Chính phủ Hoàng gia của Vương quốc Campuchia đã và đang thực hiện cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô, và đã đạt được một số thành công đáng kể trong việc ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô.. C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP HỌC PHẦN KINH TẾ ASEAN
Đề tài: Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia và
khả năng hợp tác với Việt Nam
Họ và tên sinh viên : LÊ ANH DŨNG
Mã sinh viên : 11196007 Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế Lớp : Kinh tế quốc tế 61 A
Hệ : Chính quy Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Email: langnt@neu.edu.vn, langnguyen3300@gmail.com
SĐT: 0983478486 Thời gian học : Học kỳ 3 năm học 2021-2022 SĐT SV: 0328635421
Email SV: dungla.neu@gmail.com
HÀ NỘI, 6/2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài tập này hoàn toàn do tôi thực hiện Các phần trích dẫn và tài liệu sử dụng trong bài tập hoàn toàn trung thực, được trích nguồn và đảm bảo độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin chịu trách nhiệm về bài tập của mình
Hà Nội ngày 05 tháng 06 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Lê Anh Dũng
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em xin được cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung và các giảng viên thuộc Viện Thương Mại và Kinh tế quốc tế nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quà trình thực hiện bài tập Trong khoảng thời gian được làm việc với thầy, em
đã không ngừng học tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình mà còn được học tập được tinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình học tập và công tác sau này
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên, đóng góp
ý kiến và giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bài tập này
Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Lê Anh Dũng
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 2
1.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu 3
1.2.2 Nhiệm vụ 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CAM-PU-CHIA 4
2.1 Bối cảnh lịch sử 4
2.2 Tổng quát về chính sách công nghiệp của Campuchia 6
2.3 Một số chính sách cụ thể 7
2.3.1 Một số chính sách chính 7
2.3.1.1 Khuyến khích FDI 7
2.3.1.2 Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước 7
2.3.1.3 Phát triển công nghiệp định hướng xuất khẩu và sản xuất thay thế nhập khẩu 8
2.3.1.4 Hình thành đặc khu kinh tế 10
2.3.1.5 Phát triển ngành năng lượng và mạng lưới điện 11
2.3.1.6 Khuôn khổ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
2.3.2 Một số chính sách bổ trợ 13
2.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô 13
2.3.2.2 Chính sách thương mại 14
2.3.2.3 Chính sách thị trường lao động 14
2.3.3 Tầm nhìn tương lai 15
CHƯƠNG 3 TRIỂN VỌNG HỢP TÁC GIỮA CAM-PU-CHIA VÀ VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP 17
3.1 Quan hệ hợp tác Việt Nam – Cam-pu-chia 17
3.2 Triển vọng hợp tác giữa Campuchia và Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1 ASEAN Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
3 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài
Sau nhiều thập kỷ nội chiến và xung đột chính trị, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của Campuchia
đã được tổ chức vào tháng 5 năm 1993 dưới sự bảo trợ của Cơ quan chuyển tiếp liên hợp quốc tại Campuchia (UNTAC), sau đó Campuchia đạt được hòa bình, thống nhất quốc gia và tương ổn định chính trị Sau cuộc bầu cử, Hiến pháp của Vương quốc Campuchia được ban hành vào tháng 9 năm
1993 Kể từ đó, Campuchia được chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường tự do Chính phủ Hoàng gia của Vương quốc Campuchia đã và đang thực hiện cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô, và đã đạt được một số thành công đáng kể trong việc ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô Nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng kể từ nửa đầu những năm 1990, trong khi lạm phát đã giảm đáng kể
Ngoài những tiến bộ trong hòa bình, ổn định và trật tự xã hội, Campuchia hiện ngày càng hội nhập sâu rộng vào khu vực sau khi gia nhập ASEAN và các cơ chế khu vực và tiểu vùng, với sự tham gia vào các hoạt động bao gồm đăng cai tổ chức thành công hội nghị cấp cao ASEAN năm
2002 tại Phnom Penh Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã ký các hiệp định thương mại với nhiều nước ở Châu Á để nới lỏng khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài Trên toàn cầu, một cột mốc quan trọng cuối cùng đã đạt được khi Campuchia được công nhận là thành viên thứ 148 của WTO vào ngày 13 tháng 10 năm 2004 Campuchia là nước kém phát triển (LDC) thứ hai sau Nepal gia nhập WTO thông qua quá trình đàm phán đầy đủ của bên làm việc Với nguồn nhân lực và chuyên môn hạn chế trong thương mại quốc tế, tư cách thành viên WTO đã áp đặt lên Campuchia trách nhiệm cao hơn trong việc tuân thủ các giao thức và tiêu chuẩn nghiêm ngặt Tuy nhiên, nó đồng thời mở ra
cơ hội to lớn cho giao thương với thế giới nói chung trên một cơ sở cạnh tranh
Thực hiện các chính sách phát triển thương mại và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thuận lợi, công nghiệp Campuchia phát triển nhanh chóng Sản xuất ở Campuchia trước đây hầu hết được tiến hành ở quy mô rất nhỏ, không chính thức, chế biến thực phẩm, làm gạch và chế biến gỗ đóng vai trò quan trọng hàng đầu Tuy nhiên, Campuchia đã trải qua rất nhiều thay đổi cơ cấu trong khoảng thập kỷ trước hay sau khi tuyên bố nền kinh tế thị trường
Chiến lược quan trọng của Chính phủ Hoàng gia Campuchia với các chính sách ngành của mình là mở rộng liên kết kinh tế giữa nông nghiệp và công nghiệp để cải thiện khu vực công nghiệp
và giảm bớt sự phụ thuộc vào khu vực chính duy nhất, ngành công nghiệp dệt may Chính phủ tiếp tục cung cấp cơ sở hạ tầng vật chất cần thiết và các dịch vụ hỗ trợ đủ tiêu chuẩn để nâng cao môi trường đầu tư, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng cường đào tạo chuyên môn và thành lập các
Trang 6khu công nghiệp hoặc đặc các khu kinh tế (SEZs) Khung pháp lý cũng đang được tăng cường để đảm bảo hiệu quả và minh bạch trong việc thực hiện pháp luật và các quy định Sau đây là phác thảo theo trình tự thời gian về những thay đổi ở Campuchia trong quá trình công nghiệp hóa
(i) Bắt đầu từ năm 1989: Cải cách triệt để được đưa ra để chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất và bất động sản Tư nhân hóa và mua lại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện và FDI đã được chào đón nồng nhiệt
(ii) Bắt đầu từ năm 1993: Có một sự thay đổi hoàn toàn từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường Nền kinh tế trở nên phụ thuộc nhiều vào bên ngoài và sự hỗ trợ
từ các cơ quan viện trợ quốc tế
(iii) Sau năm 1995: Nền kinh tế tăng trưởng mạnh từ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, đặc biệt là sản xuất hàng may mặc và các ngành liên quan đến du lịch
(iv) Sau năm 1997: Nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi tình trạng bất ổn chính trị và hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Tuy nhiên, Campuchia vẫn có thể vượt qua điều này với tăng trưởng tích cực và ngành công nghiệp trong nước tồn tại chủ yếu do nhu cầu mạnh mẽ trong lĩnh vực may mặc
(v) Sau năm 1999: Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực diễn ra bằng việc gia nhập ASEAN FDI vào lĩnh vực sản xuất bắt đầu đổ vào
(vi) Sau năm 2003: Hội nhập thương mại toàn cầu diễn ra bằng việc gia nhập WTO Ngành may mặc vẫn chiếm ưu thế trong ngành công nghiệp và thương mại của Campuchia tiếp tục phát triển liên tục
Với định hướng phát triển ngành công nghiệp có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, đồng thời có sự gần gũi về vị trí địa lý và văn hóa, cũng như quan hệ ngoại giao tốt đẹp đã được hình thành từ lâu, hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Cam-pu-chia và Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển Điều này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu sâu hơn về chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia và triển vọng hợp tác với Việt Nam Vì vậy, đề tài “Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia và khả năng hợp tác với Việt Nam” được lựa chọn
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích chính sách phát triển công nghiệp của Campuchia, từ đó đề xuất định hướng và khả năng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian
Trang 7tới
1.2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Thứ nhất, giới thiệu bối cảnh phát triển ngành công nghiệp Cam-pu-chia
Thứ hai, phân tích chính sách phát triển ngành công nghiệp của Cam-pu-chia
Thứ ba, nhận định triển vọng hợp tác trong công nghiệp giữa Việt Nam và Cam-pu-chia
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia và khả năng hợp tác với Việt Nam
Bài tập sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra
1.5 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia
Chương 3: Triển vọng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Việt Nam và Cam-pu-chia
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CAM-PU-CHIA 2.1 Bối cảnh lịch sử
Hầu hết các cơ sở công nghiệp của Campuchia ở dạng nhỏ và doanh nghiệp vừa (DNVVN) Ngành công nghiệp bắt đầu phát triển vào những năm 1960 sau khi quốc gia đạt được đầy đủ sự công nhận và uy tín quốc tế Sau đó, lĩnh vực này phải đối mặt với một cuộc chiến khó khăn để tồn tại do nhiều thay đổi trong lãnh đạo và chế độ dẫn đến sự phá hủy và trì trệ
Công nghiệp chỉ chiếm 5% GDP của Campuchia vào năm 1985, giảm so với 19% vào năm
1969 Hoạt động công nghiệp tiếp tục tập trung vào chế biến các mặt hàng nông nghiệp, chủ yếu là gạo, cá, gỗ và cao su Nhà máy sản xuất quy mô nhỏ và sử dụng trung bình ít hơn 200 công nhân Những cơ sở này hoạt động nhằm sản xuất đủ hàng tiêu dùng (nước ngọt, thuốc lá và các mặt hàng thực phẩm) và các sản phẩm gia dụng (xà phòng, giấy và đồ dùng) để đáp ứng nhu cầu địa phương
Thông qua so sánh các doanh nghiệp thời trước và sau chiến tranh có thể đánh giá mức độ phục hồi công nghiệp của Campuchia Năm 1969, năm cuối cùng trước khi đất nước chìm trong chiến tranh càn quét Đông Dương, một cuộc điều tra cho thấy toàn quốc có 18 doanh nghiệp doanh
Trang 8nghiệp lớn (13 doanh nghiệp công và 5 doanh nghiệp hỗn hợp công-tư) và 33.000 DNVVN thuộc
sở hữu tư nhân Khoảng một nửa số nhà máy hoạt động vào năm 1969 là nhà máy xay xát gạo, hoặc
đã tham gia vào chế biến gạo Năm 1985, hãng thông tấn chính phủ Sarpodamean Kampuchea thông báo rằng 56 nhà máy đã được cải tạo và đã được đưa vào hoạt động trở lại Tại chính thủ đô, khoảng một nửa các nhà máy tại Phnôm Pênh trước chiến tranh đã mở cửa trở lại vào năm 1985 Hầu hết các ngành công nghiệp đều sản xuất ở mức thấp hơn nhiều so với công suất do thường xuyên bị cắt điện, thiếu phụ tùng thay thế, nguyên liệu thô, và thiếu cả công nhân lành nghề và cán bộ quản lý có kinh nghiệm Sự phục hưng công nghiệp tiếp tục khó và cực kỳ chậm vì nó chủ yếu dựa vào việc sử dụng các tài nguyên
Đầu năm 1986, các nhà máy công nghiệp lớn ở Phnom Penh bao gồm nhà máy dệt Tuol Kok, nhà máy dệt lớn nhất trong số 6 nhà máy dệt của thành phố (tuy nhiên nhà máy không hoạt động 3 ngày trong tuần vì thiếu điện) Cùng với đó có bốn nhà máy điện, một nhà máy nước giải khát, một nhà máy sản xuất thuốc lá, một nhà máy bê tông sắt và một số doanh nghiệp khác sản xuất hàng tiêu dùng
Tại đô thị Sihanoukville (hoặc Kampong Som) và các vùng lân cận Tỉnh Kampot, một số nhà máy xay xát gạo, gỗ xẻ, nhà máy gạch ngói nhỏ, nhà máy điện, một nhà máy lọc dầu, một nhà máy lắp ráp máy kéo, các nhà máy xi măng và phốt phát, và một nhà máy điện lạnh để lưu trữ cá được báo cáo là đã đi vào hoạt động Trong trung tâm công nghiệp quan trọng Ta Khmau, tỉnh Kampot,
có một nhà máy sản xuất lốp xe (sở hữu máy phát điện riêng, nhưng thiếu cao su và phụ tùng thay thế), một số xưởng cơ khí, và nhà kho Tỉnh Batdambang có các cửa hàng sửa chữa nông cụ, một nhà máy tách hạt bông và dệt vải, nhà máy bao đay, nhà máy sửa chữa ô tô và máy kéo và một nhà máy phân lân Tại tỉnh Kampong Cham, trước đó là trung tâm trồng thuốc lá và sản xuất hàng may mặc bằng vải bông, đã có nhà máy vải dệt sợi bông, một số hoạt động dệt lụa và một nhà máy sản xuất săm lốp ô tô
Doanh nghiệp nhỏ do gia đình tự quản và doanh nghiệp tư nhân chuyên dệt, may đo (sampot
và xà rông lụa - quốc phục Campuchia), và các sản phẩm chế tạo nhỏ phát triển nhanh hơn so với các ngành công nghiệp công, và chúng đã đóng góp đáng kể đến sự phục hồi kinh tế Theo ước tính chính thức, giá trị sản lượng của địa phương và của các ngành thủ công nghiệp cộng lại lên tới 50% giá trị sản xuất trong các ngành công nghiệp quốc dân năm 1984 Riêng ở Phnôm Pênh đã có 1.840 các cửa hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị sản lượng tăng từ 14 triệu riel năm 1981 lên 50 triệu riels năm 1984
Trang 9Năm 1989, trong khi Việt Nam tiến hành công cuộc “Đổi mới", Campuchia cũng bắt đầu cải cách hệ thống quản lý kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (hoặc kinh tế xã hội chủ nghĩa) sang định hướng thị trường Điều này được bắt đầu bằng việc công nhận tài sản tư nhân trong bất động sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước, và chào đón FDI Những cải cách đã đặt nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa của Campuchia
Sự phát triển công nghiệp được thúc đẩy bởi chính sách đầu tư của Chính phủ Hoàng gia Campuchia Chính sách khuyến khích sản xuất trong nước và thương mại quốc tế bằng cách mở cửa thị trường tự do cho tất cả các nhà đầu tư và đối tác được đầu tư vào quốc gia mà không có bất kỳ phân biệt đối xử và hạn chế Ngoại lệ là yêu cầu rằng quyền sở hữu đất đai là của các thể nhân có quốc tịch Campuchia hoặc theo pháp luật các pháp nhân trong đó hơn 51% vốn chủ sở hữu do người hoăc pháp nhân có quốc tịch Campuchia nắm giữ trực tiếp người hoặc pháp nhân có quốc tịch Campuchia
Bắt đầu từ năm 1994, Chính phủ Hoàng gia Campuchia bắt đầu tư nhân hóa doanh nghiệp quy mô nhỏ và các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa, đặc biệt là những doanh nghiệp không tạo
ra lợi nhuận như kỹ thuật, nhà máy gạo, nước giải khát, dệt may và nhà máy nấu rượu Trong năm
2009, Đường sắt Hoàng gia Campuchia đã được tư nhân hóa cho một công ty của Úc tên là TOLL
Vì thế cho đến nay, chỉ còn một số doanh nghiệp chiến lược là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, bao gồm cảng, doanh nghiệp điện, cấp nước, hoặc một phần thuộc sở hữu nhà nước như doanh nghiệp hàng không, kiểm soát không lưu
2.2 Tổng quát về chính sách công nghiệp của Campuchia
Chính sách công nghiệp của Campuchia được xây dựng dựa trên bảy điểm chính:
1 Phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động;
2 Thúc đẩy phát triển kinh doanh nông nghiệp;
3 Phát triển các ngành công nghiệp dựa trên việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản;
4 Thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ và thủ công nghiệp;
5 Khuyến khích chuyển giao công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu;
6 Thành lập khu công nghiệp và khu chế xuất;
7 Tăng sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu
Cốt lõi của chính sách công nghiệp này là tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà Campuchia có lợi thế so sánh để thúc đẩy xuất khẩu Do đó, một thành phần quan trọng của chính
Trang 10sách công nghiệp liên quan đến việc giảm bớt các rào cản đối với xuất khẩu và nhập khẩu đầu vào của doanh nghiệp Đây là một trong những khía cạnh chính của chính sách được coi là đã phát huy hiệu quả
Năm 2003, LOI 1994 đã được sửa đổi để hạn chế sự tùy nghi, cải thiện tính minh bạch và giảm gánh nặng hành chính, cũng như tăng nguồn thu thuế nhà nước Trong LOI sửa đổi, thuế doanh nghiệp được tăng lên 20% từ 9% đối với tất cả các dự án, ngoại trừ các doanh nghiệp tài nguyên được nâng lên 30%, và 9% hoặc 0% đối với các dự án hiện có và được miễn thuế các nhà đầu tư Việc miễn thuế doanh nghiệp này được cung cấp tự động trong 3 năm và về nguyên tắc có thể được gia hạn lên đến 3 năm nữa tùy thuộc vào giấy chứng nhận hàng năm và sự tuân thủ của các công ty Ngoài ra, trong khi các khoản tái đầu tư và thu nhập hồi hương được miễn thuế trong LOI 1994, theo LOI sửa đổi năm 2003, các khoản này sẽ phải chịu thuế
2.3.1.2 Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước
Cải cách doanh nghiệp nhà nước (SOEs) được coi là một trong những chính sách kinh tế cốt lõi nhằm chuyển đổi Campuchia từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường vào cuối những năm 1980 Doanh nghiệp Nhà nước ở Campuchia bao gồm ba loại hình: a) Doanh nghiệp công ích kinh tế; 2) công ty nhà nước; c) Liên doanh trong đó Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ trên 51% vốn hoặc quyền biểu quyết
Quá trình tư nhân hóa các DNNN ở Campuchia có thể được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn một bắt đầu vào cuối năm 1989 cho đến giữa năm 1993 Trong giai đoạn này, các Bộ chỉ cần
tư nhân hóa các doanh nghiệp của mình dưới sự giám sát trực tiếp của họ, đàm phán các điều khoản bán/cho thuê và đưa doanh thu trực tiếp vào ngân sách của Bộ Giai đoạn hai bắt đầu vào giữa năm
Trang 111995, và được thiết kế để thắt chặt và tập trung kiểm soát toàn bộ quá trình bởi một ủy ban tư nhân hóa liên bộ dưới sự lãnh đạo của Bộ Kinh tế và Tài chính
Năm 1989, có 187 DNNN ở Campuchia Đến cuối năm 2000, 160 doanh nghiệp nhà nước đã được tư nhân hóa, trong đó 139 doanh nghiệp cho tư nhân thuê, 12 doanh nghiệp chuyển thành liên doanh, 8 doanh nghiệp bán hết và 8 doanh nghiệp giải thể
2.3.1.3 Phát triển công nghiệp định hướng xuất khẩu và sản xuất thay thế nhập khẩu
Kế hoạch Hành động Phát triển Công nghiệp của Chính phủ Hoàng gia Campuchia 2003) có hai mục tiêu: phát triển các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, và phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng được lựa chọn Những mục tiêu này được cho là đạt được bằng cách thúc đẩy: (i) các ngành thâm dụng lao động, (ii) các ngành dựa vào tài nguyên thiên nhiên, (iii) DNVVN, (iv) nông nghiệp, (v) chuyển giao công nghệ và nâng cấp chất lượng sản phẩm công nghiệp, (vi) thành lập các khu công nghiệp, và (vii) phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu các hàng tiêu dùng
(1998-Chiến lược phát triển công nghiệp hướng ngoại được ưu tiên với bốn lý do Thứ nhất, quy
mô thị trường nội địa nhỏ về dân số và sức mua hạn chế cơ hội sản xuất hiệu quả Thứ hai, Campuchia không có đủ nguồn lực tài chính hoặc chuyên môn quản lý để sử dụng đầy đủ cơ sở tài nguyên thiên nhiên Thứ ba, tiếp cận với những đổi mới công nghệ làm nền tảng cho gia tăng hiệu quả và mở rộng
sự lựa chọn cho người tiêu dùng chỉ có thể đến từ việc hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu Thứ tư, không quốc gia nào có lợi thế so sánh trong sản xuất mọi thứ và do đó tất cả các quốc gia đều có thể hưởng lợi từ việc hợp tác và giao dịch với những quốc gia khác
Việc thúc đẩy sản xuất sử dụng nhiều lao động sẽ tiếp tục tập trung vào ngành dệt may nơi
có sẵn nguồn cung chủ yếu là lao động nữ hỗ trợ chi phí-cạnh tranh Tuy nhiên, chính phủ thừa nhận rằng để giữ lại và tăng thị phần trong môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh yêu cầu nâng cấp chất lượng sản phẩm và tăng năng suất thông qua các cải tiến trong công nghệ và quản lý Điều quan trọng là các quan hệ ngành tốt hơn trong khuôn khổ pháp lý đã có được phát triển và các cách thức
để tăng hiệu quả cấp số nhân của ngành sản xuất hàng may mặc được khám phá ra Hiện nay, hầu hết các nhà sản xuất hàng may mặc thực hiện hoạt động CMT (cut, make and trim) Họ nhập khẩu vải và phụ kiện (khóa kéo, cúc, chỉ) và tận dụng các dịch vụ địa phương như vận chuyển và dịch vụ thanh toán bù trừ hàng hóa, xây dựng và các loại hình tiện ích để vận hành và xây dựng nhà máy
Việc thúc đẩy ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên thiên nhiên sẽ tập trung vào việc xác định và khai thác cơ hội trong chế biến tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản phi kim loại,