Bài viết này tập trung giới thiệu tổng quan về TPP, phân tích thực trạng xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên TPP trong thời gian qua, làm rõ những cơ hội và thác
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ
POHE
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ ÁN HỌC PHẦN KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài: Nghiên cứu tác động của TPP đối với ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang các nước thành viên TPP đến năm
2025
Họ và tên sinh viên : LÊ QUANG HUY
Mã sinh viên : 11192375
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
Lớp : Kinh tế quốc tế CLC 61A
Giảng viên hướng dẫn : Thạc sĩ Nguyễn Xuân Hưng
SĐTSV : 0914996686
EmailSV : huymap6501@gmail.com
HÀ NỘI, 6/2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài tập này hoàn toàn do tôi thực hiện Các phần trích dẫn và tài liệu sử dụng trong bài tập hoàn toàn trung thực, được trích nguồn và đảm bảo độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin chịu trách nhiệm về bài tập của mình
Hà Nội ngày 06 tháng 06 năm 2022 Sinh viên thực hiện
Lê Quang Huy
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em xin được cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung và các giảng viên thuộc Viện Thương Mại và Kinh tế quốc tế nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Xuân Hưng, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quà trình thực hiện bài tập Trong khoảng thời gian được làm việc với thầy, em đã không ngừng học tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình mà còn được học tập được tinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình học tập và công tác sau này
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Lê Quang Huy
Trang 3MỤC LỤC
1 Giới thiệu……… 4 2.Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháo nghiên cứu………
4
luận……….5
3.1 Nội dung cơ bản của Hiệp định TPP liên quan đến ngành nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
………5 3.2 Tổng quan về ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam……….7
3.3 Phân tích tác động của TPP đối với ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam…… 9
3.4 Một số kết luận và khuyến nghị……… 12
khảo……… 15
Trang 4Tính Trừu Tượng
TPP được thế giới kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, chất lượng cao,
là khuôn mẫu cho các Hiệp định của thế kỷ 21 Hiệp định này sẽ có hiệu lực nhất định đối với hoạt động xuất nhập khẩu nông sản nói chung và thủy sản nói riêng của Việt Nam Bài viết này tập trung giới thiệu tổng quan về TPP, phân tích thực trạng xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên TPP trong thời gian qua, làm rõ những cơ hội và thách thức đối với ngành thủy sản khi Việt Nam tham gia TPP, đồng thời đồng thời đưa ra một số
đề xuất, kiến nghị nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên TPP trong thời gian tới
Từ khóa: TPP, nuôi trồng thủy sản, xuất khẩu, thuế quan, hàng rào kỹ thuật.
Nội Dung
1 Giới thiệu
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được kỳ vọng sẽ có những tác động to lớn đến các nền kinh tế thành viên Bài báo này phân tích những tác động của TPP đối với ngành nuôi trồng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam TPP sẽ có những tác động tích cực đến ngành xuất khẩu của Việt Nam thông qua các
cơ hội tiếp cận thị trường, đầu tư nước ngoài, khoa học công nghệ tiên tiến và tiếp cận các tổ chức trọng tài quốc tế nền kinh tế trung lập Bên cạnh đó, TPP cũng sẽ có thể tạo ra những thách thức do thị trường nội địa cạnh tranh mạnh hơn, yêu cầu cao hơn về đáp ứng tiêu chuẩn
kỹ thuật, đối với thủy sản xuất khẩu và tiêu chuẩn lao động, môi trường trong nuôi trồng thủy sản
2 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu :
2.1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan
Liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề năng lực cạnh tranh của thủy sản xuất khẩu đã được nghiên cứu trong và ngoài nước với các cách tiếp cận và mức độ khác nhau, thông qua các công trình nghiên cứu , các ấn phẩm được xuất bản Có thể kể đến nội dung một số công trình nghiên cứu lớn của các tác giả trong và ngoài nước trong thời gian qua như sau:
Nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2030” Đây là luận án tiến sĩ của Trần Thế Hoàng và sẽ hoàn thành vào năm
2021 Luận án đã hệ thống hóa sự phát triển của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Xây
Trang 5dựng lý thuyết cạnh tranh của doanh nghiệp, đo lường các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh, phân tích thực trạng điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2030
Nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chế biến thủy sản Việt Nam”, Đây là luận
án Tiến sĩ kinh tế do Bùi Đức Tuấn thực hiện, hoàn thành năm 2019 Luận án phân tích, đánh giá hiện trạng năng lượng năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam, phân tích các yếu tố tiềm năng, lợi thế của Việt Nam trong quá trình phát triển ngành chế biến thủy sản, từ đó phát hiện ra những vấn đề đặt ra đối với ngành chế biến thủy sản Sản phẩm của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới Luận án đã đánh giá thực trạng cạnh tranh của ngành, những rào cản ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam, bên cạnh những lợi thế cạnh tranh nhất định so với các nước các quốc gia khác trên thế giới
Nghiên cứu của đồng tác giả Arie Pieter van Duijn, Rik Beukers và Willem van der Pijl,
“Phân tích chuỗi giá trị ngành thủy sản Việt Nam”, xuất bản năm 2020 Công trình tập trung phân tích các nội dung: đặc điểm và xu hướng xu hướng của ngành thủy sản Việt Nam; Nhu cầu của EU đối với thủy sản Việt Nam; điểm nghẽn đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Công trình sử dụng công cụ chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích bốn phân ngành của ngành thủy sản Việt Nam Thủy sản Việt Nam: tôm, cá tra, cá ngừ và các ngành phụ, hàu, vẹm Báo cáo “Ngành Thủy sản Việt Nam: Phân tích Kinh tế Chiến lược” của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam trong Giai đoạn II của Chương trình Hỗ trợ Ngành Thủy sản, Đầu năm 2020 Nghiên cứu này đã được trình bày trước các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ Việt Nam, nhằm tạo cơ sở để đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong việc lựa chọn và đưa
ra phương án thiết kế can thiệp của Chính phủ vào ngành thủy sản Việt Nam Nghiên cứu tập trung vào các vấn đề chính sau: Đánh giá chung về ngành thủy sản Việt Nam; Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam;…
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này nhưng chưa có công trình nào thực sự tập trung vào các giải pháp cần phải thực hiện ngay để có thể cải thiện tình trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Vì vậy, bài viết này sẽ phân tích thực trạng xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào các nước thành viên TPP, làm rõ những cơ hội và thách thức đối với ngành thủy sản khi Việt Nam tham gia TPP, đồng thời đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm tận dụng cơ hội , vượt qua thách thức, góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên TPP trong thời gian tới
2.2 Khung lý thuyết hoặc khung phân tích được sử dụng trong bài báo
(không có)
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tài liệu, quan sát
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận:
Trang 63.1 Nội dung cơ bản của Hiệp định TPP liên quan đến ngành nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
TPP, viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 12 thành viên của TPP bao gồm: Australia, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản Ngoài ra các nước Colombia, Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâm đến TPP Mục tiêu chính của TPP là xóa
bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên
Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động… Thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia này, thông qua các biện pháp giảm (thậm chí là loại bỏ hoàn toàn trong một số trường hợp) các hàng rào thuế quan giữa các nước, giúp tăng cường trao đổi hàng hóa và dịch
vụ Cùng với tăng cường dòng chảy vốn, TPP cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhóm 12 thành viên
Dưới đây là một số hiệp định cơ bản liên quan đến ngành nuôi trồng thủy sản xuất khẩu
* Hiệp định tạo thuận lợi thương mại trong lĩnh vực thủy sản
Giảm thuế quan: Các nước thành viên sẽ giảm 90% thuế xuất nhập khẩu hàng hóa và cắt
giảm 0% theo lộ trình Thủy sản xuất khẩu của Việt Nam được áp dụng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 - 5 năm Cụ thể, Mỹ, Singapore và Chile cam kết xóa bỏ thuế xuất nhập khẩu đối với cá tra và tôm Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực; Canada, Nhật Bản, Australia cam kết xóa bỏ sau 3-5 năm Đối với Mexico, cá tra, basa sẽ bị loại vào năm thứ 3, tôm đông lạnh sẽ bị loại vào năm thứ 13, tôm chế biến sẽ bị loại vào năm thứ 12 Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình xóa bỏ biểu thuế năm thứ 8 đối với hàng thủy sản nhập khẩu (NK)
Đơn giản hóa kiểm soát biên giới: Các quy định liên quan đến các biện pháp kiểm dịch
động thực vật (SPS) chỉ áp dụng trong phạm vi cần thiết và không phân biệt đối xử TPP chấp nhận sự tương đương, công nhận các khu vực an toàn dịch bệnh, minh bạch, cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiểm tra, tham vấn kỹ thuật và tăng cường giữa các bên
Quy tắc xuất xứ hàng hóa: Các nước thành viên TPP đồng ý về một bộ quy tắc xuất xứ
chung để xác định một mặt hàng cụ thể là “có xuất xứ” và do đó được hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP Hiệp định TPP cũng quy định về "tổng hợp" để nguyên liệu đầu vào từ một bên TPP được đối xử như nguyên liệu từ bên khác nếu được sử dụng để sản xuất một sản phẩm tại bất kỳ nước nào trong TPP Tuy nhiên, đối với các sản phẩm thủy sản (trừ cá ngừ), các quy định cho phép sử dụng con giống và nguyên liệu đầu vào nhập khẩu ngoài TPP
Trang 7Thủ tục hải quan: TPP tạo thuận lợi cho thương mại thông qua việc đơn giản hóa và hài hòa
hóa các thủ tục hải quan, áp dụng cơ chế chung về chứng nhận xuất xứ, tự chứng nhận xuất
xứ, minh bạch hóa các tổ chức tài chính và sức khỏe và an toàn động thực vật (SPS)…
Trợ cấp xuất khẩu: Đối với mặt hàng nông thủy sản, ngoài việc cắt giảm thuế theo lộ trình,
các nước thành viên còn nới lỏng các chính sách hạn chế khác, bao gồm: dỡ bỏ trợ cấp xuất khẩu, quy định về tín dụng xuất khẩu, không cho phép sử dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt…
* Cam kết tạo thuận lợi trong lĩnh vực đầu tư và tài chính
Hiệp định TPP đưa ra các cam kết cho phép các nhà đầu tư không bị hạn chế trong việc chuyển vốn và tài sản vào và ra khỏi một quốc gia; trừ các trường hợp ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô hoặc liên quan đến tội phạm, trốn thuế TPP cũng đưa ra các nguyên tắc yêu cầu bảo hộ đầu tư công bằng và không phân biệt đối xử và các chính sách nhằm tôn trọng pháp quyền, đồng thời đảm bảo khả năng của các chính phủ thành viên đạt được các mục tiêu chính sách công hợp pháp TPP quy định bảo hộ đầu tư cơ bản giống như các hiệp định thương mại khác
Hiệp định cũng quy định trọng tài quốc tế trung lập và minh bạch đối với các tranh chấp đầu
tư Cơ chế tự vệ theo thủ tục bao gồm: quy trình trọng tài minh bạch, đệ trình của các bên quan tâm, đệ trình của bên thứ ba; một cuộc xem xét được thực hiện đối với các khiếu nại không đáng kể và xác định phí luật sư; cơ chế xem xét và quyết định tạm thời; diễn giải ràng buộc của các bên TPP; …
Nội dung cam kết về dịch vụ tài chính bao gồm mở rộng cam kết về mở cửa thị trường cùng với cơ chế minh bạch, cho phép các trường hợp ngoại lệ TPP mang lại cơ hội mở cửa đầu tư
và thị trường xuyên biên giới trong khi đảm bảo rằng các thành viên TPP duy trì thẩm quyền quản lý đầy đủ đối với các tổ chức tài chính và thị trường, thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp xảy ra khủng hoảng Theo đó, nó cho phép bán xuyên biên giới các dịch vụ tài chính cụ thể cho một thành viên TPP từ một nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên TPP khác mà không yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ thiết lập cơ sở hoạt động ở một quốc gia khác
để bán dịch vụ của mình
Hiệp định TPP cũng bao gồm các cam kết cụ thể về quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ thanh toán thẻ điện tử và chuyển giao thông tin để xử lý dữ liệu; Các quy định cụ thể về tranh chấp đầu tư liên quan đến các tiêu chuẩn xử lý tối thiểu dựa trên luật thương mại quốc tế thông lệ, cũng như các quy định liên quan đến các chuyên gia dịch vụ tài chính trong trọng tài và cơ chế trình tự đặc biệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thận trọng và các ngoại lệ khác
* Các cam kết khác
Cam kết hài hòa thể chế và chính sách giữa các nước thành viên TPP dự kiến sẽ bao gồm các cam kết về các vấn đề xuyên suốt như hài hòa các quy định pháp luật, năng lực cạnh tranh, các vấn đề hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển…
3.2 Tổng quan về ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Trang 8Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, ước tính đến hết tháng 6, tổng sản lượng thủy sản đạt 4,1 triệu tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2020 Trong đó, sản lượng khai thác đạt gần 2 triệu tấn, tăng 1%; sản lượng nuôi trồng đạt 2,1 triệu tấn, tăng 4%; Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ và đạt 47,1% kế hoạch nhờ nhu cầu tiêu dùng phục hồi tại các thị trường lớn như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU) và các thị trường tiềm năng khác
Về con tôm, 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng tôm ước đạt 371 nghìn tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2020 Trong đó, sản lượng tôm sú đạt gần 113 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng đạt sản lượng gần 113 nghìn tấn Tôm thẻ chân trắng đạt gần 258 nghìn tấn Về cá tra, ước đến hết tháng 6 năm 2021, sản lượng thu hoạch đạt 704,1 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ; Kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 637,9 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ
So với mục tiêu, tổng sản lượng đạt 104,3%, trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 102,3%, sản lượng khai thác đạt 106,8%; so với chỉ tiêu kế hoạch cả năm, tổng sản lượng thủy sản đạt 47,6%; trong đó, sản lượng khai thác đạt 51,9%, sản lượng nuôi trồng đạt 44,2% Những kết quả này là khả quan bất chấp nhiều khó khăn của đại dịch Covid-19
Nguồn : Statista
Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh
Nhờ sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn của thủy sản Việt Nam như Mỹ,
EU và các thị trường tiềm năng khác, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong tháng 6 năm 2021 tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái Nhờ đó, giá trị xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 4,1 tỷ USD
Trang 9Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cá tra đang được tiêu thụ tốt tại thị trường Mỹ, châu Âu và Trung Quốc Tính đến cuối tháng 6 năm 2021, giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản khác của Việt Nam đạt 1,6 tỷ USD, tăng 16% so với cùng
kỳ năm 2020 Nguồn thủy sản chiếm gần 40% tỷ trọng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm nay; trong đó, giá trị XK cá ngừ đạt 364 triệu USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2020 Giá trị
XK mực, bạch tuộc đạt 277 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước Cá các loại đạt
847 triệu USD, tăng 13%
Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký VASEP cho biết, mực, bạch tuộc và cá ngừ đều tăng trưởng ở hầu hết các thị trường lớn Trong những tháng gần đây, giá trị NK cá ngừ của Việt Nam vào thị trường Mỹ đã tăng gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái nên nửa đầu năm giá trị XK cá ngừ sang Mỹ đã tăng 23% Mỹ đang tiêu thụ 43% lượng cá ngừ của Việt Nam Khi thị trường Mỹ mở cửa trở lại, tất cả các phân khúc sản phẩm cá ngừ đều có cơ hội tăng thị phần Các thị trường trọng điểm khác đều có những tín hiệu tăng trưởng rất lạc quan Điển hình như Italia tăng 122% trong 6 tháng đầu năm, Israel tăng 37%, Canada tăng 62%
Thị trường Trung Quốc là thị trường tiêu thụ mực và bạch tuộc lớn thứ năm của Việt Nam, chiếm 6% tổng kim ngạch xuất khẩu mực và bạch tuộc Trong 3 năm gần đây, giá trị xuất khẩu mực, bạch tuộc của Việt Nam sang Trung Quốc có xu hướng tăng trưởng liên tục Giá trị XK mực, bạch tuộc năm 2020 sẽ tăng gần 61% so với năm 2019 Bước sang năm 2021, xu hướng tăng trưởng này sẽ tiếp tục Giá trị nhập khẩu mực khô và mực nướng từ Việt Nam vào Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng ấn tượng hơn 300% so với năm 2020 Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu mực tươi và mực đông lạnh của Việt Nam sang thị trường này cũng tăng trở lại
Về thị trường Hàn Quốc, thị trường tiêu thụ mực, bạch tuộc lớn nhất của Việt Nam, chiếm 41% tổng lượng mực, bạch tuộc xuất khẩu, đang có xu hướng gia tăng, với tốc độ tăng trưởng 7-8% Thị trường Nhật Bản, chiếm 20% giá trị xuất khẩu mực và bạch tuộc của Việt Nam, cũng đang cho thấy một xu hướng tốt Đồng thời, giá trị XK mực và bạch tuộc sang Italia đã tăng mạnh 170% trong những tháng gần đây và tăng gần 70% trong nửa đầu năm Đó là những tin tốt cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 9 tỷ đô la vào năm 2021
3.3 Phân tích tác động của TPP đối với ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Tác động tích cực của TPP
* Thị trường tiêu thụ mở rộng
Hiện các nước thành viên tham gia TPP đều là đối tác chiến lược của thủy sản Việt Nam Tổng giá trị xuất khẩu thủy sản sang 11 thị trường này đạt trên 3 tỷ USD, chiếm gần 50% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Về lý thuyết, TPP sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường Các rào cản thương mại được dỡ bỏ hình thành thị trường tiêu thụ thủy sản lớn hơn trong khu vực Ngoài ra, sản phẩm thủy sản của Việt Nam sẽ cạnh tranh hơn trên thị trường TPP so với các nước ngoài khối do các nước này không được hưởng ưu đãi về thuế quan Chẳng hạn, TPP sẽ khiến xuất khẩu tôm Việt Nam vào thị trường Nhật Bản cạnh tranh hơn so với Agentina, Ecuador và Ấn Độ khi ba nước này chưa có hiệp định thương mại tự do (FTA) với Nhật Bản
Trang 10Tuy nhiên, trên thực tế, thuế suất của nhiều nước thành viên TPP đối với hàng thủy sản Việt Nam trước TPP khá thấp Ví dụ, đối với Peru, Canada, thuế MFN hiện xấp xỉ 0%, hay Malaysia, Singapore, Australia đã xóa bỏ thuế quan theo các FTA trong ASEAN và ASEAN + Điều này cho thấy các mặt hàng thủy sản của Việt Nam cũng không được hưởng lợi nhiều từ việc cắt giảm / xóa bỏ thuế quan Đối với thị trường Nhật Bản, thuế suất đối với thủy sản Việt Nam nhập khẩu vào nước này trung bình chiếm khoảng 3,5% đối với thủy sản sống và 7,3% đối với thủy sản chế biến nên TPP sẽ là một cơ hội để thủy sản Việt Nam có thêm lợi thế cạnh tranh về giá khi xuất khẩu sang Nhật Bản
* Tiếp cận các nguồn đầu vào đa dạng hơn trong nuôi trồng thủy sản
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản xuất khẩu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, TPP sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ các nước trong TPP Với việc giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ tạo cơ hội nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ chế biến thủy sản tiên tiến từ thị trường TPP để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thủy sản Việc nhập khẩu các loại vật tư đầu vào từ con giống, thức ăn, thuốc phòng, trị bệnh cho nuôi trồng thủy sản đến công nghệ chế biến, bảo quản sẽ được hưởng lợi từ việc tiếp cận với giá nhập khẩu rẻ hơn, giúp giảm chi phí sản xuất, ổn định nguồn đầu vào, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu
* Giảm các thủ tục và chi phí trong hoạt động xuất khẩu
Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) được quy định trong TPP giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp Theo đó, hàng hóa từ vùng miễn nhiễm hoặc bán miễn nhiễm đã được công nhận sẽ không cần thêm bất kỳ chứng nhận nào về tiêu chuẩn chất lượng, đặc biệt vì TPP cho phép tự chứng nhận và chứng nhận điện tử Tuy nhiên, quy định này cũng sẽ đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp thủy sản trong việc xây dựng và điều chỉnh mọi hành vi nhằm nâng cao trách nhiệm và duy trì niềm tin giữa các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
Hiệp định TPP quy định cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Cơ chế này cho phép doanh nghiệp tự khai báo xuất xứ hàng hóa, thay vì cách thức quản lý như hiện nay buộc doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan hải quan Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp Quy định mới này cho phép doanh nghiệp xuất khẩu giảm thời gian và thủ tục thực hiện trong quá trình chứng minh nguồn gốc xuất xứ thủy sản, từ đó giảm chi phí cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu đầu vào như thức ăn chăn nuôi, con giống… sẽ không phải làm thủ tục hoàn thuế, đây cũng có thể coi là một khoản lợi không hề nhỏ Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu còn có thể tăng khả năng cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất chi phí thấp như vận chuyển, lưu kho tại các nước thành viên TPP… Ngoài ra, TPP cũng tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực Sản xuất nguyên liệu trong nước phát triển nhờ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu, vật tư, thiết bị, máy móc với giá rẻ hơn từ các nước