- Những thông tin cần được bảo mật nếu có: Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất của lớp học, đồ dùngdạy học của giáo viên và học sinh như: SGK, bảng phụ,
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp cơ sở
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
(ghi rõ đối vớitừng đồng tác giả,nếu có)
1 Đào Thị Hằng 15/01/1981 Trường Tiểu
học Thị trấnTam Đường
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào sớmhơn) 20/8/2019
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Các em chủ động học tập hơn, biết làm rõ chủ đề qua kỹ năng quan sát,
kỹ năng trả lời. Hứng thú tham gia trình bày, trả lời câu hỏi.
Học sinh dễ dàng nắm rõ bố cục của đoạn văn, sắp xếp được các ý, có nhiềuvốn từ thông qua việc thảo luận, chia sẻ cùng bạn và giáo viên. Giúp học sinh nhận
ra ưu điểm để phát huy, đồng thời thấy được hạn chế để kịp thời chỉnh sửa.
Giúp học sinh học tập chủ động và tích cực trong giờ học Tiếng Việt. Họcsinh tự phát hiện, phân tích và sửa lỗi, giúp bạn cùng tiến bộ, đồng thời rèn chocác em kĩ năng tự học, tự sáng tạo.
Trang 2- Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất của lớp học, đồ dùngdạy học của giáo viên và học sinh như: SGK, bảng phụ, phiếu bài tập, tranh ảnh, vật thật…
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiếntheo ý kiến của tác giả: Chúng tôi nhận thấy kết quả học tập phân môn Tập làm văncủa học sinh có nhiều tiến bộ, các em thích thú, háo hức, chờ đợi đến phân môn Tậplàm văn để thể hiện mình trước bạn bè và thầy cô giáo. Các em rất tự tin mỗi khikhám phá, viết đoạn văn kể về người thân theo cách của riêng mình. Với nhiều đam
mê đó, bài viết của các em đạt yêu cầu rất cao, góp phần làm nền tảng vững chắc khicác em lên các lớp cao hơn. Là người giáo viên chúng tôi luôn đặt vấn đề “Tâm – Trí– Đức” lên hàng đầu. Trải qua những học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu thực tế giảng dạy
Chúng tôi đã có trong tay những giải pháp khi dạy dạng bài này và không còn lúngtúng khi giảng dạy cho học sinh. Cũng thông qua sáng kiến này mà tổ chuyên môntrường chúng tôi đã có những buổi họp chuyên môn hữu ích, họ không chỉ sôi nổithảo luận khi dạy về phân môn Tập làm văn lớp 2 nói riêng này mà họ còn mạnh dạn
đề ra các biện pháp phù hợp với các phân môn khác
Tôi (chúng tôi) xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực,đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Người nộp đơn
Đào Thị Hằng
Vùi Thị Nình
Phạm Thị Thùy Linh
Trang 3BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Đồng tác giả
Họ và tên: Đào Thị Hằng; Vùi Thị Nình; Phạm Thị Thùy LinhTrình độ văn hóa: 12/12. Trình độ chuyên môn: Đại học
- Giúp học sinh học tập chủ động và tích cực trong giờ học Tập làm văn
Học sinh tự phát hiện, phân tích và sữa lỗi giúp bạn cùng tiến bộ, đồng thời rèncho các em kĩ năng tự học, tự sáng tạo.
- Hình thành cho các em thói quen tự học bài cũ và chuẩn bị bài mới chu đáo
Sau khi áp dụng các biện pháp mới đã tạo cho học sinh sự tự tin khi họcmôn Tập làm văn, giúp cho học sinh có thể nắm bắt kiến thức một cách lôgic và
có hệ thống, biết kết hợp các môn học khác để bổ trợ kiến thức khi làm văn. Từ
đó giúp cho học sinh phát triển trí tuệ, rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, thamgia giờ học tích cực và đặc biệt là yêu thích, hứng thú trong học Tiếng Việt
Nhất là tăng chất lượng đại trà và giảm tỷ lệ học sinh viết văn chưa đúng trongmôn Tiếng Việt lớp 2 tại lớp 2A1, 2A3, 2A6 trường Tiểu học Thị Trấn
4 Hiệu quả sáng kiến mang lại a) Hiệu quả về kinh tế
Giáo viên thực hiện các giải pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo cho
Trang 4Việc sử dụng tiết kiệm được những đồ dùng dạy học và tiết kiệm đượcthời gian cho mỗi tiết học khoảng 5 đến 10 phút để giúp các em chơi trò chơi,giải lao thư giãn và có tinh thần hứng khởi bước vào tiết học tiếp theo
b) Hiệu quả về mặt kĩ thuật
- Giải pháp 1: Học sinh có kĩ năng quan sát, hoàn thành phiếu bài tập ởnhà để chuẩn bị tâm thế cho tiết học mới
- Giải pháp 2: Học sinh có kĩ năng dùng từ đặt câu, viết được câu văn đúngngữ pháp, viết được đoạn văn theo yêu cầu.
- Giải pháp 3: Giúp học sinh nhận ra ưu điểm phát huy, đồng thời thấyđược hạn chế kịp thời chỉnh sửa
Với các giải pháp “Một số giải pháp rèn kỹ năng viết văn: Kể về ngườithân cho học sinh lớp 2A1, 2A3, 2A6 trường Tiểu học Thị Trấn Tam Đường”,trong năm học 2019 - 2020 chúng tôi đã thu được kết quả đáng kể
- Về chất lượng môn học: Kết quả là học sinh đã không còn lúng túngtrong quá trình viết đoạn văn kể về người thân, phần lớn các lỗi từ ngữ, ngữpháp, câu văn của các em đã được khắc phục, chất lượng bài kiểm tra sau khi đã
Trang 5mà tổ chuyên môn trường chúng tôi đã có những buổi họp chuyên môn hữu ích,
họ không chỉ sôi nổi thảo luận khi dạy về phân môn Tập làm văn lớp 2 nói riêngnày mà họ còn mạnh dạn đề ra các biện pháp phù hợp với các phân môn khác
5 Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Sáng kiến đã được áp dụng có hiệu quả với học sinh lớp lớp 2A1, 2A3,2A6 tại trường Tiểu học Thị Trấn và có thể triển khai, áp dụng cho các lớp 2 củatrường Tiểu học Thị Trấn và các trường Tiểu học trong cùng huyện tham khảo
Trên đây là bản báo cáo tóm tắt sáng kiến, rất mong nhận được sự tư vấngiúp đỡ của hội đồng khoa học các cấp. Tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả/ đồng tác giả
[
……… Đào Thị Hằng ……… Vùi Thị Nình ………… Phạm Thị Thùy Linh
Trang 6I THÔNG TIN CHUNG
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM ĐƯỜNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN
THUYẾT MINH SÁNG KIẾN
Một số giải pháp rèn kỹ năng viết văn: Kể về người thân cho học sinh lớp 2A1, 2A3, 2A6 trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Đồng tác giả:
1. Đào Thị Hằng Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
2 Vùi Thị Nình Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
3 Phạm Thị Thùy Linh Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Tam Đường, ngày 12 tháng 6 năm 2020
Trang 7
I Thông tin
1 Tên sáng kiến: Một số giải pháp rèn kỹ năng viết văn: Kể về người thân cho học sinh lớp 2A1, 2A3, 2A6 trường Tiểu học Thị Trấn Tam Đường.
2 Đồng tác giả:
2.1 Họ và tên: Đào Thị Hằng
Năm sinh: 15/01/1981Nơi thường trú: Mường Cấu - Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai ChâuTrình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ công tác: Giáo viênNơi làm việc: Trường Tiểu học Thị TrấnĐiện thoại: 0376781504
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 35%
2.2 Họ và tên: Vùi Thị Nình
Năm sinh: 11/7/1983Nơi thường trú: Thị trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai ChâuTrình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ công tác: Giáo viênNơi làm việc: Trường Tiểu học Thị TrấnĐiện thoại: 0369269958
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 35%
2.3 Họ và tên: Phạm Thị Thùy Linh
Năm sinh: 29/09/1977Nơi thường trú: Bản Hô Ta - Thị trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu
Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường
Điện thoại: 0382414389
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 30%
Trang 8II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến 1.1 Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến
Môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh, đặc biệt
là học sinh tiểu học bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cầnthiết trong giao tiếp hàng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành
ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh,hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới
Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc,viết. Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ cả 4 kĩ năng trên. Nó
là phân môn tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phân môn: Tậpđọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu. Phân môn Tập làm văn cónhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết. Thế nhưng hiện nay, đa số các
em học sinh lớp 2 đều rất ngại học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì?
Viết gì? Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bêncạnh đó vẫn còn một số học sinh dân tộc thiểu số vốn từ của các em còn hạn chế
Điều này ảnh hưởng đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nóiriêng. Với mục tiêu rèn học sinh ở cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong đó kĩnăng viết văn “một đoạn văn ngắn" là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân mônTập làm văn lớp 2. Ngay cả bản thân một số giáo viên đôi khi cũng không tự tinlắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác.
Trang 9và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh. Điều đó đòihỏi giáo viên dạy cho học sinh cách sử dụng từ chính xác, đặt được câu, cách tổchức, sắp xếp câu, ý sao cho lôgic, sau đó là viết thành đoạn văn hay. Song thực
tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 khó nhận thức được việc sắp xếp ý (cảmnhận của mình) theo trật tự đúng. Vốn sống của các em còn hạn chế, do đó khidiễn đạt học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Sự sắp xếp tổ chức câu trong đoạn cònrời rạc. Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và lôgic … Đôi khi các
em còn viết câu không rõ ý, từ lặp lại nhiều… Là những giáo viên đứng lớpnhiều năm, chúng tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thựchiện được mục tiêu đã đề ra? Chúng tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháprèn kỹ năng viết văn cho học sinh. Đây là lí do mà chúng tôi chọn và viết Sáng
kiến kinh nghiệm với nội dung: “ Một số giải pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn:
Kể về người thân cho học sinh lớp 2A1, 2A3, 2A6 trường Tiểu học Thị trấn”
Trang 10Giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn văn ngắn kể về người thân theo hướng
phát huy tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
2 Phạm vi triển khai thực hiện:
- Đối tượng: 89 học sinh. Trong đó (lớp 2A1: 32 học sinh; lớp 2A3: 32học sinh; 2A6: 24 học sinh)
Tỉnh Lai Châu
- Địa điểm: Trường Tiểu học Thị trấn Tam Đường - Huyện Tam Đường -3 Mô tả sáng kiến
a Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
* Thực trạng:
Khi chưa áp dụng sáng kiến, để đánh giá học sinh qua các biện pháp cũtrước đây chúng tôi đưa ra bài tập khảo sát và kết quả như sau:
Thời gian khảo sát số HS Tổng Kết quả Đầu năm
Kết quả khảo sát trên cho thấy kỹ năng viết văn của các em còn hạn chế
do một số nguyên nhân như:
- Đây là phân môn các em từ lớp 1 lên lớp 2 mới được tiếp cận nên cònnhiều bỡ ngỡ, khó khăn
- Đa số phụ huynh chỉ quan tâm xem các em về đọc, viết và làm toán mà
Trang 11- Giáo viên chưa chú trọng đến dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh
- Nhiều học sinh chưa nắm chắc cấu tạo và hiểu ý nghĩa của từ, vốn từngữ hạn chế nên viết lủng củng, câu văn rời rạc
- Đa số các em đều viết theo cảm nhận, nói thế nào viết y như vậy nêncâu, đoạn chưa có logic
* Các giải pháp cũ trước khi thực hiện sáng kiến
Trước khi thực hiện sáng kiến này, ở những năm học trước chúng tôi cũngtiến hành một số giải pháp như sau:
+ Giải pháp 1: Giúp học sinh tìm hiểu đề bài
Ưu điểm: Giúp học sinh tìm hiểu đề bài bằng hệ thống câu hỏi
Nhược điểm: Vẫn còn mang tính chất giảng giải nhiều, chưa phát huy tínhtích cực của học sinh
Nguyên nhân: Giáo viên quen với phương pháp dạy học truyền thống,chưa chú trọng đến phát triển năng lực của học sinh
+ Giải pháp 2: Luyện nói (kể)
Ưu điểm: Học sinh được thực hành nói miệng để kể về người thân
Nhược điểm: Học sinh chưa được nói nhiều và chưa biết cách nhận xétcâu từ cho bạn
Nguyên nhân: Học sinh chưa biết cách chia sẻ, tương tác với bạn
+ Giải pháp 3: Trình bày đoạn văn
Ưu điểm: Học sinh biết tự trình bày đoạn văn vào vở.
Nhược điểm: Đoạn văn viết chưa đạt yêu cầu, còn lủng củng, câu từ chưalogic, khô khan, đủ câu chưa đủ ý
Nguyên nhân: Vốn từ của một số học sinh dân tộc thiểu số còn hạn chế
Việc sắp xếp từ trong câu văn, câu văn trong đoạn văn chưa hợp lý
b Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
* Tính mới
Trang 12Học sinh tự phát hiện, phân tích và sữa lỗi giúp bạn cùng tiến bộ, đồng thời rèncho các em kĩ năng tự học, tự sáng tạo.
- Hình thành cho các em thói quen tự học bài cũ và chuẩn bị bài mới chu đáo
- Học sinh được tự học, được trao đổi với bạn về bài làm của mình và biếtnhận xét, sửa lỗi sai cho bạn
* Sự khác biệt của biện pháp mới so với biện pháp cũ.
Giải pháp 1: Giúp học sinh tìm hiểu
đề bài
- Từ hệ thống câu hỏi giúp học sinhhiểu được yêu cầu của đề bài
- Chưa phát huy được tính tích cực
tự giác của học sinh
Giải pháp 2: Luyện nói (kể)
- Học sinh được kể theo cảm nhậncủa mình nhưng còn rụt rè, lúngtúng
- Vốn từ ít, sử dụng câu từ chưa phùhợp và chưa có sự tương tác tích cựctrong lớp
Giải pháp 3: Trình bày đoạn văn
- Hướng dẫn học sinh viết theo yêucầu đề bài khoảng 2- 3 câu
- Đoạn văn ngắn và hầu hết chưa cóbiểu lộ được cảm xúc, câu văn cònkhô khan
Giải pháp 1: Rèn kĩ năng quan sát
- Để hoàn thành phiếu bài tập chuẩn bịcho tiết học mới, học sinh được quan sát
có chủ định về người thân mà mình định
kể trong tiết học tới sẽ giúp các em tự tinhơn khi tham gia tiết học
Giải pháp 2: Hình thành đoạn văn
- HS được quan sát kĩ, được luyện nói vềngười mình định kể với bạn, được sửa saidưới sự trợ giúp của bạn bè thầy cô giúpcác em viết được đoạn văn đủ ý, mạchlạc, giàu tình cảm
Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh nhận
xét và chữa bài
- Tổ chức cho học sinh nhận xét bài viếtcủa bạn trong nhóm và trước lớp
- Học sinh được trình bày trao đổi với bạn
về bài làm của mình, nêu được cảm nhậncủa em và sửa sai cho bạn nếu cần thiết
Từ đó nâng cao năng lực làm văn của các
em, rút kinh nghiệm bài của mình, học
Trang 13* Cách thức thực hiện:
Qua kinh nghiệm của bản thân chúng tôi nhận thấy để rèn kĩ năng viết văn
kể về người thân cho học sinh lớp 2A1, 2A3, 2A6 cần thực hiện các biện pháp sau:
Giải pháp 1: Rèn kĩ năng quan sát
* Điểm mới: Học sinh có kĩ năng quan sát, hoàn thành phiếu bài tập ở
………
……
Trang 14kể của bạn như: câu kể đủ ý chưa, nội dung kể có phù hợp không, theo bạn thìchưa phù hợp chỗ nào, sửa thế nào cho hợp lý,
Giáo viên cho học sinh thỏa sức kể về người thân của mình, các em sẽ rấthào hứng bởi nội dung rất gần gũi với các em và kiến thức của các em đã có sựchuẩn bị trước khi quan sát và chỉ cần dựa vào các từ trong phiếu để phát triểnthành câu văn hoàn chỉnh. Để giúp các em có những câu văn hay giàu cảm xúc thìngay lúc hoạt động nhóm này giáo viên đi từng nhóm hỗ trợ các em sửa lỗi sainhững câu nói cộc lốc, không đủ ý
Nếu gặp các tình huống trên các em còn lúng túng chưa biết sửa sai giúpbạn thế nào thì giáo viên hướng dẫn các em kịp thời để các em biết cách lựachọn từ ngữ hợp lý
Sau mỗi hoạt động nhóm cho các em cử đại diện nhóm (chọn trong nhóm
1 bạn kể hay nhất) để thi kể trước lớp nhằm khích lệ các em học tập. Giáo viênnhận xét hoạt động và tuyên dương các em kịp thời
Muốn viết văn tốt đầu tiên phải tạo cho các em hứng thú học, từ nhữnghình ảnh gần gũi quen thuộc nhất giúp các em phát triển thành câu văn, đoạnvăn. Là tiền đề cho các em trong hoạt động tiếp theo: viết đoạn văn
Trang 15Giải pháp 2: Hình thành đoạn văn
* Điểm mới: Học sinh có kĩ năng dùng từ đặt câu, viết được câu văn đúng
ngữ pháp, viết được đoạn văn theo yêu cầu.
* Cách thực hiện: Giúp học sinh biết trả lời câu hỏi theo gợi ý, lựa chọn từ
ngữ, dấu câu khi viết câu, từ các câu văn học sinh viết được thành đoạn văn; các embiết chia sẻ tương tác để câu văn, đoạn văn được hoàn chỉnh và hay hơn. Có thể họctập những câu văn hoặc những bài văn mẫu hay để vận dụng viết bài của mình.
+ Kể về những đặc điểm nổi bật (mái tóc, khuôn mặt, nước da, đôi mắt,hàm răng,… )
+ Kể về tính tình (ngoan, lễ phép, thật thà,… )+ Kể về hoạt động (làm việc gì,… )
+ Tình cảm của em đối với người em kể…
- Bước 2: Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng, cung cấp vàgợi ý để các em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thế cho từ cũ, có thể hướng dẫnmẫu các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh để bài văn sinh động hơn
* Ví dụ: HS 1: Tóc mẹ em đen. Da mẹ trắng
HS 2: Tớ bổ sung cho bạn như sau: Mái tóc của mẹ em đen, óngánh như gỗ mun. Nổi bật hơn là làn da trắng như trứng gà bóc của mẹ. …
- Bước 3: Hướng dẫn học sinh sắp xếp các câu trả lời đó theo một trật tự hợp
lý để hoàn chỉnh bài làm miệng. Cho một số học sinh trình bày miệng cả bài.
* Ví dụ: Người em yêu quý nhất là bố. Bố thường mặc những chiếc áophông trông rất trẻ trung. Mặc dù công việc bận rộn nhưng bố vẫn chăm lo chogia đình. Mái tóc của bố luôn được cắt gọn gàng. Bố em là người tận tụy trong