PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TAM ĐƯỜNGTRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HỒ SƠ SÁNG KIẾNMột số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năng tìm từ, đặt câu trong môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 2A8
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TAM ĐƯỜNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN
HỒ SƠ SÁNG KIẾNMột số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năng tìm từ, đặt câu trong môn Luyện
từ và câu của học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Tác giả: Nguyễn Duy Đức Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Thị trấn, ngày 15 tháng 6 năm 2020
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thị trấn, ngày 15 tháng 6 năm 2020
ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
Kính gửi: Hội đồng công nhận sáng kiến cấp huyệnTôi là: Nguyễn Duy Đức
Số
TT Họ và tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác (hoặc nơi thường trú)
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
Ghi chú
1 Nguyễn Duy
Đức
01/06/1983 Trường Tiểu
học Thị trấnTam Đường
Giáoviên
Đại học
100%
Tôi đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năngtìm từ, đặt câu trong môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường”
- Cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến: Trường PTDTBT Tiểu học Sơn Bình
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 06/09/2019
- Mô tả bản chất của sáng kiến: Các kinh nghiệm rèn kĩ năng tìm từ, đặtcâu giúp học tốt phân môn Luyện từ và câu Để có kĩ năng biết tìm từ theo yêucầu, và dùng từ vừa tìm để đặt câu và đặt được câu theo kiểu mẫu câu Ai là gì? Ailàm gì? Ai thế nào? Để làm gì? theo đúng quy trình, trình tự của tiết luyện từ vàcâu Từ đó giúp học sinh tự tin mạnh dạn khi tìm từ và đặt được câu theo các mẫucâu nêu trên
- Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Sáng kiến được thực hiện với 13 học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường đã mang lại kết quả khả quan Ngoài ra có thể áp dụng với tất cả các học sinh lớp 2 trong trường
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Đồ dùng tự làm thẻ từ, bảngcài bằng nguyên liệu với kính phí không nhiều, không mất nhiều thời gian, côngsức nhưng sử dụng được nhiều lần, nhiều năm học
- Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
Trang 3- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sángkiến theo ý kiến của tác giả: Sau một thời gian áp dụng sáng kiến tôi thấy rằng:
Tiết học Luyện từ và câu diễn ra nhẹ nhàng hơn Học sinh có kĩ năng tìm từ vàđặt được câu theo yêu cầu bài
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Trang 41 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Duy ĐứcTrình độ văn hóa: 9/12Trình độ chuyên môn: Đại họcChức vụ, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên chủ nhiệm lớp 2A8
2 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năng tìm từ, đặt
câu trong môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường”
3 Tính mới:
+ Giúp giáo viên chủ động, tích cực nghiên cứu để điều chỉnh, đổi mớiphương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học để phù hợp với đối tượng HScủa mình, phù hợp với sự phát triển tư duy và tâm lí lứa tuổi HS Xây dựng kếhoạch dạy học phù hợp với đặc điểm tình hình của lớp
+ HS học tập nhẹ nhàng, tự nhiên, tiết học giảm bới căng thẳng, khôngquá sức với HS
+ HS chủ động, tích cực học tập, phát triển về vốn từ ngữ, nâng cao trình
độ năng lực về từ ngữ nói riêng về tiếng Việt nói chung tạo cho HS học tập ngônngữ một cách thú vị và rất hứng thú, say mê học tập HS mạnh dạn, tự tin và tíchcực tham gia vào hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo của HS
+ Đánh giá sự tiến bộ của HS không tạo áp lực cho HS
+ Đảm bảo nâng cao chất lượng học tập, mục tiêu giáo dục Tiểu học Hiệuquả của dạy phân môn Luyện từ và câu được nâng lên rõ rệt
4 Hiệu quả sáng kiến mang lại
Sau một thời gian áp dụng các giải pháp trên vào thực tiễn của lớp 2A8 –Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường học sinh có kĩ năng tìm từ và đặt câu hoàn chỉnh, có nghĩa, vốn từ sinh động
Hầu hết học sinh đã có nhiều tiến bộ rõ rệt trong học tập, đã có ý thức họctập và rèn luyện, kết quả đạt được như sau:
Chất lượng giáo dục đến ngày 15 tháng 6 là: 13/13 HS đạt 100%
Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến (tính đến ngày 15 tháng 6 năm 2020)
5 Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Sáng kiến được thực hiện với 13 học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấnTam Đường đã có hiệu quả thực tế cao và có thể áp dụng rộng rãi trong trường và
Trang 5các trường bạn.
I THÔNG TIN CHUNG
Trang 61 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năng tìm từ, đặt câu trong môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường.”
2 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Duy ĐưcNgày sinh: 01/06/1983Nơi thường trú: Bản Máy Đường - Thị Trấn Tam Đường – huyện TamĐường - tỉnh Lai Châu
Trình độ chuyên môn: Đại HọcChức vụ công tác: Giáo viênNơi làm việc: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Điện thoại: 0979127686
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 06 tháng 9 năm 2019 đến ngày
15 tháng 06 năm 2020
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường.
Địa chỉ: Thị Trấn Tam Đường – huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
1.1 Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến:
Luyện từ và câu là phân môn có vị trí quan trọng trong chương trìnhTiếng Việt tiểu học Nó không những là đối tượng học tập mà còn là công cụhọc tập Luyện từ và câu nhằm mục đích xác định phạm vi vốn từ cần cung cấpcho học sinh, đó là những từ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh nhưhoạt động của học sinh ở nhà, tình cảm gia đình, vẻ đẹp thiên nhiên đất nước,con người Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt đểcác em học tập và giao tiếp tốt Cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
Thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục trong trường Tiểu học làmột trong những nội dung rất quan trọng và rất cần thiết Dạy học Tiếng Việtgiúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Phân môn Luyện
từ và câu trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trên Đối với học sinh lớp 2 vàthì đây là một phân môn khó, được hình thành và phát triển trong quá trình dạyhọc tất cả các môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học; Trong đó môn tiếng
Trang 7Việt đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành các kỹ năng cơ bản
để nâng cao hiệu quả giáo dục
Đồng thời cung cấp những mẫu câu cần thiết để học sinh vận dụng tronggiao tiếp và trong học tập Từ đó làm giàu nhận thức, mở mang tâm hồn, giúpcác em hình thành nhân cách, biết cách phát hiện từ mới trong bài khóa, biết vậndụng và giải nghĩa từ, biết liên tưởng và huy động vốn từ trong hoạt động nóicủa mình Đặc biệt Luyện từ và câu lớp 2 nhằm mở rộng vốn từ cho học sinhtheo các chủ điểm trong sách; Cung cấp kiến thức hiểu biết sơ giản về các từloại và kiểu cấu tạo các từ Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, dùng một số dấu câuphổ biến khi viết giúp học sinh phát triển kĩ năng tư duy và năng khiếu thẩm
mĩ Có thể nói Luyện từ và câu là một trong những yêu cầu của chất lượng giáodục Nhưng trên thực tế, việc dạy học phân môn luyện từ và câu hiện nay cònnhiều điều bất cập Từ lớp 2 độ khó của các chữ, từ, câu cũng đòi hỏi cao hơn,tốc độ sử dụng phải đảm bảo
Qua thực tế giảng dạy lớp 2A8 năm học 2019 – 2020 bản thân tôi gặp rấtnhiều khó khăn trong quá trình rèn kĩ năng hiểu từ ngữ và sử dụng vốn từ, dùng
từ, đặt câu, kĩ năng nói, viết thành câu của HS cụ thể như:
+ Vốn từ ngữ còn ít
+ Chưa hiểu nghĩa của từ
+ Chưa biết dùng từ và đặt câu
+ Chưa có kĩ năng nói, viết thành câu+ Chưa biết cách sử dụng dấu cấu
+ Chưa xác định được các kiểu câu theo mẫu
Tất cả những hạn chế trên đã ảnh hưởng tới chất lượng học tập của các
em Để HS có thêm vốn từ và hiểu nghĩa của từ Đồng thời để tìm ra biện pháp rèn kỹ năng sử dụng từ, đặt câu, xác định kiểu câu theo mẫu, nói, viết câu có hiệu quả GV rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân, giúp cho chuyên môn vững vàng hơn, đồng thời dạy học đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học và vừa sức với đối tượng HS lớp mình dạy Để nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt là đối với HS khó khăn Bản thân tôi mong muốn tìm tòi, nghiên cứu để có những giải pháp thiết thực, phù hợp với HS để nhằm tháo
gỡ, cải thiện và góp phần nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu nên tôi
chọn đề tài sáng kiến: “Một số biện pháp rèn và nâng cao kĩ năng tìm từ, đặt
câu trong môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 2A8 – Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường.” làm đề tài nghiên cứu
1.2 Mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Thực hiện sáng kiến với mục đích:
Trang 8+ Đề xuất một số biện pháp trong giảng dạy giúp HS có kĩ năng học tốtLuyện từ và câu là cơ sở để HS học tốt môn tiếng Việt ở các lớp trên từ đó gópphần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của lớp 2A8 của Trường Tiểu họcThị trấn Tam Đường
2 Phạm vi triển khai thực hiện:
Sáng kiến được thực hiện trên 13 học sinh lớp 2A8 tại điểm trường Thác Tình Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
-3 Mô tả sáng kiến
a Mô tả biện pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
* Thực trạng trước khi áp dụng biện pháp mới
Năm học 2019 – 2020 tôi được phân công dạy lớp 2A8 điểm trường ThácTình Bản thân tôi thấy trong quá trình thực hiện gặp rất nhiều khó khăn, vướngmắc mặc dù tôi đã được bồi dưỡng, dự giờ, học hỏi đồng nghiệp nhưng việc vậndụng phương pháp chưa linh hoạt, chưa sáng tạo với đối tượng HS dân tộc thiểu
số nên chất lượng phân môn chưa cao Trong quá trình giảng tôi đã nhận thấy rõnhững điểm thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng học tậpcủa các em như sau:
*Thuận lợi:
Có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, các đoàn thể trongnhà trường, các cấp lãnh đạo Ban Giám Hiệu nhà trường: Tổ chức thao giảng,
dự giờ, tổ chức những buổi chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những
ý kiến hay, những kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy
GV có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt, có trách nhiệm và sẵn sàng giúp
đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc GV nhiệt tình, nỗ lực, có tinh thần khắc phục khó khăn, luôn quantâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học HS đúng độ tuổi, tỉ lệ chuyên cần cao,
có ý thức học tập Một số phụ huynh đã nhận thức được việc học tập của con emmình GV làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục
*Bên cạnh những thuận lợi thì còn nhiều khó khăn cụ thể như sau:
Lớp 2A8 các em đều là học sinh dân tộc thiểu số (Thái, Dao) HS ở rảirác bên sườn núi, đi lại khó khăn Các em còn nhỏ mà phải đi bộ đến trường
Một số phụ huynh do hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn chưa quan tâm đếnviệc học tập của con em mình, có phụ huynh chưa nhận thức được tầm quantrọng và cần thiết việc học tập đối với học sinh
HS lớp 2 ở lứa tuổi này các em còn rất hồn nhiên, sự chú ý chưa cao, giaotiếp còn hạn chế, nhiều em còn rụt rè, nhút nhát Khả năng tư duy, tri giác củacác em rất hạn chế còn mang nặng tính trực quan cụ thể, các em thường hiếuđộng, thiếu kiên trì Trình độ nhận thức không đồng đều Bên cạnh những em
Trang 9phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em phát triển chậm về trí nhớ,hay quên, chậm tiến bộ.
Tiếng phổ thông phát âm còn chưa chuẩn xác, vốn từ ngữ còn ít và chưahiểu được nghĩa của từ, chưa biết sử dụng từ ngữ, đặt biệt là khó xác định kiểucâu theo mẫu, cách sử dụng dấu câu cho phù hợp với câu, đoạn văn cho trước…
Chính vì những khó khăn đặc biệt nêu trên là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạnchế về kết quả học tập môn tiếng Việt của HS lớp 2A8 Đây là những khó khăn
* Những ưu điểm của biện pháp cũ:
GV thực hiện đúng quy trình dạy học, đã quan tâm tới chất lượng giáodục, nỗ lực, nhiệt tình trong công tác giảng dạy HS tham gia học tập, tham giavào các hoạt động của trường, lớp đầy đủ; các em nắm bắt được kiến thức cơbản theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
* Những hạn chế của biện pháp cũ:
GV chưa thực sự chủ động, linh hoạt trong quá trình dạy học, hình thứcdạy học chưa đa dạng phong phú, phương pháp dạy học chưa phù hợp với đốitượng HS lớp mình
HS chưa chủ động chiếm lĩnh kiến thức, học tập chưa tích cực, các emchưa có hứng thú học tập; Còn rụt rè, không mạnh dạn, tự tin trong học tập,trong giao tiếp Chất lượng giáo dục chưa cao, phân môn Luyện từ và câu hiệuquả chưa cao Chính vì vậy yêu cầu người GV phải nghiên cứu, tìm tòi ra cácbiện pháp mới để áp dụng phù hợp với đối tượng HS khó khăn tại lớp mình làrất cần thiết
* Nguyên nhânTrong thực tế giảng dạy bản thân tôi nhận thấy: Các hình thức hoạt độnghọc tập trong giờ học luyện từ và câu còn đơn điệu, việc sử dụng các hình thứcnhằm khắc phục hạn chế và phát huy khả năng của học sinh chưa thực sự đượcchú trọng đặc biệt hình thức trò chơi Do một số giáo chưa thấy hết được tầmquan trọng của trò chơi trong giờ luyện từ và câu
Bên cạnh đó giáo viên chưa được tập huấn về thiết kế trò chơi, mặt kháctrình độ của giáo viên không đồng đều
Về phía học sinh thuộc địa bàn miền núi, kinh tế còn khó khăn, nhận thứccòn hạn chế Việc đến trường học tập còn phó mặc cho nhà trường, số học sinh
Trang 10tự giác, tích cực còn ít dẫn đến chất lượng học tập chưa cao.
Trò chơi học tập tạo hứng thú cho các em, giúp các em yêu thích, say mêhọc tập nhưng nếu không được sử dụng thường xuyên thì sẽ gây cho học sinh sự
+ HS học tập nhẹ nhàng, tự nhiên, tiết học giảm bới căng thẳng, khôngquá sức với HS
+ HS chủ động, tích cực học tập, phát triển về vốn từ ngữ, nâng cao trình
độ năng lực về từ ngữ nói riêng về tiếng Việt nói chung tạo cho HS học tập ngônngữ một cách thú vị và rất hứng thú, say mê học tập HS mạnh dạn, tự tin và tíchcực tham gia vào hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo của HS
+ Đánh giá sự tiến bộ của HS không tạo áp lực cho HS
+ Đảm bảo nâng cao chất lượng học tập, mục tiêu giáo dục Tiểu học Hiệuquả của dạy phân môn Luyện từ và câu được nâng lên rõ rệt
* Sự khác biệt của biện pháp mới so với giải pháp cũ:
* Biện pháp 1: Phân loại đối tượng
học sinh Dạy học linh hoạt để nâng
cao chất lượng phân môn Luyện từ vàcâu với từng đối tượng học sinh
- Chưa phân loại đúng đối tượng HS
Phương pháp và hình thức dạy họcchưa phù hợp với đối tượng HS Chưaphát huy được tính tự giác, tích cực
còn mang tính đại trà, việc lựa chọnkiến thức chưa phù hợp với từng đốitượng HS
* Biện pháp 2: Phát huy vai trò củamột người giáo viên chủ nhiệm lớp
- Xác định đúng đối tượng HS xâydựng kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡngkiến thức phù hợp
- Dạy học theo đối tượng học sinh
GV điều chỉnh, đổi mới phương pháp,hình thức tổ chức hoạt động dạy học
Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợpvới đối tượng HS Đánh giá sự tiến bộ,phát huy tính tích cực, chủ động của
HS Lựa chọ kiến thức phù hợp vớiđối tượng HS
- Đã phát huy tốt vai trò của một người
Trang 11- GV chưa thực sự phát huy tốt vai trò của một người GV chủ nhiệm Chưa gây được sự hứng thú cho HS tham gia vào các hoạt động học tập và phong trào Chất lượng còn thấp.
* Biện pháp 3: Tăng cường tổ chứccác trò chơi học tập trong giờ dạy họcLuyện từ và câu
- GV có tổ chức trò chơi xong chưa được thường xuyên, hình thức chưa phong phú HS chưa hứng thú tham gia, HS chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo và giờ học còn căng thẳng
*Biện pháp 4: Một số kĩ năng khi dạyLuyện từ và câu Luyện tập thực hànhlàm bài tập
- Phương pháp, kĩ năng khi dạy Luyện
từ và câu chưa phù hợp với đối tượng
HS HS chưa chủ động chiếm lĩnhkiến thức
- HS chưa nắm chắc được kiến thứcnên chất lượng phân môn Luyện từ vàcâu chưa cao
*Biện pháp 5: Xây dựng góc thư viện
Tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học tựlàm
- Có xây dựng góc thư viện nhưngviệc sử dụng còn chưa hiệu quả Tự
GV chủ nhiệm lớp Giúp cho HS, phụhuynh tin tưởng, gần gũi với GV HS
có hứng thú học tập và tham gia cáchoạt động, chất lượng được nâng lên
- GV đã tăng cường tổ chức các trò chơi học tập trong giờ dạy học: tạo hứng thú học tập, giảm bớt mệt mỏi, giúp phát huy tính sáng tạo của HS
đặc biệt là tạo sự đoàn kết, thân thiện giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, trong học tập
- GV thay đổi phương pháp dạy họccho phù hợp với đối tượng HS GV chỉ
là người hướng dẫn, tổ chức để HS tựđọc tự chủ động chiếm lĩnh kiến thức
GV tự rút kinh nghiệm dạy học từngbài để tìm ra phương pháp dạy học tốtnhất ở các bài sau hoặc ở năm học sau,đồng thời là tư liệu cho việc rút kinhnghiệm dạy học theo chuẩn kiến thức
và kĩ năng của môn học
- Luyện tập thực hành làm bài tập nhằm mục đích củng cố, ôn lại kiến thức cho HS giúp HS nắm chắc chắn nội dung đã học
- Xây dựng góc thư viện phong phú vềtài liệu, có thẩm mĩ thu hút học sinh đọc và tìm thông tin Tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm nhằm thu hút và tạo sự hứng thú cho HS
Trang 12làm và sử dụng đồ dùng dạy học tựlàm nhưng chưa có tính thẩm mĩ, sửdụng ít nên chưa thu hút và tạo sựhứng thú cho HS tham gia, sự pháttriển tư duy và ghi nhớ các từ ngữ cònhạn chế.
tham gia, giúp HS phát triển tư duy và ghi nhớ các từ ngữ Góp phần nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu
Chính vì lớp 2 phân môn Luyện từ và câu có ví trí quan trọng trong giai
đoạn đầu của Giáo dục Tiểu học Nhất là đối với lớp ở vùng khó khăn có nhữngrào cản về ngôn ngữ Vậy để tháo gỡ, cải thiện và nâng cao chất lượng dạy họcnên bản thân tôi phải nghiên cứu, tìm tòi một số giải pháp chủ yếu cụ thể nhưsau:
* Biện pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh Dạy học linh hoạt để
nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu với từng đối tượng học sinh.
* Mục tiêu:
Xác định đúng đối tượng HS xây dựng kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng kiếnthức phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng học tập
*Cách thực hiên:
+ Phân loại đối tượng học sinh:
Qua việc theo dõi hai tuần học của năm học mới và khảo sát chất lượngđầu học chúng tôi đã phân loại HS theo 3 mức độ (theo khả năng nhận thức củaHS) Mức 1: (HS khó khăn) HS nhận thức còn chậm, hay quên, chưa đạt chuẩnkiến thức kĩ năng Mức 2: (HS ở mức độ trung bình) các em có khả năng đạtđược theo chuẩn kiến thức kĩ năng nhưng có sự kèm cặp và hướng dẫn của GV
Mức 3: (HS có khả năng nhận thức nhanh và tốt hơn) các em đã đạt được chuẩnkiến thức kĩ năng và có thể làm thêm được một số bài tập thực hành nâng cao
+ Dạy học theo đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng phân môn
Luyện từ và câu.
Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đặc điểm tình hình của lớp Dạyđến đâu HS phải nắm chắc đến đó, nếu HS chưa đạt yêu cầu phải dạy lại thậtchắc mới chuyển sang dạy bài khác
GV phải xây dựng được kế hoạch dạy học buổi hai có sự phê duyệt
của tổ trưởng và Ban Giám hiệu Ví dụ kế hoạch tuần 12: Từ ngữ về tình cảm Dấu phẩy.
- HS biết ghép tiếngtheo mẫu để tạo các từ
- HS biết ghép tiếngtheo mẫu để tạo các từ
- HS biết ghép tiếng theomẫu để tạo các từ chỉ tình