là vợ chồng hợp pháp (dù không đăng
ký kết hôn)
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định
về người thừa kế theo pháp luật: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ
(trước ngày 13/01/1990 - ngày công bố Luật hôn nhân và gia đình 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25/3/1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội
có vợ miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không
bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của chồng và ngược lại”
Trang 8VẤN ĐỀ 2 XÁC ĐỊNH CON CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN
Tóm tắt Quyết định số 182/2012/DS-GĐT ngày 20/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:
Cụ Phạm Ngọc Cầu và cụ Nguyễn Thị Dung có người con là bà Phạm Thị Hồng Nga (đã thoát ly gia đình từ năm 1962) Năm 1972, cụ Dung chết, năm 1976 cụ Cầu
gồm 1 ngôi nhà, giếng nước, cây cối lâu năm tại thửa số 1004 (Phú Yên), bà Nga đã bán đi toàn bộ nguyên vật liệu của nhà lá nên di sản chỉ còn 1 nền móng nhà, giếng nước và cây cối lâu năm Ông Tùng đã được hai cụ nuôi dưỡng từ nhỏ và phụng dưỡng, chăm sóc, lo mai táng cho hai cụ và hiện gia đình ông cũng đang quản lý, sử dụng khối tài sản của hai cụ Nay bà Nga có nhu cầu sử dụng đất xây dựng nhà từ đường thờ cúng cha mẹ, tổ tiên nên yêu cầu gia đình ông Tùng trả lại
Tòa sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nga đòi hiện vật của bà Nga,
năm là của cụ Cầu và Dung để lại cho bà Nga thừa kế Tòa phúc thẩm buộc vợ chồng ông Tùng, bà Tình trả cho bà Nga giá trị giếng nước và giá trị đất tổng cộng
dụng, trả lại đất cho bà Nga
Quyết định của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là hủy toàn bộ bản án sơ
thẩm và phúc thẩm về vụ án, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại
1 Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hàng
thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”
2 Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Theo quy định tại Điều 653 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Con nuôi và cha nuôi,
mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.”
Một người được coi là con nuôi của người để lại di sản và việc nhận con nuôi của người để lại di sản phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, điều kiện, đăng ký thực hiện thủ tục được nêu trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản liên quan khác Cụ thể:
- Theo quy định tại điều 8 Luật con nuôi 2010 về Người được nhận làm con nuôi:
Trang 9“1 Trẻ em dưới 16 tuổi
2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi
3 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng
4 Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”
- Theo quy định tại Điều 14 Luật con nuôi 2010 về Người để lại di sản nhận con nuôi:
“1 Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt
2 Những người sau đây không được nhận con nuôi:
a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
c) Đang chấp hành hình phạt tù;
d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.”
3.Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không
áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này.”
→ Như vậy, ngay cả khi bên nhận nuôi con và bên được nhận nuôi đáp ứng theo quy định của pháp luật thì họ phải nộp hồ sơ lên Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký nhận con nuôi Sau khi làm xong thủ tục và được cấp Giấy xác nhận làm con nuôi thì về phương diện pháp lý, con nuôi sẽ được hưởng di sản thừa kế theo đúng pháp luật
3 Trong Bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trong bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi
Trang 10Trích đoạn Bản án số 20/2009/DSPT: “Các bà có nghe nói trước đây bố mẹ các
bà có nhận bà Nguyễn Thị Tý là con nuôi, sau đó bà Tý về với bố mẹ đẻ và đi lấy chồng.” và “Mẹ đẻ của các anh chị là bà Nguyễn Thị Tý trước đây có là con nuôi của
cụ Thát và của cụ Tần trong thời gian khoảng 6 đến 7 năm, sau đó bà Tý về nhà mẹ
đẻ sinh sống.”
4 Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Toà án không coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần
Trích đoạn Bản án số 20/2009/DSPT: “Tại bản án dân sự sơ thẩm số
28/2008/DS-ST ngày 29-4-2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội: [ ]
- Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ
Thứ.”
5 Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý
Giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý là hợp lý và đúng theo pháp luật Giải thích:
- Trong thực tiễn việc nuôi con nuôi chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn thì không đủ cơ sở xác định đó là quan hệ nuôi con nuôi thực tế
- Trong lý lịch của cụ Thát, cụ Tần không ghi phần con nuôi là bà Tý Việc nhận con nuôi này được nói bằng miệng qua nhiều người kể lại và không có giấy tờ làm cơ sở xác minh bà Tý là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần
6 Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào? Vì sao?
Trong Quyết định số 182, Toà án xác định ông Tùng được hưởng thừa kế với tư
cách là con nuôi, tức hàng thừa kế thứ nhất
Trích đoạn Quyết định số 182/2012/DS-GĐT ngày 20/04/2012 của Tòa dân sự
Tòa án nhân dân tối cao: “Trong quá trình giải quyết vụ án, các cụ cao tuổi trong làng
đều xác nhận ông Tùng ở với 2 cụ từ lúc 2 tuổi (do cha mẹ ông Tùng chết sớm và hai
cụ là bà con họ hàng) Như vậy ông Tùng đã ở với hai cụ từ năm 1951 Ông Tùng cũng cho rằng hai cụ đã nuôi dưỡng ông từ nhỏ và khi hai cụ già yếu ông là người phụng dưỡng, chăm sóc hai cụ, khi hai cụ chết ông Tùng là người lo mai táng cho hai cụ Vì vậy, cũng cần phải thu thập, xác minh về lời khai của các nhân chứng và lời khai của ông Tùng về việc hai cụ nuôi dưỡng ông Tùng và ông Tùng cũng là người chăm sóc, nuôi dưỡng hai cụ khi già yếu thì phải coi ông Tùng là con nuôi của hai cụ trên thực
tế và nếu ông Tùng có yêu cầu được chia di sản của hai cụ, thì giải quyết theo quy định của pháp luật”
7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng
Hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng là hợp tình hợp lý Giải thích:
- Cụ Dung và cụ Cầu đã nhận nuôi anh Tùng từ lúc 2 tuổi và ở cùng hai cụ đến lúc hai cụ chết